1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ứng dụng kỹ thuật kiểm tra không phá hủy mới đánh giá độ sâu cọc móng công trình hiện hữu

7 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đo địa chấn song song (PSM) là kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) hiệu quả đánh giá độ sâu móng công trình hiện hữu, hiện nay vẫn còn rất mới ở Việt Nam. Một số kết quả nghiên cứu và triển khai áp dụng kỹ thuật trên một số công trình thực tế được trình bày.

Trang 1

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT KIỂM TRA KHÔNG PHÁ HỦY MỚI ĐÁNH GIÁ ĐỘ SÂU

CỌC MÓNG CÔNG TRÌNH HIỆN HỮU

Đo địa chấn song song (PSM) là kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) hiệu quả đánh giá

độ sâu móng công trình hiện hữu, hiện nay vẫn còn rất mới ở Việt Nam Một số kết quả nghiên cứu

và triển khai áp dụng kỹ thuật trên một số công trình thực tế được trình bày Kết quả thu được cho thấy khả năng nhận diện loại vật liệu, chất lượng cọc móng Độ chính xác chiều dài cọc móng đánh giá khoảng ± 0,5 m Kỹ thuật tin cậy cao khi các cọc móng nằm trong môi trường đất đồng nhất và khoảng cách đặt ống đo với móng trong phạm vi 1,5 m Một kết hợp kỹ thuật đo địa chấn với các kỹ thuật hạt nhân đo địa tầng trong lỗ khoan (γ- γ) hoặc (γ - tự nhiên) có thể nâng cao độ tin cậy đánh giá độ sâu móng trong trường hợp địa tầng đất phức tạp Nghiên cứu có giá trị triển khai áp dụng tin cậy PSM - một kỹ thuật kiểm tra NDT mới cho điều tra khảo sát khôi phục, nâng cấp các công trình đang hiện hữu

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

Các kỹ thuật đánh giá không phá hủy

(NDE) đã được sử dụng để kiểm tra chất lượng

thi công nền móng trong các công trình xây dựng,

giao thông Gần đây, nhu cầu đánh giá hiện trạng

chất lượng móng các công trình hiện hữu (cũ)

tăng lên do nhu cầu sửa chữa, khôi phục và nâng

cấp cũng như kiểm định các công trình đang sử

dụng Trong một số trường hợp, nhu cầu nhận

diện độ sâu, loại vật liệu, chất lượng móng được

đặt ra do hồ sơ các công trình cũ đã bị thất lạc

Các kỹ thuật đánh giá cọc móng công trình hiện

hữu khác biệt với các phương pháp NDE thông

thường do có sự hiện diện của các công trình nằm

phía trên móng (không thể tiếp cận đầu móng)

Kỹ thuật đo địa chấn song song (Parallel Seismic

Test Method) có thể sử dụng phù hợp tốt cho các

công trình không thể tiếp cận đầu móng

Một chương trình thực nghiệm đã được

tiến hành để phân tích các khả năng của phương

pháp NDE đo địa chấn song song cho đánh giá

móng sâu trong điều kiện không để tiếp cận đầu

móng cọc Báo cáo trình bày một số kết quả thực

nghiệm đánh giá khả năng kỹ thuật với hệ thiết bị

đo địa chấn SPL-97 trong xác định chiều dài các

cọc móng, nhận diện loại vật liệu kết cấu móng,

lựa chọn khoảng cách sóng địa chấn truyền qua

đất đến đầu thu và vận tốc sóng nén ở các tầng đất

lân cận móng cọc kiểm tra

2 NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT KIỂM TRA

Nguyên lý kỹ thuật của phương pháp đo

địa chấn song song được mô tả trong hình 1 Để

thực hiện kiểm tra, một lỗ khoan lân cận móng và

sâu hơn một chút được chuẩn bị Phần công trình

liên kết với móng được tác động gõ búa để phát

sóng địa chấn, sóng sẽ truyền xuống cọc móng

qua đất đến đầu thu địa chấn đặt trong ống đo (lỗ

khoan) đầy nước ghi nhận Thời gian truyền sóng

được đo từ điểm tác động đến đầu thu Đầu đo

đầu tiên được đặt ở đầu trên ống đo và hạ xuống

từ từ theo bước dịch chuyển xác định sau mỗi lần

gõ phát sóng cho đến khi toàn bộ độ sâu ống đo được kiểm tra

Thực tế, sự biến thiên của vận tốc sóng nén trong các lớp đất và đường sóng truyền từ điểm phát đến đầu thu trong kiểm tra địa chấn song song rất phức tạp, phụ thuộc vào địa tầng

và tính chất của các lớp đất khác nhau Để làm rõ nguyên lý của kiểm tra địa chấn song song, các ảnh hưởng của đường truyền sóng ứng suất đến đầu tiên có thể được đơn giản hóa ở 02 trường hợp Thứ nhất, khi cọc nằm trong địa tầng đất đồng nhất có cùng vận tốc sóng nén không đổi thì thời gian truyền song địa chấn trong cọc trực tiếp đến đầu thu được mô tả trong hình 1 và có thể được biểu diễn theo phương trình (1):

Hình 1 Đường truyền sóng trực tiếp

p conc

i i

c v

d

a

+

(1)

Trong đó di là bước dịch chuyển của đầu thu; i - số bước dịch chuyển; a - khoảng cách theo phương thẳng đứng giữa điểm phát và thu sóng;

c - khoảng cách giữa móng và ống đo; vconc- vận tốc truyền trong bê tông móng; vp - vận tốc sóng nén của đất

Trang 3

Từ phương trình (1), đường biểu diễn thời

gian sóng đầu tiên đến theo độ sâu cọc liên tục

trong môi trường đất đồng nhất sẽ là đường tăng

tuyến tính theo độ sâu Nếu gặp khuyết tật hay

chân cọc, thời gian sóng đến sẽ tăng tương ứng,

biểu thị khuyết tật hay độ sâu cọc

Trường hợp thứ 2, xảy ra do sóng bị khúc

xạ như biểu diễn ở hình 2 Khi địa tầng đất phía

trên có vận tốc sóng nén nhỏ hơn ở tầng đất nằm

bên dưới, khi ấy thời gian sóng đến đầu tiên có

thể do sóng truyền từ cọc móng qua tầng đất bên

dưới và đi ngược lên tới đầu thu Sóng bị khúc xạ

tạo bởi sóng dọc tới ở góc tới hạn sẽ truyền dọc

theo mặt phân cách trong môi trường bên dưới

Sóng khúc xạ do nhiễu xạ dọc theo mặt phân cách

sẽ tạo một sóng hướng vào môi trường phía trên

Sóng này được gọi là sóng đầu và truyền với một

vận tốc theo hướng nghiêng một góc (900 - i c) so

với mặt phân cách, trong đó i c là góc tới hạn của

sóng tới Thời gian truyền t h của sóng khúc xạ

được xác định bởi phương trình (2)

Hình 2 Đường truyền sóng khúc xạ

) ](

tan cos

1 [

2 1

2

a d H

v i i

v

v c

v H

t

p

c c

p p

conc

(2) Trong đó vp1 - vận tốc sóng nén tầng đất

trên; vp2 - vận tốc sóng nén tầng đất dưới

Phương trình 1 và 2 cho thấy, một tầng đất cứng hơn ở gần mũi cọc thì một sóng có thời gian truyền ngắn nhất từ cọc tới đầu thu sẽ phụ thuộc vào vận tốc tương đối giữa các tầng đất

và khoảng cách giữa cọc vào ống đo Khả năng truyền sóng trực tiếp càng lớn nếu ống đo càng gần với móng Giải đoán thay đổi độ dốc trong biểu đồ đo khi có một lớp đất cứng gần đáy cọc cần phải được phân tích, thảo luận

Hiện trường và quy trình thực nghiệm

Một hiện trường thực nghiệm được lựa chọn phù hợp là các hệ cọc móng bê tông của một công trình dự án chung cư cao ốc Ba nhóm cọc ép D, E, N có chiều dài cọc đóng kiểm soát để tiến hành các thí nghiệm đo địa chấn song song

Ba lỗ khoan thí nghiệm có đường kính ~ 60 mm được đặt ống nhựa đường kính 60 mm Độ sâu khoan với nhóm cọc D là 18 m, nhóm E là 28 m

và nhóm N là 50 m Khoảng cách giữa các cọc với ống đo trong mỗi nhóm nằm trong khoảng từ 0,4 m đến 3,0 m (hình 3)

Hình 3 Sơ đồ hiện trường thí nghiệm

Trang 4

Thiết bị đo địa chấn

SPL-97-CEBTP-FRANCE được sử dụng cho các thí nghiệm đo

địa chấn song song Mỗi cọc trong từng nhóm

cọc được khảo sát Trong mỗi thí nghiệm đầu thu

được đặt ở đầu trên ống đo và hạ xuống từ từ với

bước dịch là 0,5 m sau mỗi lần gõ phát sóng cho

đến khi toàn bộ độ sâu đo được kiểm tra để tạo

được biểu đồ tín hiệu thu nhận

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Độ sâu móng

Thực hiện ghi nhận thời gian sóng đến đầu

tiên từ mỗi lần gõ phát sóng và biểu diễn thành

biểu đồ theo độ sâu cho tất cả các cọc Nhận diện

chân cọc là độ sâu trên biểu đồ nơi có sự thay đổi

độ dốc của đường biểu diễn thời gian sóng đến

đầu tiên Các kết quả thí nghiệm đo địa chấn song

song cho mỗi cọc của nhóm N được đưa ra trong

bảng 1 Sai khác trong các độ sâu móng đánh giá

nằm trong khoảng ± 0,5 m

Bảng 1 Các kết quả thí nghiệm đo địa

chấn song song nhóm cọc N

Chiều dài thực của

cọc (m) 19,50 9,50 11,00 21.00 10,50

Chiều dài đánh giá

theo PSM (m) 19,64 9,53 10,78 20,72 10,59

Sai khác (m) 0,14 0,03 0,22 0,28 0,09

Khoảng cách của các ống đo

Để xác định khoảng cách sóng nén truyền

qua đất lân cận cọc có thể thu nhận trước khi tín

hiệu bị suy giảm và biểu diễn rõ ràng khuynh

hướng của dữ liệu đo, các đường biểu diễn biên

độ suy giảm theo độ sâu của các cọc trong một

nhóm được vẽ trên cùng một biểu đồ (hình 4)

Hình 4 Suy giảm biên độ tín hiệu nhận được từ nhóm cọc D và E

Trên cơ sở tín hiệu suy giảm vượt khỏi khả năng có thể ghi nhận tin cậy, biến thiên của vận tốc sóng nén theo độ sâu và đường truyền sóng không ổn định, khoảng cách giữa ống đo và móng nên được lựa chọn trong phạm vi 1,5 m Ở khoảng cách ống đo lớn hơn, giải đoán biểu đồ thời gian đến đầu tiên trở nên khó khăn đặc biệt khi tình trạng đất bề mặt phức tạp

Vận tốc truyền sóng trong cọc và đất

Như một cách để nhận diện loại vật liệu móng kết cấu, vận tốc sóng truyền trong cọc móng có thể được đánh giá theo độ dốc của biểu

đồ biểu diễn thời gian dóng đến đầu tiên theo độ sâu trong đất lân cận cọc Các vận tốc truyền sóng được tính toán từ các kết quả của thí nghiệm đo địa chấn song song được mô tả trong bảng 2

Kết quả bảng 2 cho thấy các vận tốc sóng nén trong đất phù hợp với các số liệu tra cứu

về vận tốc của lớp đất bề mặt [1] Vận tốc sóng truyền trong các nhóm cọc cũng phù hợp với dải

Trang 5

vận tốc đặc trưng cho bê tông là 3,0 Km/s – 4,0

Km/s

Bảng 2 Các vận tốc tính toán từ kết quả

thí nghiệm đo dịa chấn song song

Vận tốc trong cọc trong đất Vận tốc Độ sâu cọc

Nhóm N

N1 2,331 Km/s 0,700 Km/s 19,64 m N2 3,700 Km/s 0,811 Km/s 9,53 m N3 2,325 Km/s 0,721 Km/s 10,78 m N4 2,272 Km/s 0,675 Km/s 20,72 m N5 3,807 Km/s 0,810 Km/s 10,59 m

Nhóm E

E1 3,491 Km/s 0,439 Km/s 18,49 m E2 3,360 Km/s 0,424 Km/s 15,86 m E3 3,362 Km/s 0,578 Km/s 17,46 m E4 3,284 Km/s 0,452 Km/s 16,32 m

4 BÀN LUẬN

Các kết quả từ chương trình thực nghiệm

cho phép đánh giá khả năng ứng dụng của kỹ

thuật địa chấn song song trong đánh giá chiều dài

cọc, nhận diện chất lượng cọc Các thực nghiệm

cho thấy thực tế sự biến thiên của vận tốc sóng

nén trong các lớp đất và đường sóng truyền từ

điểm phát đến đầu thu trong kiểm tra địa chấn

song song rất phức tạp, phụ thuộc vào địa tầng

và tính chất của các lớp đất khác nhau Một tầng

đất cứng hơn ở gần mũi cọc có thể dẫn đến sóng

qua tầng đất này có thời gian truyền ngắn hơn từ

cọc tới đầu thu so với đường truyền trực tiếp phụ

thuộc vào vận tốc tương đối giữa các tầng đất

và khoảng cách giữa cọc vào ống đo Khả năng

truyền sóng trực tiếp càng lớn nếu ống đo càng

gần với móng và thay đổi độ dốc trong biểu đồ đo

phụ thuộc lớp đất cứng nằm gần đáy cọc

Kết hợp kỹ thuật đo địa chấn song song

và kỹ thuật đo gamma địa tầng

Do sự thay đổi vận tốc sóng nén trong các

lớp đất, đường truyền sóng địa chấn từ điểm phát

tới đầu thu trong thí nghiệm đo địa chấn song

song có thể phức tạp gây khó khăn giải đoán

Tình trạng đất bề mặt và tính chất của các lớp đất

xung quang móng cọc khác nhau là nguyên nhân

chính đáy móng có thể bị nhận diện nhầm lẫn do thay đổi vận tốc sóng nén ở các biên giới giữa các tầng đất Các kỹ thuật đo gamma địa tầng có thể cung cấp nhanh chóng một số tính chất của các lớp đất và thông tin về địa tầng để cải thiện độ tin cậy trong giải đoán ở nơi địa tầng đất phức tạp Ảnh hưởng của lớp đất lên thời gian sóng truyền đến đầu tiên được xác nhận bằng đo gamma địa tầng được mô tả ở hình 5

Hình 5 Kết hợp kỹ thuật đo địa chấn và

đo gamma địa tầng trong giải đoán độ sâu móng

5 THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG THỰC TẾ

Từ các kết quả nghiên cứu làm chủ kỹ thuật và công nghệ, kỹ thuật địa chấn song song

đã được chấp nhận sử dụng thử nghiệm cho đánh giá độ sâu và hiện trạng chất lượng móng trong các điều tra khảo sát nâng cấp một số công trình

bị thất lạc không còn hồ sơ lưu trữ

Công trình sửa chữa và gia cường cầu Nhị Thiên Đường 1

Hai trụ T3.1 và T3.2 được lựa chọn thí nghiệm địa chấn song song Kết quả thí nghiệm

mô tả trong bảng 3 và trên hình 6

Bảng 3 Số liệu thí nghiệm các cọc móng

T3.1 T3.2

Khoảng cách ống đo (mm) 560 1200 Chiều dài cọc xác định (m) 9,20 9,16 Vận tốc sóng trong cọc (m/s) 4002 3583 Kiểu cọc Bê tông 40x40 cm Bê tông 40x40 cm

Trang 6

Hình 6 Kết quả biểu đồ đo địa chấn song

song trụ T3.1 và T3.2 Cầu Nhị Thiên Đường 1.

Công trình sửa chữa và nâng cấp Cầu

cảng Tân Cảng

05 cọc móng V2, V5, V7, V9, V10 được

lựa chọn thí nghiệm địa chấn song song Kết quả

thí nghiệm mô tả trong bảng 4 và hình 7

Bảng 4 Số liệu cọc móng cầu cảng Tân

Cảng

V10 V9 V7 V5 V2

Khoảng cách

ống đo (mm) 800 450 400 500 1100

Chiều dài cọc

xác định (m) 24,55 30,98 29,54 22,40 31,66

Vận tốc sóng

trong cọc (m/s) 4745 4711 4783 4707 4270

Kiểu cọc Thép

ống D600

Thép hình I

350

Thép ống D600

Thép ống D350

Thép hình I

350

Hình 7 Kết quả biểu đồ đo địa chấn song

song trụ V2 và V5 - Cầu cảng Tân Cảng

Công trình mở rộng Cầu chữ Y

02 cọc móng trụ cầu 6B và 7C được lựa

chọn thí nghiệm địa chấn song song Kết quả thí

nghiệm mô tả trong bảng 5 và trên hình 8

Bảng 5 Số liệu thí nghiệm cọc móng cầu chữ Y

Chiều dài cọc xác định (m) 25,04 25,83 Vận tốc sóng trong cọc (m/s) 3590 3967 Kiểu cọc Bê tông 40x40 cm Bê tông 40x40 cm

Hình 8 Kết quả biểu đồ đo địa chấn song song trụ 6B và 7C - Cầu chữ Y

6 KẾT LUẬN

Từ các kết quả thực nghiệm kỹ thuật đo địa chấn song song tại hiện trường thí nghiệm và trên công trình, một số kết luận có thể rút ra:

• Xác định đáy móng theo biểu đồ thời gian sóng đến đầu tiên là khá rõ ràng khi môi trường đất xung quanh móng có độ cứng đồng nhất cho phép đánh giá tin cậy chiều dài cọc, nhận diện chất lượng cọc

• Sử dụng các lỗ đo trong phạm vi khoảng 1,5 m so với móng, đáy các cọc móng có thể nhận diện từ biểu đồ thời gian sóng đến đầu tiên theo

độ sâu và ở độ sâu nơi biên độ sóng đến suy giảm đáng kể

• Đáy cọc móng thể bị giải đoán lầm lẫn

do sự thay đổi vận tốc sóng nén ở biên giới giữa các tầng đất Một đề nghị kết hợp kỹ thuật đo địa

Trang 7

chấn song song và kỹ thuật đo gamma địa tầng có

thể cải thiện độ tin cậy về các độ sâu móng giải

đoán ở nơi địa tầng đất phức tạp

• Vận tốc sóng biểu kiến của các cọc

móng được xác định theo độ dốc trong biểu đồ

biểu diễn thời gian sóng đến đầu tiên theo độ sâu

có thể sử dụng để nhận diện loại vật liệu và chất

lượng móng kết cấu

Các kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ khả

năng của kỹ thuật đo địa chấn song song có thể áp

dụng cho các điều kiện hiện trường phức tạp Các

khả năng và kết quả thu nhận được có giá trị để

áp dụng tin cậy một kỹ thuật NDT mới cho công

tác điều tra khảo sát khôi phục, nâng cấp các công

trình hiện hữu

Nguyễn Lê Sơn, Nguyễn Văn Thái Bình, Phạm Thị Lan Anh Trung tâm NDE (TP HCM)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Obrutsky L et al (2010), Eddy Current

Richard J Finno, Peter W Osborn, Final Reports

of project: “Non-destructive Evaluation of a Deep

Foundation Test”, Infrastructure Technology

Institute (ITI) at the Northwestern University

National Geotechnical Experimentation Site,

June 1997

2 M F Aouad L D Olson, Olson

Engineering, “Applications of NDT Methods

for the Determination of Unknown Bridge

Foundation Depths”, The Fourth International

Conference on Non-Destructive Testing in Civil

Engineering, NDT-CE ‘97”, Liverpool- UK, 8-11

APRIL 1997

3 Lanbo Liu and Guo Tieshuan, “Seismic

Non-Destructive Tests on Reinforced Concrete

Column of the Longtan Highway Bridge,

Guangxi, China”, Proceedings of Symposium

on the Application of Geophysics to Engineering

and Environmental of Problems, 67-74 1999

4 Nguyen Le Son et al, “Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật sóng âm kiểm tra không phá hủy đánh giá chất lượng và độ sâu móng, kết cấu các công trình xây dựng, giao thông”, Báo cáo tổng kết đề tài, mã số: VNLNTVN/CS/03-02-05, tháng 2/2004

Ngày đăng: 11/02/2020, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm