BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TRẦN THANH HOA PHÂN LẬP MỘT SỐ HỢP CHẤT TỪ DỊCH CHIẾT METHANOL CỦA CÀNH CÂY MÁU CHÓ ĐÁ KNEMA SAXATILIS DE WILDE VÀ ĐÁNH GIÁ T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THANH HOA
PHÂN LẬP MỘT SỐ HỢP CHẤT TỪ DỊCH CHIẾT METHANOL CỦA CÀNH CÂY MÁU CHÓ ĐÁ
KNEMA SAXATILIS DE WILDE VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC
DỤNG GÂY ĐỘC TẾ BÀO IN VITRO
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THANH HOA
PHÂN LẬP MỘT SỐ HỢP CHẤT TỪ DỊCH CHIẾT METHANOL CỦA CÀNH CÂY MÁU CHÓ ĐÁ
KNEMA SAXATILIS DE WILDE VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC
DỤNG GÂY ĐỘC TẾ BÀO IN VITRO
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LIỆU – DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN
MÃ SỐ: 8720206
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Lê Nguyễn Thành
2 TS Nguyễn Quỳnh Chi
HÀ NỘI 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài cho luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
tận tình của rất nhiều tập thể và các cá nhân
Xin cảm ơn “Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia” và GS.TS Nguyễn
Văn Hùng chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của
một số loài chi Knema và Horsfieldia (Myristicaceae)” mã số 104.01-2017.47, đã cung
cấp kinh phí để thực hiện đề tài này
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS
Lê Nguyễn Thành – Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam và TS Nguyễn Quỳnh Chi – Bộ môn Dược liệu, Đại học Dược Hà Nội đã giao
đề tài và quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Nguyễn Thành, ThS Trần Hữu Giáp cùng
với các cán bộ Trung tâm nghiên cứu và phát triển thuốc, Viện Hóa sinh biển – Viện
hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, hết lòng chỉ bảo tôi
trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học
Dược Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, mang lại cho tôi những kiến thức và
kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân đã luôn
ủng hộ, động viên tôi trong cuộc sống cũng như trong suốt quá trình hoàn thành luận
văn Do những hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên luận văn không tránh được
những thiếu sót nên rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô để tôi có thể bổ
sung, hoàn thiện kiến thức phục vụ cho các công việc sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên Trần Thanh Hoa
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Giới thiệu về họ Myristicaceae (Nhục đậu khấu) 3
1.2 Tổng quan về chi Knema (Máu chó) 3
1.2.1 Về vị trí phân loại của chi Knema 3
1.2.2 Về đặc điểm thực vật và phân bố của chi Knema (Máu chó) 4
1.2.3 Về thành phần hóa học của chi Knema 5
1.2.4 Về hoạt tính sinh học của chi Knema 15
1.3 Giới thiệu về cây Máu chó đá (Knema saxatilis) 19
1.3.1 Về vị trí phân loại của cây Máu chó đá (Knema saxatilis) 19
1.3.2 Về đặc điểm chung của cây Máu chó đá (Knema saxatilis) 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương tiện nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp chiết xuất và phân lập 22
2.3.2 Phương pháp đánh giá tác dụng gây độc tế bào in vitro 24
Chương 3: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 26
3.1 Chiết xuất, phân lập và nhận dạng cấu trúc các hợp chất phân lập 26
3.1.1 Chiết xuất 26
Trang 53.1.3 Kiểm tra độ tinh khiết của hợp chất phân lập 29
3.1.4 Xác định cấu trúc các hợp chất phân lập 32
3.2 Đánh giá tác dụng gây độc tế bào in vitro của các hợp chất phân lập 42
Chương 4: BÀN LUẬN 44
4.1 Về thành phần hóa học 44
4.2 Về tác dụng sinh học 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 59
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CÁC TỪ
1H-NMR Proton Nuclear Magnetic
alveolar basal epithelial cell line Dòng tế bào ung thƣ phổi ATCC The American Type Culture
DMSO Dimethyl sulfoxide Dimethyl sulfoxit
DPPH Diphenyl picril hydrazilhydrate Diphenyl picril hydrazilhydrat
ED50 50% effective dose Liều có hiệu quả 50%
ESI-MS Electrospray Lonization- Mass
Trang 7HT-29 Human colon cancer cell line Dòng tế bào ung thƣ đại tràng HO-8910 Cellosaurus cell line Dòng tế bào ung thƣ buồng trứng
KB Epidermoid carcinoma of cavity Dòng tế bào ung thƣ biểu mô
IC50 50% inhibitory concentration Nồng độ ức chế ở 50%
MCF-7 Human breast carcinoma Dòng tế bào ung thƣ vú
MIC Minimal inhibitory concentration Nồng độ ức chế tối thiểu
3-[4,5-dimetylthiazol-2-yl]-2,5-diphenyltetrazol brom
MDA-MB-231 Breast cancer cell line Dòng tế bào ung thƣ vú
NCI-H187 Small cell lung
carcinoma
Dòng tế bào ung thƣ phổi tế bào nhỏ
OVCAR-3 Ovarian cancer cell line Dòng tế bào ung thƣ buồng trứng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hoạt tính các chất phân lập từ Knema glomerata
Bảng 1.2 Hoạt tính ức chế acetylcholinesterase của các hợp chất từ Knema
Bảng 3.4 Số liệu phổ của hợp chất CDM 10 và tài liệu tham khảo [10], [16]
Bảng 3.5 Số liệu phổ của hợp chất CDM 4 và tài liệu tham khảo [18]
Bảng 3.6 Số liệu phổ của hợp chất CDM 6 và tài liệu tham khảo [39]
Bảng 3.7 Số liệu phổ của hợp chất CDM 7 và tài liệu tham khảo
Bảng 3.8 Số liệu phổ của hợp chất CDM 13 và tài liệu tham khảo [34]
Bảng 3.9 Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào in vitro với hai dòng tế bào ung
thư người của năm hợp chất phân lập
Hình 1.1 Các hợp chất flavonoid phân lập được từ chi Knema
Hình 1.2 Các hợp chất alk(en)yl phenol phân lập được từ chi Knema
Hình 1.3 Các hợp chất acid anacardic phân lập được từ chi Knema
Hình 1.4 Các hợp chất lignan phân lập được từ chi Knema
Hình 1.5 Các hợp chất terpen phân lập được từ chi Knema
Trang 9Hình 1.6 Các hợp chất phân lập từ loài Knema pachycarpa tại Việt Nam
Hình 1.7 Một số hình ảnh về cây Máu chó đá (Knema saxatilis)
Hình 3.1 Sắc ký đồ của chất CDM 10, CDM 13 sau khi hiện màu bằng thuốc thử cerisulfat
Hình 3.2 Sắc ký đồ của chất CDM 4 sau khi hiện màu bằng thuốc thử cerisulfat
Hình 3.3 Sắc ký đồ của các chất CDM 6, CDM 7 sau khi hiện màu bằng thuốc thử cerisulfat
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ chiết các phân đoạn từ cành cây Máu chó đá
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cắn chiết methanol
26
28
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nguồn tài nguyên cây cỏ là cơ sở quan trọng để sàng lọc và tìm ra thuốc mới Nhiều hoạt chất tách chiết từ dược liệu đã được nghiên cứu xác định cấu trúc và tác dụng dược lý Kết hợp với công nghệ bào chế hiện đại nhiều dược phẩm
mang giá trị cao đã được ra đời như viên nang cao Bạch quả (Ginkgo biloba), viên
chứa dịch chiết tỏi có hoạt chất chính là allicin (Allimax), viên nén cao Cúc gai dài
(Cardus marianus) chứa hoạt chất chính là silymarin (Cigenol) Bên cạnh đó, nhiều
hoạt chất từ dược liệu được tinh chế đạt đến độ tinh khiết có thể sử dụng làm nguyên
liệu bào chế thuốc tiêm như paclitaxel từ loài Taxus revifolia (Taxol, Mĩ); vinblastin từ loài Vinca rosea (Velban, Pháp), artemisinin từ loài Artemisia annua (tạo dẫn chất
artemether, dạng tiêm bắp) Tất cả những điều trên đã nói lên tiềm năng to lớn chưa được khai phá hết của nguồn tài nguyên dược liệu, đặc biệt với một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho thảm thực vật đa dạng phát triển như Việt Nam
Chi Máu chó (Knema) thuộc họ Nhục đầu khấu Myristicaceae là loài cây xanh
quanh năm có ở các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Việt Nam [53] Ở Việt Nam đã tìm thấy khoảng 13 loài thuộc chi Máu chó phân bố ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ, Nam Bộ Tên gọi Máu chó xuất phát từ đặc điểm chung của các loài này là thân
cây có nhựa tiết ra màu đỏ Nhiều loài thuộc chi Knema được sử dụng trong y học cổ
truyền làm thuốc chữa ghẻ, mụn nhọt Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, chi
Knema có nhiều hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, kháng vi-rút, kháng lao, chống
ung thư, chống viêm, chống oxy hóa, độc tế bào và tác dụng ức chế acetylcholinesterase [42]
Cây Máu chó đá có tên khoa học Knema saxatilis de Wilde là một loài đặc hữu
của Việt Nam phân bố ở các tỉnh miền Trung và vẫn chưa được nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như tác dụng sinh học [53] Quá trình sàng lọc cho thấy dịch chiết của cây có tác dụng ức chế 100% sự phát triển của dòng tế bào ung thư tuyến thượng
Trang 11dịch chiết methanol của cành cây Máu chó đá (Knema saxatilis de Wilde) và đánh giá tác dụng gây độc tế bào in vitro” đƣợc thực hiện, với mục tiêu:
1 Phân lập 3-5 hợp chất từ dịch chiết methanol của cành cây Máu chó đá và xác định cấu trúc hóa học các chất phân lập đƣợc
2 Đánh giá tác dụng gây độc tế bào in vitro của các hợp chất phân lập đƣợc
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về họ Myristicaceae (Nhục đậu khấu)
Họ Myristicaceae (Nhục đậu khấu) là một họ thực vật có hoa nằm trong bộ Magnoliidae Họ này gồm 20 chi và gần 500 loài phân bố ở khắp các vùng nhiệt đới
[20] Trong đó các chi được biết đến nhiều nhất là Myristica, Horsfieldia,
Gymnacranthera, Knema Các loài thuộc họ Myristicaceae thường sống chủ yếu trong
các rừng mưa nhiệt đới
Về đặc điểm thực vật của họ Myristicaceae: Hầu hết những loài thuộc họ Myristicaceae là cây thân bụi hoặc thân gỗ Vỏ cây có màu nâu hoặc đỏ Lá mọc đơn
lẻ, không xẻ thùy, so le, có mùi thơm, màu xanh đen, gân hình lông chim, không có lá mầm Hoa nhỏ, đơn tính, mọc ở nách thành chùm, lá bắc rụng sớm và phát ra mùi hăng Thùy 3-5, nhị 2-40, bao phấn có 2 ngăn, nhụy hoa không cuống có 1 ngăn, 1 noãn ngược, vòi nhụy ngắn hoặc không có Quả có lông, vỏ dày nhiều nhựa và chứa một hạt Quả thường lớn, khi chín nứt theo chiều dọc một cách tự nhiên thành 2 mảnh [20]
Về ứng dụng của các cây thuộc họ Myristicaceae: Từ xa xưa, con người trên khắp thế giới đã biết sử dụng các loài cây thuộc họ Myristicaceae làm thức ăn, hương
liệu gia vị và đặc biệt là làm thuốc chữa bệnh Ví dụ như loài Myristica fragrans (Nhục
đậu khấu) là một vị thuốc dùng để kích thích tiêu hóa, dùng trong các trường hợp kém
ăn, sốt rét Loài Knema corticosa, Horsfieldia amygdalina có hạt được dùng làm thuốc
chữa bệnh ghẻ [1]
1.2 Tổng quan về chi Knema (Máu chó)
1.2.1 Về vị trí phân loại của chi Knema
Chi Knema thuộc họ Nhục đậu khấu (Myristicaceae), bộ Ngọc lan (Magnoliales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
Trang 13Theo khung phân loại ngành Ngọc Lan, vị trí phân loại của chi Knema được thể
Họ Nhục đậu khấu: Myristicaceae
Chi Máu chó: Knema
1.2.2 Về đặc điểm thực vật và phân bố của chi Knema (Máu chó)
Bên cạnh các chi Myristica, Horsfieldia, Gymnacranthera thì còn có chi Knema
(Máu chó) cũng là một trong bốn chi thuộc họ Myristicaceae ở Châu Á [53] Chi
Knema có khoảng 85 loài khác nhau [20] Ở Việt Nam chi Knema gồm 13 loài:
Knema erratica Sincl (Máu chó lưu linh)
Knema globularia Warb (Máu chó cầu)
Knema elegans Warb (Máu chó thanh)
Knema lenta Warb (Máu chó thấu kính)
Knema mixta de Wilde (Máu chó trộn)
Knema pachycarpa de Wilde (Máu chó trái dày)
Knema petelotii Merr (Máu chó Petelot)
Knema pierrei Warb (Máu chó Pierre)
Knema poilanei de Wilde (Máu chó Poilane)
Knema saxatilis de Wilde (Máu chó đá)
Knema sessiliflora de Wilde (Máu chó hoa không cọng)
Knema squamulosa de Wilde (Máu chó vảy nhỏ)
Knema tonkinensis de Wilde (Máu chó Bắc bộ) [4]
Mô tả thực vật: Cây to có thể cao tới hơn 10 m Cành non có lông tơ màu hung
đỏ Lá mọc so le, phiến lá mỏng, mặt lá thường có phấn và lông tơ, gân lông chim
Trang 14Cụm hoa ngắn, không nhánh hoặc chia hai nhánh, hoa mọc thành chùm dày hoặc tán,
lá bắc rụng sớm Hoa khác gốc, hoa đực thường khá to, hình chuông, cuống dài Quả
có lớp lông măng dày, khi chín nứt thành hai mảnh, có một hạt, bao bởi lớp áo hạt còn nguyên hoặc bị rách [20]
Phân bố: Chi Knema được tìm thấy ở rừng nhiệt đới các nước Đông Nam Á
(Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Singapo), Trung Quốc, Ấn Độ [53] Ở nước ta, chi Máu chó mọc hoang ở khắp miền rừng núi các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam [4]
Thu hái và chế biến: Thời điểm thu hoạch hạt vào tháng 9-10 Người ta dùng nguyên cả hạt máu chó hay ép lấy dầu dùng [1]
Công dụng: Hạt máu chó được dùng làm thuốc chữa ghẻ Trước đây người làng Tiên Hội (Bắc Ninh) đã dùng hạt để sản xuất một loại thuốc chữa ghẻ nổi tiếng gọi là thuốc ghẻ Tiên Hội [1]
1.2.3 Về thành phần hóa học của chi Knema
1.2.3.1 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Knema trên thế giới
Nghiên cứu về thành phần hóa học chi Knema cho thấy có sự đa dạng hợp chất
tự nhiên như acetophenon, các dẫn chất terpen, lignan, flavonoid, alkyl/acyl resorcinol
và các dẫn xuất phenylalkylphenol [42]
Hợp chất flavonoid
Flavonoid là một loại hợp chất được tìm thấy nhiều trong tự nhiên, có nhiều hoạt tính sinh học: chống vi-rút/vi khuẩn, chống viêm, tim mạch, chống đái tháo đường, chống ung thư, chống lão hóa, từ lâu đã nhận được rất nhiều sự chú ý nghiên cứu [23]
Năm 1993, từ thân cây của loài Knema austrosiamensis, Gonzalez và cộng sự đã
phân lập được hợp chất (±)-7,4’-dihydroxy-3’-methoxyflavan (1) [43] (Hình 1.1)
Trang 15Năm 1994, các hợp chất nhóm flavonoid như formononetin (2),
8-O-methylretusin (3), biochanin A (6) từ vỏ thân cây Knema glomerata đã được phân lập
[38] (Hình 1.1)
Năm 2005, các nhà khoa học đã phân lập được hai flavan từ cây Knema elegans,
đó là (+)-myristinin A (4) và D (5) [11] (Hình 1.1)
Năm 2009, nhóm tác giả người Thái Lan và Nhật Bản đã công bố 10 hợp chất từ
loài Knema glauca, trong đó một hợp chất flavan myristinin D (5) Ngoài ra từ lá và vỏ
của cây, còn phân lập được hợp chất myristinin A (4) và methoxyflavan (1) [27] (Hình 1.1)
(±)-7,4'-dihydroxy-3'-Các nhà khoa học này cũng phân lập từ vỏ cây Knema furfuracea được một
isoflavon đó là biochanin A (6) [28] (Hình 1.1)
Năm 2000, từ loài Knema globularia, Wenly và cộng sự đã phân lập được hai
hợp chất kaempferol-3-O-β-D-glucopyranosid (7), quercetin-3-O-β-D-glucopyranosid (8) [35] Hai năm sau đó, họ phân lập được (+)-taxifolin (9), luteolin (10), catechin (11), sulfuretin (12) [21] (Hình 1.1)
Năm 2015, từ loài Knema laurina, Ismail và cộng sự phân lập được năm hợp
chất flavonoid: (±)-7,4'-dihydroxy-3'-methoxyflavan (1), luteolin (10), catechin (11), (13), (14) [17] Mười năm trước, Gonzalez và cộng sự đã phân lập được 7-hydroxy- 3′,4′-methylenedioxyflavan (15) [15] (Hình 1.1)
Trang 17 Hợp chất alk(en)yl phenol
Năm 1990, nhóm nghiên cứu của Gonzalez công bố thành phần hóa học có
trong vỏ thân ba loài Knema thu thập tại Thái Lan: Knema elegans, Knema furfuraceae
và Knema tunuinervia, trong đó có ba cardanol (16-18), một acetophenon (19) [41]
[47] (Hình 1.2)
Năm 1993, Zahir và cộng sự đã phân lập được hai hợp chất phenylacylphenol
mới từ lá cây Máu chó lá to Knema furfuracea đó là knerachelin A (20) và B (21) [37]
(Hình 1.2)
Năm 1994, từ vỏ thân cây Knema glomerata đã phân lập được một hợp chất
phenylalkylphenol mới: kneglomeratanol (22), hai hợp chất acetophenon mới: kneglomeratanon A (23) và B (24), cùng với năm hợp chất đã biết: 5- pentadecylresorcinol (25); 3-(10'-phenyldecy1)-phenol (26); 5-(10'-phenyldecyl)
resorcinol (27); 5-(12'-phenyldodecyl)-resorcinol (28);
2,4-dihydroxy-6-(10'-phenyldecyl) acetophenon (19) [38] (Hình 1.2)
Năm 2000, hai hợp chất phenol từ Knema hookeriana đã được phân lập bởi
Alen và cộng sự: undecylphenol (29) và 3-(8z-tridecenyl)-phenol (30) [7] (Hình 1.2)
Năm 2009, nhóm tác giả người Thái Lan và Nhật Bản đã công bố các hợp chất
từ loài Knema glauca là malabaricon A (31), dodecanoylphloroglucinol (32) và (33)
[27] (Hình 1.2)
Năm 2011, từ vỏ cành của Knema laurina, một nhóm khoa học Malaysia đã
phân lập được dẫn xuất cardanol: 3-pentadec-10-(Z)-enylphenol (34) và (Z)-enylphenol (35) [6] (Hình 1.2)
Trang 19Năm 2015, từ lá của cây Knema stellata, Ragasa và cộng sự đã phân lập được
các hợp chất: (heptadec-8-enyl) phenol (36), (pentadec-8-enyl) phenol (37) và pentadecyl phenol (38) [48] (Hình 1.2)
Năm 2016, nhóm nghiên cứu của Sriphana đã công bố các hợp chất từ rễ của
Knema globularia, bao gồm hai diaryloctan mới, acid kneglobularic A (39) và B (40);
một dẫn xuất acetophenon mới, kneglobularon A (41) và các hợp chất đã biết: 3- phenyldodecyl)-phenol (16), 3-undecylphenol (29) và kneglomeratanon A (23) [49]
(12-(Hình 1.2)
Hợp chất acid anacardic
Năm 1980, các nhà khoa học công bố hai dãy chất acid alk(en)yl anacardic (44,
45, 46-50) và acid phenylalkyl anacardic (42, 43) được phân lập từ hạt của cây máu
chó Knema elegans [32] (Hình 1.3)
Knema elegans, Knema furfuraceae và Knema tunuinervia là 3 loài Knema được
Gonzalez và cộng sự thu thập ở Thái Lan, qua quá trình nghiên cứu họ đã công bố thành phần hóa học có trong vỏ thân của ba loài này trong đó có một acid anacardic
(42) [49-50] (Hình 1.3)
Từ vỏ cây Knema furfuracea, nhóm tác giả người Thái Lan và Nhật Bản đã
phân lập được acid 2-hydroxy-6-(12-phenyldodecen-8′-Z-yl)-benzoic (51) [28] (Hình
1.3)
Năm 2011, một nhóm tác giả người Malaysia đã phân lập được các acid
anacardic từ vỏ cành của Knema laurina (49, 50, 52) [6] (Hình 1.3)
Ragasa và cộng sự đã phân lập được hai acid anacardic từ lá cây Knema stellata
là acid 2-[(Z)-heptadec-8-enyl]-6-hydroxybenzoic (53) và acid enyl]-6-hydroxybenzoic (54) [48] (Hình 1.3)
Năm 2016, từ loài cây Knema hookeriana, các nhà khoa học đã phân lập được
ba dẫn xuất của acid anacardic (55 - 57) [14] (Hình 1.3)
Trang 20Hình 1.3 Các hợp chất acid anacardic phân lập đƣợc từ chi Knema
Trang 21 Hợp chất lignan
Năm 1978, Joshi Viswanathan và cộng sự đã phân lập đƣợc một hợp chất lignan
mới từ cành cây Knema attenuata là attenuol (58) Hợp chất này có cấu hình tuyệt đối
là 2S, 3R-dimethyl-1S-(p-hydroxyphenyl)-6,7-methylenedioxytetralin [44] (Hình 1.4)
Vào năm 2009, Rangkaew và cộng sự đã công bố đƣợc hai hợp chất lignan từ
loài Knema glauca là sesamin (59) và asarinin (60) [27] (Hình 1.4)
Máu chó lá to (Knema furfuracea) là loài cây đƣợc tìm ở bán đảo Malaysia,
Singapo và Thái Lan Từ lá cây loài này, một nhóm tác giả Thái Lan và Nhật Bản đã
phân lập đƣợc furfuracin (61) và (+)-trans-1,2-dihydrodehydroguaiaretic (62) [28]
(Hình 1.4)
Hình 1.4 Các hợp chất lignan phân lập đƣợc từ chi Knema
Trang 22 Hợp chất terpen
Từ quả của loài Knema glauca, Rangkaew và cộng sự đã phân lập đƣợc một
chất acid acyclic diterpen mới đƣợc đặt tên là acid glaucaic (63) [27] (Hình 1.5)
Gần đây, một hợp chất sesquiterpen mới là 3β, 6β, 8α,
10β-tetramethylwiddran-2(3)-en-10α-ol (64) đƣợc phân lập từ dịch chiết vỏ thân Knema patentinervia [50]
(Hình 1.5)
Hình 1.5 Các hợp chất terpen phân lập đƣợc từ chi Knema
1.2.3.2 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Knema tại Việt Nam
Năm 2017, nhóm nghiên cứu của TS Lê Nguyễn Thành đã tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học cây máu chó trái dày Từ quả của cây đã phân lập đƣợc các
hợp chất lignans gồm pinoresinol (65), epipinoresinol (66), piperitol (67), pluviatilol (68) [51] (Hình 1.6)
Từ vỏ cây máu chó trái dày (Knema pachycarpa de Wilde) đã phân lập và xác
định cấu trúc của ba hợp chất: 7-hydroxy-3',4'-methylendioxidflavan (69), 7,4'-dihydroxy-3'-methoxyflavan (1) và acid lignoceric (71) Đây là công bố đầu tiên
(2S)-về các hợp chất phân lập từ vỏ cây máu chó trái dày Hai hợp chất
(2S)-7-hydroxy-3',4'-methylendioxidflavan (69) và acid lignoceric (71) lần đầu tiên đƣợc phân lập từ
chi Máu chó (Knema) [5] (Hình 1.6)
Trang 23Hình 1.6 Các hợp chất phân lập từ loài Knema pachycarpa tại Việt Nam
Trang 241.2.4 Về hoạt tính sinh học của chi Knema
Qua các nghiên cứu trên thế giới về chi Knema cho thấy các loài thuộc chi này
có nhiều hoạt tính sinh học phong phú như chống ung thư, kháng khuẩn, kháng lao, chống oxy hóa, ức chế enzym acetylcholinesterase, chống tiểu đường [42]
Hoạt tính chống ung thư
Trong các hợp chất đã được nghiên cứu, hợp chất có hoạt tính chống ung thư chủ yếu là các hợp chất alkyl/alken phenol và flavonoid
Furfuracin (61) được phân lập từ lá cây của loài Knema furfuracea, thể hiện khả
năng gây độc tế bào trên ba dòng tế bào ung thư được thử nghiệm: tế bào ung thư biểu
mô KB, tế bào ung thư vú MCF-7 và ung thư phổi tế bào nhỏ NCI-H187 Từ vỏ cây
Knema furfuracea, hợp chất acid (+)-trans-1,2-dihydrodehydroguaiaretic thể hiện hoạt
tính gây độc trên dòng tế bào KB (62) (IC50 17,7 μg/mL); hợp chất biochanin A (6) thể
hiện hoạt tính diệt tế bào trên dòng NCI-H187 (IC50 19,0 μg/mL) [28]
Các hợp chất có trong rễ của Knema globularia được công bố năm 2016: acid
kneglobularic A (39); acid kneglobularic B (40); kneglobularon A (41) và các hợp chất (16, 29, 23) có khả năng gây độc với tế bào NCI-H187 với IC50 từ 8,23 tới 13,07 μg/mL [49]
Kneglomeratanol (22), kneglomeratanon A (23) và B (24), cùng với các hợp chất: 5-pentadecylresorcinol (25); 3-(10'-phenyldecy1) phenol (26); 5-(10'- phenyldecyl) resorcinol (27); 5-(12'-phenyldodecyl) resorcinol (28); formononetin (2),
8-O-methylretusin (3); biochanin A (6), 2,4-dihydroxy-6-(10'-phenyldecyl)
acetophenon (19), đã được phân lập từ vỏ thân Knema glomerata, thể hiện hoạt tính
gây độc tế bào trung bình đối với ba dòng tế bào ung thư trên người (A-549, MCF-7, HT-29) [38]
Trang 25Bảng 1.1 Hoạt tính các chất phân lập từ Knema glomerata [38]
Nghiên cứu cho thấy dịch chiết chloroform của áo hạt và dịch chiết hexan của
nhân hạt Knema attenuata có tác dụng kháng khuẩn cao nhất với dòng vi khuẩn
Staphylococus aureus với giá trị MIC (mg/ml) tương ứng là 12,563 và 12,541; có tác
dụng chống nấm trung bình với loài Candida albicans [52]
Knerachelin A (20) và B (21) từ lá của cây Knema furfuraceae có tác dụng
kháng khuẩn Staphylococcus aureus và Streptococcus pneumoniae với giá trị MIC
tương ứng là 8,0 và 4,0 μg/mL [37]
Hoạt tính kháng lao
Các hợp chất acylphenol (31, 32, 33) phân lập từ loài Knema glauca thể hiện
hoạt tính kháng lao với dòng Mycobacterium tuberculosis với giá trị MIC lần lượt là
25, 50 và 100 µg/mL [27]
Trang 26 Hoạt tính chống oxy hóa
Dịch chiết chloroform từ quả của loài Knema attenuata có khả năng quét gốc tự
do diphenyl picril hydrazilhydrat (DPPH) và H2O2 Ngoài ra dịch chiết này cũng cho thấy nồng độ tối đa của các phenolic và flavonoid lần lượt là 96,1 mg/g và 64,2 mg/g [52]
Dịch chiết methanol của Knema laurina cũng thể hiện hoạt tính chống oxy hóa,
cho giá trị peroxit là 158,0 peroxid/1 kg mẫu
và tự điều chỉnh qua liên kết π-π, liên kết hydro và tương tác kỵ nước [6]
Bảng 1.2 Hoạt tính ức chế acetylcholinesterase của các hợp chất từ
Ở Việt Nam, qua quá trình sàng lọc hoạt tính sinh học của các loài thực vật, một
số loài bản địa chi Knema thể hiện hoạt tính chống ung thư và ức chế sự hoạt động của
enzym acetylcholinesterase liên quan đến bệnh alzheimer Các dịch chiết methanol
Trang 27Wilde) có tác dụng ức chế 100% ở nồng độ 10 µg/mL sự hoạt động của enzym acetylcholinesterase Các dịch chiết này cũng có tác dụng ức chế sự phát triển của dòng
tế bào ung thư biểu mô KB với khả năng ức chế 40-60% ở nồng độ 1 µg/mL
Hoạt tính khác
Hợp chất acylphenol (32) thể hiện hoạt tính kháng vi-rút mạnh trên vi-rút herpes
simplex loại 1 (HSV1) có giá trị IC50 là 3,5 µg/ml [28]
Hợp chất malabaricon A (31) cũng thể hiện khả năng chống sốt rét đối với ký
sinh trùng Plasmodium falciparum với giá trị IC50 là 2,78 µg/ml [27]
Dịch chiết dichlomethan từ lá của loài Knema glauca có tác dụng giảm đường
huyết sau ăn do ức chế enzym α-amylase và α-glucosidase [45]
Trang 281.3 Giới thiệu về cây Máu chó đá (Knema saxatilis)
1.3.1 Về vị trí phân loại của cây Máu chó đá (Knema saxatilis)
Cây Máu chó đá có tên khoa học Knema saxatilis de Wilde thuộc họ Nhục đậu khấu (Myristicaceae), bộ Ngọc lan (Magnoliales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida),
ngành Ngọc lan (magnoliophyta), là một cây đặc hữu của Việt Nam [53]
Giới thực vật: Plantae
Ngành Ngọc lan: Magnoliophyta
Lớp Ngọc lan: Magnoliopsida
Bộ Ngọc lan: Magnoliales
Họ Nhục đậu khấu: Myristicaceae
Chi Máu chó: Knema Loài Máu chó đá: Knema saxatilis
1.3.2 Về đặc điểm chung của cây Máu chó đá (Knema saxatilis)
Hình 1.7 Một số hình ảnh về cây Máu chó đá (Knema saxatilis)
Mô tả thực vật: Cây đại mộc 5-15 m, gỗ vàng vàng, nhiều nhánh có lông sát, dày, màu socola, vỏ nhăn dọc Lá tròn dài, to 10 – 22 x 2 – 4 cm, hai đầu tà, dai, mặt trên nâu lục, mặt dưới cà phê sữa mốc mốc, gân nâu, 15 -22 cặp, cuống 1,2-1,5 cm Hoa đực có cọng 5 – 8 mm, đĩa tiểu nhụy mang 9 – 10 bao phấn Trái màu nâu dợt, xoan, dài vào 3 cm, có lông mịn sát, trên cọng 1 – 4 mm [4]
Phân bố: Rừng nhiệt đới ở độ cao 900 – 1500 m: Hải Vân, Bà Nà, Quảng Nam
Trang 29Hiện nay chƣa có một nghiên cứu nào công bố về thành phần hóa học của cành
cây Máu chó đá (Knema saxatilis)
Về hoạt tính sinh học, dịch chiết từ cây Máu chó đá (Knema saxatilis) có tác
dụng ức chế 100% sự phát triển của dòng tế bào ung thƣ tuyến thƣợng thận SW13 ở nồng độ 5 µg/ml Kết quả này từ một sàng lọc trong đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa
học và hoạt tính sinh học của một số loài chi Knema và Horsfieldia (Myristicaceae)”
của Viện hóa sinh biển hợp tác với Pháp [3]
Trang 30Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cành cây máu chó đá được thu hái tại Hướng Hóa - Quảng Trị vào tháng 7/2006 Mẫu cây đã được TS Nguyễn Quốc Bình (Bảo tàng thiên nhiên Việt nam)
giám định tên khoa học là Knema saxatilis de Wilde, họ Nhục đậu khấu
(Myristicaceae) Mẫu tiêu bản (VN-1672) được lưu giữ tại Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam Cành cây sau khi thu hái được chặt nhỏ, phơi khô và xay nhỏ
2.2 Phương tiện nghiên cứu
Trang thiết bị
Chiết xuất và phân lập:
- Dụng cụ thủy tinh: bình chiết, bình nón, cốc thủy tinh các loại, phễu, ống
nghiệm, pipet định mức, ống đong, bình cầu, cột sắc ký, ống mao quản, bình chạy sắc ký bản mỏng chuyên dụng
- Bản mỏng silica gel GF254 (Merck) tráng sẵn
- Bột silica gel pha thường cỡ hạt 40 - 63μm
- Gel Sephadex LH-20
- Cân kỹ thuật điện tử Shimadzu (Nhật Bản)
- Bơm hút chân không DIVAC1.21 (Mỹ)
- Máy cất quay Buchi R – 210 (Thụy Sỹ)
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR,13C-NMR, DEPT) được đo trên máy Bruker Avance 500 MHz hãng Sigma-Aldrich
- Phổ khối lượng (ESI-MS) được đo trên hệ thống sắc kí lỏng ghép khối phổ
LC/MS Agilent 1260, sử dụng phương pháp phun mù điện tử
Thử hoạt tính gây độc tế bào:
- Phiến 96 giếng (SPL Life Sciences, Hàn Quốc)
Trang 31- Micropipet, pipet đa kênh, đầu tip pipet (Isolab, Đức)
- Buồng đếm tế bào (Fisher Hoa Kỳ)
- Tủ ủ CO2 (MMM Group, Germany)
- Kính hiển vi ngược (Zeizz), máy quang phổ (Genios, Tecan)
- Máy đọc ELISA (ELISA Bio-Rad machine, Mỹ)
Dung môi, hóa chất
Chiết xuất và phân lập:
Dung môi, hóa chất dùng để chiết xuất và phân lập gồm: n-hexan, ethyl acetat, ethanol, methanol, dichloro methan đạt tiêu chuẩn thí nghiệm
Dung môi đo phổ: CDCl3, MeOD
Thuốc thử: Cerisulfat
Thử hoạt tính gây độc tế bào:
DMEM (Dullbecco’s modified Minimum Essential Medium) (Gibco, Mỹ)
RPMI 1640 (Roswell park memorial institute) (Gibco, Mỹ)
FBS (Fetal bovine serum) (Gibco, Mỹ)
MTT (3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium bromid)
(DUCHEFA biochemie, Hà Lan)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chiết xuất và phân lập
Phân lập các chất
- Sử dụng phương pháp sắc ký cột/sắc ký lớp mỏng điều chế Theo dõi quá trình phân lập bằng sắc ký lớp mỏng (SKLM)
Trang 32Tiến hành nhồi cột theo phương pháp nhồi ướt Hỗn dịch silica gel được đổ
từ từ lên cột, vừa đổ, vừa gõ nhẹ vào thành cột để silica gel được nén đều,
mở khóa cột tối đa
Ổn định cột: Sau khi đưa hết silica gel lên cột, tiếp tục gõ nhẹ, đều và đối xứng xung quanh thân cột tới khi trong cột không còn bọt khí, mặt thoáng phẳng và lớp silica gel lắng xuống đã ổn định Tiếp tục cho dung môi chảy qua cột khoảng 2 giờ, thì khóa cột lại
Nạp mẫu lên cột: Cắn được hòa tan trong một lượng dung môi tối thiểu đến tan hoàn toàn sau đó trộn đều với một lượng tối thiểu silica gel (0,5-1 lần lượng cắn), rồi cất quay chân không để thu được bột Sau đó đưa mẫu lên cột sắc ký, tiến hành rửa giải
Dung môi rửa giải: Sử dụng hỗn hợp dung môi thích hợp, dung môi phân cực cao (nước, ethanol, methanol); dung môi phân cực trung bình (ethyl acetat, dichloromethan); dung môi kém phân cực hoặc không phân cực (n-hexan, ether dầu hỏa)
Phát hiện và thu nhận kết quả sắc ký
Dịch thu được trong quá trình rửa giải được hứng vào lọ thí nghiệm tương ứng Theo dõi bằng sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên bản mỏng tráng
Trang 33dung môi Phát hiện vết bằng cách quan sát dưới đèn UV bước sóng 254
nm, hiện màu bằng thuốc thử CeSO4
- Tiến hành phân lập các phân đoạn nhỏ sử dụng các phương pháp sắc ký trên silica gel, sephadex, sắc ký bản mỏng điều chế
Kiểm tra độ tinh khiết của hợp chất phân lập
Sử dụng sắc ký lớp mỏng (sử dụng các hệ dung môi khác nhau)
Nhận dạng các hợp chất tinh khiết phân lập được
Sau khi phân lập được hoạt chất tinh khiết, cấu trúc hóa học của các hợp chất được xác định bằng các phương pháp phổ khối lượng (MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR, 13C-NMR) và so sánh các dữ liệu thu được từ thực nghiệm với các dữ liệu đã công bố
2.3.2 Phương pháp đánh giá tác dụng gây độc tế bào in vitro
Đánh giá tác dụng gây độc tế bào in vitro bằng phương pháp MTT
(3-(4,5-dimethythiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazolium bromid) [46] Thực hiện tại phòng Hóa sinh ứng dụng - Viện hóa học – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam
Nguyên lý: Phương pháp MTT là một phương pháp so màu MTT tham gia
phản ứng oxy hoá khử với ty thể của tế bào sống và tạo thành các formazan dạng tinh thể Có thể dùng một số dung môi hữu cơ (isopropanol) để vừa phá huỷ màng tế bào và vừa hoà tan các tinh thể formazan, sau đó đo độ hấp thụ quang học của các dung dịch này ở 540nm
Trang 34Chuẩn bị mẫu thử: Mẫu các hợp chất tinh khiết được pha thành dung dịch gốc
với nồng độ 100 mM trong DMSO, pha loãng thành các nồng độ khác nhau: 1 µg/ml, 4 µg/ml, 16 µg/ml, 64 µg/ml, 256 µg/ml
Chuẩn bị các dòng tế bào: Các dòng tế bào ung thư ở người được cung cấp bởi
ATCC gồm: LU (Human lung carcinoma) – tế bào ung thư phổi, MCF-7 (Human
breast carcinoma) – tế bào ung thư vú Các dòng tế bào nuôi cấy trong môi trường phù
hợp, có bổ sung huyết thanh bò 10% (FBS) và các thành phần cần thiết khác ở điều kiện tiêu chuẩn (5% CO2, 37oC, độ ẩm 98%, vô trùng tuyệt đối) Tùy vào từng đặc tính của từng dòng tế bào khác nhau, thời gian cấy chuyển cũng khác nhau Tế bào phát triển ở pha log sẽ được sử dụng để thử độc tính
Các bước tiến hành: 200 µl dung dịch tế bào ở pha log nồng độ 3x104 tế bào/ml vào mỗi giếng (đĩa 96 giếng) trong môi trường DMEM hoặc RPMI 1640 cho các dòng tế bào LU, MCF-7 Mẫu thử được pha loãng sao cho đạt đến nồng độ cuối cùng 1 µg/ml, 4 µg/ml, 16 µg/ml, 64 µg/ml, 256 µg/ml Ủ 37o, 5% CO2 3 ngày
Chứng trắng là 200 µl dung dịch tế bào 3x104 tế bào/ml
Chứng âm là dung dịch DMSO 0,1%
Chứng dương là Ellipticin (Sigma)
Sau 3 ngày nuôi cấy, ủ tiếp với MTT 0,2 mg/ml ở 37oC trong 4 giờ, loại bỏ môi trường, thêm 100 µl DMSO lắc đều đọc kết quả ở bước sóng 540 nm trên máy spectrophotometter Genios TECAN Mật độ quang phản ánh số lượng tế bào còn sống sót
Tính kết quả: Phần trăm kìm hãm sự phát triển của tế bào được tính dựa trên số
liệu đo mật độ quang học OD trên máy quang phổ TECAN theo công thức sau:
Giá trị IC50 được tính dựa trên kết quả số liệu phần trăm kìm hãm sự phát triển của tế bào bằng phần mềm máy tính table curve
Trang 35Chương 3: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 3.1 Chiết xuất, phân lập và nhận dạng cấu trúc các hợp chất phân lập
3.1.1 Chiết xuất
Mẫu cành cây Máu chó đá xay nhỏ (1,12 kg) được ngâm chiết lần lượt với các dung môi n-hexan, ethyl acetat và MeOH (mỗi dung môi 3 lít x 3 lần trong 24 h) Dịch chiết được gộp và cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu được các cắn chiết tương ứng n-hexan (5g), ethyl acetat (10 g) và MeOH (53 g)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ chiết các phân đoạn từ cành cây Máu chó đá
3.1.2 Phân lập các hợp chất từ dịch chiết methanol
Chạy cột tổng silica gel cắn MeOH (53g): Cắn chiết MeOH được phân tách trên cột silica gel, rửa giải gradient với hệ dung môi CH2Cl2 - MeOH (0-100% MeOH) Kiểm tra bằng SKLM, gộp các ống có cùng thành phần và cất loại dung môi thu được
12 phân đoạn được ký hiệu từ M1 đến M12
Phân đoạn M3 (0,8 g) được phân tách trên cột Sephadex, rửa giải với hệ dung
môi CH2Cl2 - MeOH (2:8) thu được bốn phân đoạn được ký hiệu từ M3.1 đến M3.4 Phân đoạn M3.4 (40 mg) được tinh chế bằng SKLM silica gel điều chế với hệ dung
1,12 kg thân cây máu chó đá
Trang 36môi CH2Cl2 - MeOH (98:2) thu đƣợc chất CDM 10 (3,5 mg, chất rắn, màu trắng) và
CDM 13 (4 mg, chất rắn, màu vàng)
Phân đoạn M5 (1,3 g) đƣợc phân tách trên cột Sephadex, rửa giải với hệ dung
môi CH2Cl2 - MeOH (2:8) thu đƣợc năm phân đoạn đƣợc ký hiệu từ M5.1 đến M5.5 Phân đoạn M5.5 (40 mg) đƣợc tinh chế bằng cột Sephadex, rửa giải với hệ dung môi
CH2Cl2 - MeOH (2:8) thu đƣợc chất CDM 4 (5 mg, chất rắn, màu vàng)
Phân đoạn M6 (1,7 g) đƣợc phân tách trên cột Sephadex, rửa giải với hệ dung
môi CH2Cl2 - MeOH (2:8) thu đƣợc bốn phân đoạn đƣợc ký hiệu từ M6.1 đến M6.4 Phân đoạn M6.2 (110 mg) đƣợc tiếp tục phân tách trên cột cột Sephadex, rửa giải với
hệ dung môi CH2Cl2 -MeOH (1:9) để thu đƣợc năm phân đoạn nhỏ đƣợc ký hiệu từ
M.6.2.1 đến M.6.2.5 Phân đoạn nhỏ M.6.2.5 (13 mg) tinh chế bằng SKLM silica gel
điều chế với hệ dung môi CH2Cl2 - MeOH (9:1) thu đƣợc hai chất CDM 6 (6 mg, chất rắn, màu vàng nâu) và CDM 7 (3 mg, chất rắn, màu vàng nâu)
Trang 37Sơ đồ 3.2: Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cắn chiết methanol
Cắn Methanol (53g)
M3 0,8g
M5 1,3g
….
M6 1,7g
M10
M3.4 40mg
M6.2.2
(13 mg)
CDM6 6mg
CDM7 3mg
CC, Silicagel,gradient MeOH-CH 2 Cl 2 (0-100)
Sephadex
CH 2 Cl 2 -MeOH (2:8)
Sephadex
CH 2 Cl 2 -MeOH (1:9)
FC, Silicagel
CH 2 Cl 2 -MeOH (9:1)
CDM13 4mg
CDM10
3,5mg
Sephadex,
CH2Cl2-MeOH (2:8)
Trang 383.1.3 Kiểm tra độ tinh khiết của hợp chất phân lập
Các hợp chất sau khi được phân lập, kiểm tra độ tinh khiết bằng SKLM (TLC) Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn (Merck 60 F254), với ba hệ dung môi khác nhau, tiến hành quan sát dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm, phun thuốc thử Cerisunfat
a Các hợp chất CDM 10, CDM 13
Các hợp chất CDM 10, CDM 13 được kiểm tra độ tinh khiết bằng SKLM với ba
hệ dung môi sau:
Hệ I: CH2Cl2 - Aceton (95:5)
Hệ II: CH2Cl2 - EtOAc (95:5)
Hệ III: n-Hexan - Aceton (65:35)
Tiến hành quan sát dưới đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm, phun thuốc thử Ceri sunfat Kết quả cho thấy trên sắc ký đồ của ba hệ, mỗi chất cho một vết, rõ, không có vệt phụ Sơ bộ kết luận 2 chất trên là các hợp chất tinh khiết
Hệ I Hệ II Hệ III
Hình 3.1 Sắc ký đồ của chất CDM 10, CDM 13 sau khi hiện màu bằng
thuốc thử cerisulfat
Trang 39Bảng 3.1 Kết quả SKLM của các chất CDM 10 và CDM 13 sau khi hiện
màu bằng thuốc thử Cerisulfat
Hệ I Hệ II
Hình 3.2 Sắc ký đồ của chất CDM 4 sau khi hiện màu bằng thuốc thử
cerisulfat
Trang 40Bảng 3.2 Kết quả SKLM của các chất CDM 4 sau khi hiện màu bằng thuốc
Hệ III: n-Hexan - Aceton (6:4)
Quan sát dưới đèn UV 254 nm, phun thuốc thử Ceri sunfat Kết quả trên sắc ký
đồ của cả ba hệ, mỗi chất cho một vết, rõ, không có vết phụ Sơ bộ kết luận CDM 6, CDM 7 là các hợp chất tinh khiết
Hình 3.3 Sắc ký đồ của các chất CDM 6, CDM 7 sau khi hiện màu bằng