Thứ tư, mặc dù đã có nhiều kết quả tích cực nhưng mô hình thực hiện chức năng quản lý của chủ sở hữu CSH Nhà nước đối với DNNN vẫn còn những hạn chế, tồn tại như sau: i Chưa tách bạch rõ
Trang 1Tác giả xin cam đoan đây là công trình khoa học được nghiên cứu độc lập Nguồn
gốc số liệu rõ ràng và kết quả điều tra của tác giả phản ánh trung thực Tác giả hoàntoàn chịu trách nhiệm về công trình khoa học này./
Người cam đoan
TRẦN XUÂN TÙNG
Trang 2
2.3 Nội dung quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do
Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
40
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý của chủ sở hữu Nhà nước đối
với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
46
2.5 Phương pháp và tiêu chí đánh giá quản lý của chủ sở hữu Nhà nước đối vớidoanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 54 2.6.Kinh nghiệm quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhànước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở một số quốc gia và bài học cho
Việt Nam
60
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP DO NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ Ở
VIỆT NAM .
79
3.1 Khái quát thực trạng hoạt động của doanh nghiệp do Nhà nước nắm
giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam
79
3.2 Thực trạng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam
86
3.3 Đánh giá quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do
Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
128
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CỦA CHỦ
SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP DO NHÀ NƯỚC NẮM
GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ .
135
Trang 3135
4.2 Quan điểm và phương hướng hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu Nhà nướcđối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 138 4.3.Giải pháp hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh
nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
LUẬN 170 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
DN100% VNN : Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
ĐHCĐ : Đại hội cổ đông
HĐQT : Hội đồng quản trị
HĐTV : Hội đồng thành viên
KHHTT : Kế hoạch hóa tập trung
KSV : Kiểm soát viên
KTTT : Kinh tế thị trường
KT-XH : Kinh tế xã hội
MTV : Một thành viên
Trang 4SCIC : Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước
SHNN : Sở hữu Nhà nước
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCT : Tổng công ty
TCTNN : Tổng công ty nhà nước
TĐKTNN : Tập đoàn kinh tế nhà nước
TGĐ : Tổng giám đốc
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Ủy ban nhân dân
VĐL : Vốn điều lệ
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Phân biệt chức năng quản lý hành chính nhà nước và chức năng quản lý của CSH nhà nước đối với DN nhà nước nắm giữ 100% VĐL 39 Bảng 2.2 Tiêu
chí đánh giá kết quả công việc đối với Hội đồng quản trị 59
Bảng 3.1 Số lượng DN nhà nước nắm giữ 100% VĐL giai đoạn 2012 - 2018 79
Bảng 3.2 Tổng tài sản của các DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL 80
Bảng 3.3 Vốn CSH của DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL 81
Bảng 3.4 Doanh thu của các DN Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (tỷ đồng) 82
Bảng 3.5 Lợi nhuận trước thuế của DN 100% vốn nhà nước (tỷ đồng) 83
Bảng 3.6 Tỷ suất lợi nhuận của DN đang hoạt động có kết quả kinh doanh phân theo loại hình DN (%) 84
Bảng 3.7 Thu nộp ngân sách Nhà nước của các DN 100% vốn Nhà nước 85
Bảng 3.8 Trả lời của cán bộ quản lý cơ quan CSH, DNNN về mức độ phù hợp của mô hình thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước tại các DNNN 89
Bảng 3.9 Mức độ phù hợp của việc phân công, phân cấp thực hiện chức năng đại diện CSH đối với DNNN 96
Bảng 3.10 Số lượng DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL 2012-2017 100
Trang 5Bảng 3.12 Đánh giá của cán bộ quản lý về chiến lược, kế hoạch SXKD, kế
hoạch đầu tư phát triển của DNNN
112 Bảng 3 13 Hệ số mức lương của người quản lý Công ty chuyên trách 116 Bảng 3.14 Mức tiền lương cơ bản đề xác định Quỹ tiền lương của người quản lý công ty chuyên trách 117
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HỘP Trang Sơ đồ 2.1 Phương pháp đánh giá theo thẻ điểm cân bằng 60
Sơ đồ 2.2 Mô hình thực hiện chức năng CSH Nhà nước ở Trung Quốc 63
Sơ đồ 2.3 Mô hình thực hiện chức năng CSH tại các DNNN ở Hàn Quốc 67
Sơ đồ 2.4 Sơ đồ tổ chức của Bộ DNNN Indonesia 72
Sơ đồ 3.1 Mô hình thực hiện chức năng CSH nhà nước theo Nghị định 99/2012/NĐ-CP 87
Sơ đồ 3.2 Mô hình thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước khi thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp 92
Biểu đồ 3.1 Tỷ suất lợi nhuận của các DN theo sở hữu từ 2010 – 2017 83
Biểu đồ 3.2 Tỷ suất lợi nhuận của các DN có vốn nhà nước từ 2010 - 2017 84
Hộp 1 Công tác thẩm định bổ sung VĐL, phát hành trái phiếu, thoái vốn và giám sát tài chính đối với các TĐKT ở Bộ Công Thương 105 Hộp 2 Thực trạng giám sát tài chính tại TĐ Dệt may 126
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: “Quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam” được thể
hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, vấn đề này đã được nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài đề
cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm từ nước ngoài theonhiều trường phái, quan điểm và hoàn cảnh thực tiễn khác nhau nên áp dụng vàotrong nước có nhiều bất cập Các nghiên cứu trong nước sát với tình hình hơn nhưngvẫn còn khoảng cách nhất định giữa lý luận với thực tiễn phức tạp ở Việt Nam Dovậy, những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề này cần được hệ thống hóa có chọnlọc, bổ sung, từ đó xây dựng cơ sở khoa học về quản lý của chủ sở hữu (CSH) Nhànước đối với doanh nghiệp (DN) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (VĐL) ởViệt Nam trong tình hình mới
Thứ hai, trong những năm qua khu vực kinh tế nhà nước đã có những đóng
góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), phát huy được vai tròchủ đạo trong nền kinh tế Tuy nhiên, thời gian qua cho thấy khu vực này còn nhiềubất cập cần giải quyết như: quy mô còn lớn, lĩnh vực hoạt động rộng, cạnh tranhchưa bình đẳng, quản lý thiếu chuyên nghiệp, hiệu quả thấp, tình trạng tham nhũng,thất thoát vốn nhà nước nghiêm trọng, … Những vấn đề trên đòi hỏi cần tiếp tục đổimới mạnh mẽ khu vực kinh tế nhà nước trong thời gian tới
Thứ ba, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng là một trong những
trọng tâm chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước Tại Hội nghị Trung ương 3Khóa XI (2011), BCH Trung ương Đảng đã xác định một trong ba trụ cột của tái cơcấu nền kinh tế là tái cơ cấu DNNN, trong đó trọng tâm là tái cơ cấu các tập đoàn(TĐ), tổng công ty (TCT) Nhà nước Theo đó, ngày 17/07/2012 Thủ tướng Chính
phủ ra quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Đề án: “Tái cơ cấu DN nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế (TĐKT), tổng công ty nhà nước (TCTNN) giai đoạn 2011-2015” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII (2016) tiếp tục khẳng định một
Trang 7trong các nhiệm vụ trọng tâm là chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại DNNN[20]
Thứ tư, mặc dù đã có nhiều kết quả tích cực nhưng mô hình thực hiện chức
năng quản lý của chủ sở hữu (CSH) Nhà nước đối với DNNN vẫn còn những hạn chế, tồn tại như sau: (i) Chưa tách bạch rõ mục tiêu, công cụ, phương pháp, tổ chức
bộ máy và cán bộ thực hiện chức năng đại diện CSH với chức năng quản lý nhànước (QLNN) đối với DNNN của các cơ quan hành chính Nhà nước; (ii) Vẫn còntình trạng phân tán, thiếu thống nhất, thiếu chuyên nghiệp và chuyên trách trongthực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ CSH Nhà nước, đặc biệt đối với các TĐkinh tế nhà nước, TCT quan trọng; (iii) Chưa có cơ chế tạo động lực, chế tài cho tất
cả các cơ quan, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện chức năng đại diện CSHNhà nước được giao
Thứ năm, đổi mới quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN hiện đang chịu
sức ép mạnh mẽ từ hội nhập, sự phát triển của thị trường và sự thay đổi của hệ thốngluật pháp Ví dụ, theo cam kết gia nhập TPP (nay là CPTPP), DNNN (trừ lĩnh vực
an ninh – quốc phòng) phải hoạt động theo CCTT; không được có hành vi phảncạnh tranh khi có vị trí độc quyền, gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư; phảiminh bạch hóa một số thông tin như tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, các báo cáo tàichính đã được kiểm toán và được phép công bố; đặc biệt Nhà nước không được trợcấp quá mức gây ảnh hưởng đến lợi ích của người khác; … Do vậy, quản lý củaCSH nhà nước cũng cần thay đổi phù hợp Mặt khác, thị trường phát triển, khu vực
tư nhân cũng đòi hỏi cạnh tranh công bằng với khu vực nhà nước Do đó, cơ chếquản lý đối với DNNN cần đổi mới theo hướng tách bạch giữa QLNN và quản trị
DN Cùng với đó, sự thay đổi của hệ thống luật pháp ở Việt Nam thời gian gần đâycũng yêu cầu cần đổi mới quản lý của CSH Nhà nước đối với các DN có vốn Nhànước Do đó, quản lý của CSH nhà nước đối với các DN 100% vốn nhà nước làmột vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay khi khu vực DNNNvới các DN 100% vốn nhà nước đang được nghiên cứu thu hẹp lại chỉ giữ nhữnglĩnh vực, ngành nghề thực sự quan trọng, thiết yếu phục vụ cho phát triển bền vững
Trang 8KT - XH, an ninh quốc phòng Theo đó, quản lý của CSH nhà nước đối với đốitượng này cũng cần phải có những đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp với tình hìnhmới, trong đó có việc tách bạch giữa quản lý của CSH nhà nước với QLNN đối với
DN và quản lý của CSH nhà nước với quản lý hoạt động SXKD của DN
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là đề xuất phương hướng và giải pháp gópphần hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với các DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (trong một số trường hợp gọi là DN 100% vốn nhà nước) trong điềukiện mới hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chínhnhư sau:
- Hệ thống hóa có bổ sung, phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý củaCSH nhà nước đối với DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL
- Tổng kết kinh nghiệm quốc tế và trong nước có liên quan đến đề tài và rút rabài học cho Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý của CSH nhà nước đối với DN doNhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong thời gian qua
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong thờigian tới
3 Đố ượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những cơ sở khoa học phục vụ cho việc đề xuấtnhững phương hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý của CSH nhà nướcđối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (VĐL) Điều đó dựa trênnghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý của CSH nhà nước đối với
Trang 9DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam Các DN này bao gồm: các Công
ty mẹ của TĐ, TCT nhà nước, công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con,công ty TNHH MTV độc lập thuộc các Bộ ngành, địa phương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: (1) Luận án chỉ nghiên cứu quản lý của CSH nhà nước đối với
DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL, tức là nghiên cứu quản lý của Nhà nước với
tư cách là chủ đầu tư vốn, luận án không nghiên cứu quản lý hành chính của Nhànước đối với DN; (2) Nghiên cứu quản lý của CSH nhà nước đối với DN tức lànghiên cứu các quyền và trách nhiệm của CSH nhà nước đối với DN, trong đó tậptrung vào đối tượng CSH là các cơ quan: Chính phủ, Ủy ban quản lý vốn nhà nước (QLVNN) tại DN, các Bộ ngành địa phương và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanhVốn Nhà nước (SCIC); Nội dung quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của DNkhông thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
- Về không gian: Nghiên cứu quản lý của CSH nhà nước đối với các DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL trên phạm vi cả nước
- Về thời gian: Luận án sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý của CSHnhà nước đối với DN Nhà nước nắm giữ 100% VĐL trong giai đoạn từ 2012 - 2019.Trong đó, thông tin và dữ liệu phục vụ nghiên cứu chủ yếu được thu thập, điều tratrong gian đoạn 2012 – 2018
4 Cách ti p cận v ươ g á g ê ứu
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Cách tiếp cận nghiên cứu của luận án dựa trên lý thuyết về CSH và người đạidiện Quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL làtổng thể các phương thức tác động của CSH nhà nước đối với các DN nhằm thựchiện các mục tiêu CSH Nhà nước đặt ra Tuy nhiên ở Việt Nam, CSH đối vớiDNNN có nhiều cấp khác nhau: từ toàn dân - Quốc hội - Chính phủ - Bộ quản lýngành, ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh - Người đại diện, trong đó cấp trực tiếp làngười đại diện trong các DNNN, còn cấp cuối cùng là toàn dân
Trang 10Mặt khác về mặt lý luận, quản lý của CSH nhà nước khác với QLNN, QLNN
đề cập đến quản lý vĩ mô (quản lý hành chính) còn quản lý của CSH nhà nước làquản lý ở cấp vi mô (cấp DN) Do vậy, về bản chất CSH vốn nhà nước như là nhàđầu tư vốn vào DN nên quản lý của CSH nhà nước về bản chất là quản lý của nhàđầu tư đối với phần vốn của mình tại DN nhằm thực hiện các mục tiêu đã định.Quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN là sử dụng quyền hạn của người sở hữuvốn để can thiệp vào các hoạt động của DNNN nhằm thực hiện mục tiêu của CSHvốn
Do vậy, nghiên cứu về quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nướcnắm giữ 100% VĐL sẽ tập trung vào các mối quan hệ quản lý sau:
(1) Quản lý của các cơ quan được giao quyền đại diện CSH đối với DN 100%vốn nhà nước: hoạt động quản lý của các cơ quan này là xây dựng thể chế (quyđịnh, cơ cấu tổ chức, cơ chế) cho các DN 100% vốn nhà nước hoạt động nhằm đảmbảo thực hiện mục đích của CSH
(2) Quản lý của các cơ quan CSH đối với những người được trao quyền đại diệnCSH tại DN thông qua những quy định CSH đặt ra đối với trách nhiệm, quyền hạn
và nghĩa vụ của những người đại diện
(3) Quản lý của người đại diện CSH (CTCT, Chủ tịch và thành viên HĐTV) đối
với hoạt động của DN 100% vốn nhà nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
(1) (2)
(3)
Các cơ quan đại di ện CSH Nhà nước
Người đại di ện
CSH Nhà nư ớc
DN 100% v ốn nhà nước
Trang 11Luận án sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu
định lượng Các phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng như:
- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn, tham khảo ý kiến các cán bộ, chuyên
gia đã và đang trực tiếp, gián tiếp thực hiện các công việc liên quan đến vấn đềnghiên cứu để thu thập thông tin, ý kiến phục vụ nghiên cứu của Luận án
- Nghiên cứu trường hợp điển hình: khảo sát thực tiễn tại một số Bộ ngành,
địa phương được giao đại diện CSH và một số DN 100% vốn nhà nước (TĐ, TCTnhà nước)
Nghiên cứu định lượng được tiến hành bằng cách thu thập dữ liệu từ nhiều nguồnkhác nhau, kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, trong đó:
+ Dữ liệu thứ cấp được thu thập, tổng hợp từ các cơ sở dữ liệu của tổng cục thốngkê; các nghiên cứu, tài liệu về hoạt động quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN
từ các Bộ ngành, địa phương, các DNNN, các tổ chức trong nước và quốc tế Thôngtin, dữ liệu thu thập sẽ được kiểm định tính chính xác, từ đó tổng hợp, phân tích, sosánh để tạo ra những thông tin đa chiều phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của luận
Bảng 1 Thông tin hoạt động điều tra, khảo sát của Luận án
TT Nội dung điều tra, khảo sát ĐVT lượng Số Ghi chú
địnhtính
2 Nghiên cứu trường hợp điển hình Trườnghợp 5
3.1 Cán bộ quản lý cơ quan đại diện CSH Phiếu 60 NC
Trang 12địnhlượng
3.2 Cá nhân được giao đại diện CSH (CTCT,Thành viên HĐTV) Phiếu 60
3.3 Cán bộ quản lý tại DN 100% vốn nhà nước Phiếu 60
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý của CSH nhànước đối với DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong thời gian tới
6 K t cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận án được trình bày trong 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quản lý của chủ sở hữu nhà nướcđối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
- Chương 3: Thực trạng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanhnghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam
- Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu nhànước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Mục đích của luận án là xây dựng được cơ sở khoa học để đề xuất các phươnghướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhànước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam Do vậy, luận án sẽ nghiên cứu tổng quantrên 3 nhóm vấn đề chính: (i) DNNN và DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL; (ii)CSH nhà nước; và (iii) Quản lý của CSH nhà nước đối với DN do nhà nước nắm giữ100% VĐL Ba vấn đề trên được tổng quan theo hai nhóm: những nghiên cứu nướcngoài và những nghiên cứu trong nước có liên quan
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Các nghiên cứu, tài liệu từ nước ngoài về DNNN đều khẳng định DNNN là
DN mà Nhà nước nắm quyền kiểm soát, chi phối Phần lớn cho rằng quyền kiểmsoát, chi phối của Nhà nước có được do sở hữu đa số phần vốn của DN World Bank(2014) đã lấy ví dụ ở Hàn Quốc, DN công là DN có toàn bộ nguồn vốn hoặc hơnmột nửa nguồn vốn được nhận từ Chính phủ (hoặc 30% và quyền chi phối chính).Các nghiên cứu, tài liệu khác như hướng dẫn số 80/273 (European Union), WorldBank (1999), Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) và Viện Hàn lâm về Quản lý hànhchính (Mỹ), (Spullber Nicolas (1997), (Rees Ray, 1989), OECD (2005) cũng đã đưa
ra nhiều quan điểm khác nhau về DNNN Trong đó, tiêu biểu là khái niệm của
OECD (2005) trong hướng dẫn quản trị công ty trong DNNN: “Thuật ngữ DNNN dùng để chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quan trọng” [37]
Từ khái niệm của OECD (2005), dựa trên mức độ sở hữu DNNN gồm 3 loại:
sở hữu toàn bộ VĐL, sở hữu đa số VĐL và sở hữu thiểu số VĐL nhưng vẫn có khảnăng chi phối DN Do vậy, DN do Nhà nước sở hữu 100% VĐL là DNNN mà Nhànước sở hữu toàn bộ VĐL hay nói cách khác là DNNN có một CSH duy nhất là Nhànước
Trang 141.1.2 Nghiên cứu v chủ sở hữu N ướ ối với doanh nghiệp nhà nước
- Lý thuyết quyền sở hữu được phát triển bởi Eirik G Furuboth & SvetozarPejovich (1972) [49] và sau đó được Eugenne F Fama & Michael C Jensen (1983)[48], Oliver Hart & John Moore (1990) [64] Lý thuyết quyền sở hữu đã cung cấpmột phương thức phân tích DN và tổ chức của DN dù đây không phải là mục tiêuđầu tiên của nó Theo lý thuyết này, một quyền sở hữu trên một tài sản được xácđịnh trên 3 thuộc tính sau: (1) Quyền sử dụng tài sản này; (2) Quyền rút ra được thunhập từ tài sản này; (3) Quyền chuyển nhượng cho một người thứ ba Từ cơ sở của
lý thuyết sở hữu, đổi mới quản trị công ty hướng tới những giá trị sau: (i) Tính côngbằng - đảm bảo đối xử công bằng với mọi cổ đông; (ii) Tính giải trình - đảm bảo sựgiám sát có hiệu quả từ phía HĐQT và đảm bảo có trách nhiệm giải trình củaHĐQT trước cổ đông; (iii) Tính minh bạch - đảm bảo các thông tin quan trọng liênquan đến công ty đều công khai một cách kịp thời, chính xác; (iv) Tính trách nhiệm
- đảm bảo các bên liên quan đều có trách nhiệm hợp tác tích cực trong việcphát triên công ty
- Trong hướng dẫn của OECD (2005) về quản trị công ty trong DNNN [65] đã
đề cập đến vai trò của CSH Nhà nước Theo hướng dẫn này, Nhà nước cần đóng vaitrò CSH có hiểu biết và tích cực, xây dựng chính sách sở hữu rõ ràng và nhất quán,đảm bảo việc quản trị DNNN được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệmvới mức độ chuyên nghiệp và hiệu quả cần thiết Cụ thể có 6 hướng dẫn về vấn đềnày như sau:
“(A) Chính phủ phải xây dựng và ban hành chính sách sở hữu xác định rõmục tiêu chung của sở hữu nhà nước, vai trò của Nhà nước trong quản trị DNNN vàcách thức Nhà nước sẽ thực thi chính sách sở hữu của mình
(B) Chính phủ không cần tham gia vào công việc quản lý hàngngày của DNNN và phải cho phép DN có quyền tự chủ hoạt động hoàntoàn để đạt được mục tiêu đề ra
(C) Nhà nước cần cho phép HĐQT của DNNN thực hiện tráchnhiệm của mình và tôn trọng quyền tự chủ của họ
Trang 15(D) Việc thực thi quyền sở hữu cần được xác định rõ ràng trongquản trị DNNN Điều này có thể được thực hiện thông qua thành lậpmột cơ quan điều phối,
hoặc phù hợp hơn là bằng việc tập trung hóa chức năng sở hữu nhà nước
(E) Cơ quan điều phối hoặc sở hữu DNNN phải chịu trách nhiệmtrước các cơ quan dân cử như Quốc hội và phải xác định rõ ràng mốiquan hệ với các cơ quan Nhà nước liên quan, bao gồm cơ quan kiểmtoán tối cao của Nhà nước
(F) Nhà nước với tư cách CSH tích cực phải thực hiện quyền sởhữu theo cơ cấu pháp lý của mỗi DN Các trách nhiệm chính của CSHnhà nước bao gồm: (1) Tham gia Đại HĐCĐ và biểu quyết; (2) Xâydựng quy trình đề cử HĐQT cụ thể và minh bạch ở các DNNN sở hữutoàn bộ hoặc phần lớn cổ phần, và tham gia tích cực vào việc đề cửHĐQT của tất cả các DN; (3) Thiết lập hệ thống báo cáo cho phép giámsát và đánh giá thường xuyên hiệu quả của DN; (4) Trao đổi thườngxuyên với cơ quan kiểm toán độc lập và cơ quan kiểm toán của nhànước, khi mức độ sở hữu và luật pháp cho phép; (5) Đảm bảo chính sáchthù lao cho thành viên HĐQT của DNNN thúc đẩy lợi ích lâu dài của
DN và có thể thu hút và khuyến khích các chuyên gia trình độ cao”
- Theo nghiên cứu của Rennie, M and F Lindsay (2011) [69], Chính phủ Úc
đã ban hành và thực hiện chính sách cạnh tranh bình đẳng, trong đó nhấn mạnh bìnhđẳng giữa DNNN và DNTN Theo đó năm 1998, Chính phủ Liên bang của Úc kếthợp 3 cơ quan hiện tại (gồm: Ủy ban Công nghiệp, Ủy ban Tư vấn Quy hoạch kinh
tế và Văn phòng Kinh tế Công nghiệp) thành một thực thể mới là Ủy Ban NăngSuất (UBNS) UBNS được thiết kế để trở thành một Ủy ban nghiên cứu độc lập và
tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề liên quan Các chức năng của UBNS có liênquan đến cạnh tranh bình đẳng bao gồm: (1) Điều tra các khiếu nại liên quan đếncạnh tranh bình đẳng về các DNNN và các hoạt động kinh doanh; (2) Báo cáo, thammưu cho các Bộ trưởng trong các vấn đề công nghiệp và năng suất; và (3) Nghiêncứu các vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp, phát triển công nghiệp và năngsuất, bao gồm các vấn đề liên quan đến cạnh tranh bình đẳng [63]
Trang 161.1.3 Nghiên cứu về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
- Hướng dẫn của OECD [65] về quản trị công ty trong DNNN gồm các nội dung sau: (1) Đảm bảo khuôn khổ pháp lý và quản lý hiệu quả cho các DNNN; (2)Nhà nước đóng vai trò CSH; (3) Đối xử bình đẳng với cổ đông; (4) Quan hệ với cácbên có quyền lợi liên quan; (5) Minh bạch và công bố thông tin; (6) Trách nhiệmcủa HĐQT ở DNNN Trong từng nội dung kể trên, OECD cũng có những hướngdẫn chi tiết đối với từng tiểu mục nhỏ Bộ hướng dẫn của OECD về quản trị công tytrong DNNN cung cấp một chuẩn mực được quốc tế công nhận giúp các Chính phủđánh giá và cải thiện cách thực hiện các chức năng sở hữu trong DNNN Bộ Hướngdẫn này được xây dựng trên kinh nghiệm cụ thể từ một số lượng lớn các quốc giathành viên và không thành viên của OECD trên toàn thế giới, và cung cấp cáckhuyến nghị cụ thể về các biện pháp giải quyết các khó khăn trong quản trị công tykhi nhà nước là CSH
- Đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả là mục tiêu quan trọng nhất của của CSH vốnnhà nước tại các DNNN và được đo lường bằng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốnCSH (ROE) Rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã phân tích và kiểmnghiệm mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên trong DN đến hiệu quả sử dụng vốn,được chia thành 2 nhóm chính như sau:
Thứ nhất gồm các nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm cơ bản của DN với
hiệu quả sử dụng vốn Trong nhóm này, các nhân tố quyết định đến hiệu quả sửdụng vốn được xem xét là: quy mô công ty, cơ cấu vốn, tỷ lệ vốn góp của Nhà nước,
và thời gian hoạt động của công ty Về nhân tố quy mô công ty, các nghiên cứu củaZeitun và Tian (2007) [74], Abbasali et al (2012) [40] đã chứng minh mối liên quanthuận chiều và có ý nghĩa thống kê giữa độ lớn của tổng tài sản và khả năng sinh lợicủa DN Các nhân tố cấu trúc vốn được thể hiện trong các kết quả nghiên cứu củaFosberg và Ghosh [51], Zeitun và Tian [74], Mramor và Crnigoj [4] [63] hayAbbasali et al [40] Các tác giả đều cho thấy hệ số nợ có ảnh hưởng tiêu cực đếnhiệu suất sinh lợi trên vốn CSH Liên quan đến tỷ lệ vốn góp của Nhà nước, nghiêncứu của Gumbau-Albert và Maudos [54] đã phát hiện sự suy giảm hiệu quả hoạt
Trang 17động của công ty khi tăng tỷ lệ sở hữu của Nhà nước Tuy nhiên, khi nghiên cứu vềthời gian hoạt động (tuổi của công ty) các nghiên cứu đưa ra những kết quả khôngđồng nhất Nghiên cứu của Boyan Jovanovic [45] , Ericson và Pakes [4741] chorằng cho mối quan hệ đồng biến giữa tuổi của một công ty và hiệu quả hoạt độngcủa nó, tuy nhiên nghiên cứu của Leonard-Barton [59], Agarwal và Gort [39] lại cókết quả ngược lại Sự khác biệt này có thể là do xuất phát từ những ưu điểm vànhược điểm của các công ty lâu năm Các công ty này có ưu điểm là sự tiêu chuẩnhóa về quy trình sản xuất và xây dựng được đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm,nhờ đó làm tăng hiệu quả hoạt động Mặc dù vậy, các công ty lâu năm lại có thể cónhững kiến thức, kỹ năng và nguồn nhân lực lỗi thời so với các công ty mới thànhlập, cấu trúc các công ty này cũng cứng nhắc hơn và khó thay đổi khi cần thiết, vìvậy làm suy giảm hiệu quả hoạt động vốn của DN
Thứ hai gồm các nghiên cứu tác động của cấu trúc ban quản trị với kết quả
hoạt động của DN Các nghiên cứu tìm hiểu cấu trúc ban quản trị bao gồm: số lượngthành viên ban quản trị và sự tách biệt giữa vai trò GĐ và CSH đối với hiệu quảhoạt động của công ty Nhìn chung các kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng thànhviên ban quản trị càng nhỏ thì kết quả hoạt động của công ty càng cao (kết quảnghiên cứu của Andres, Azofra và Lospez [41]; Mak và Yuanto [61]; Liao, 2010[60]
Tóm lại, các nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn của các công ty cho thấy cónhiều nhân tố tác động đến yếu tố này Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm và điềukiện nội tại của từng công ty, mỗi yếu tố sẽ có mức độ tác động khác nhau đến kết
quả hoạt động của công ty
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
1.2.1 Nghiên cứu v chủ sở hữu ướ ối với doanh nghiệp nhà nước
- Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thanh về “Vấn đề CSH và người đại diện: một số gợi ý chính sách cho Việt Nam” đã nêu khái niệm về CSH và người đại diện
[35] Theo đó, CSH (principals) là chủ của các nguồn lực, còn người đại diện(agent) hay quản lý là người được ủy quyền (được thuê) của CSH nguồn lực vàđược trao một số quyền hành nhất định với nguồn lực của CSH để phục vụ lợi ích
Trang 18của CSH Tác giả cũng cho rằng tồn tại vấn đề CSH và người đại diện hay nghịch lýngười đại diện đề cập đến những khó khăn nảy sinh trong điều kiện thông tin khônghoàn hảo và không cân xứng khi CSH thuê người đại diện để thực hiện lợi ích củamình, nhưng người đại diện có thể không hành động vì lợi ích của CSH mà vì bảnthân họ (tư lợi) Nguyên nhân là do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điềuhành đã tạo ra thông tin không cân xứng (asymestric information), người đại diện có
ưu thế hơn về thông tin nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng khó khăn, phức tạp
- Các nghiên cứu trong nước khi đề cập đến quyền của CSH nhà nước đối vớiDNNN đều thống nhất rằng quyền sở hữu đồng nghĩa với quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng và quyền định đoạt (mua, bán) tài sản Tuy nhiên, Nguyễn Mạnh Quân đãđưa ra một quan điểm khá mới về quyền sở hữu DNNN trong cơ chế thị trường[28] Tác giả cho rằng trung tâm của tất cả các khái niệm DNNN đều nhấn mạnhđến vấn đề sở hữu Chuyển sang KTTT, quan niệm về sở hữu cũng cần điều chỉnh.CPH DNNN là một hình thức chuyển dần quyền sở hữu tài sản nhà nước cho xãhội Thực chất đây là quá trình chuyển đổi về nhận thức theo định hướng thị trường
Trở ngại lớn nhất của quá trình này là tâm lý “sợ mất quyền kiểm soát” đối với DNNN và tài sản của nhà nước Tâm lý này phát sinh từ một nguyên tắc “quyền kiểm soát tương ứng với quyền sở hữu” Tuy nhiên, nguyên tắc “51:49” về sở hữu
không phải luôn đúng Có nhiều bằng chứng thực tiễn về các DN liên doanh ở nước
ta và trên thế giới minh chứng cho thực tế trên Nguyên nhân dẫn đến tình trạng
“không tương xứng” này là do sự chênh lệch về trình độ và năng lực quản lý
1.2.2 Nghiên cứu về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
1.2.2.1 Nghiên cứu về mô hình thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
- Theo CIEM , chức năng đại diện CSH nhà nước là việc tác động của cơ quanquản lý bằng các phương thức thuộc phạm vi chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ củaCSH đối với DN trong quá trình hoạt động Trên thế giới hiện tồn tại 3 mô hìnhthực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước đối với DNNN như sau [8]:
Trang 19Mô hình thứ nhất: Các cơ quan nhà nước vừa thực hiện chức năng QLNN về
kinh tế, vừa thực hiện chức năng của CSH DN Ở đây tuy có sự phân công, phâncấp trong việc thực hiện các quyền của CSH nhà nước (bao gồm cơ quan lập pháp
và hành pháp các cấp) ở mức độ và phạm vi khác nhau, nhưng không có sự táchbạch giữa hai chức năng này trong tổ chức bộ máy công quyền Các cán bộ trongcác cơ quan nhà nước thực hiện đồng thời cả hai loại công vụ, trong đó Quốc hộitham gia với tư cách giám sát là chủ yếu, còn quyền CSH được giao thực hiện theo
cơ chế ủy quyền và phân cấp cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc
Mô hình thứ hai: Mô hình tách bạch tổ chức thực hiện chức năng CSH vốn
nhà nước khỏi bộ máy hành chính nhà nước, thành lập các tổ chức trung gian là đạidiện CSH, như thành lập các công ty đầu tư tài chính, công ty quản lý vốn hoặc tổchức kinh tế chuyên thực hiện chức năng làm CSH phần vốn nhà nước đầu tư tại các
DN
Mô hình thứ ba: Mô hình tách bạch chức năng quản lý hành chính nhà nước
và chức năng CSH nhà nước tại DN, thành lập cơ quan nhà nước chuyên trách giámsát và quản lý vốn nhà nước ở cả cấp trung ương cũng như địa phương
- Nguyễn Đình Cung và Bùi Văn Dũng [13] cũng đề cập đến mô hình thựchiện chức năng CSH Nhà nước đối với DNNN của một số nước trên thế giới với
một số mô hình đáng chú ý là: (1) Mô hình song trùng thực hiện chức năng CSH Nhà nước: bản chất song trùng của mô hình này là đồng thời có 2 cơ quan hoặc tổ
chức cùng phối hợp thực hiện chức năng CSH, trong đó có một bộ quản lý ngành vàmột bộ “tổng hợp” – thường là bộ Tài chính Cả hai Bộ này đều có quyền cử đạidiện vào HĐQT của DNNN và đều cùng chịu trách nhiệm thực hiện các quyền của
CSH; (2) Mô hình phi tập trung hay mô hình phân cấp thực hiện chức năng CSH Nhà nước: chức năng CSH được thực hiện bởi nhiều bộ ngành hoặc chính quyền địa phương; (3) Mô hình tập trung hóa: toàn bộ chức năng đại diện CSH nhà nước
được chuyển ra khỏi bộ máy quản lý ngành và giao cho một cơ quan của Chính phủthực hiện
- Trần Tiến Cường [12] cũng đã khái quát về mô hình thực hiện chức năngCSH Nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam Chức năng CSH nhà nước đối với
Trang 20DNNN đã được thực hiện với nhiều mô hình như “bộ chủ quản, cơ quan hành chínhchủ quản” (trước khi có Luật DNNN 1995); mô hình “song trùng” đại diện chủ hữucủa bộ quản lý ngành và Bộ Tài chính (giai đoạn 1995-2000 khi lập Tổng cục quản
lý vốn và tài sản nhà nước tại các DN thuộc Bộ Tài chính); mô hình “phân tán cógiới hạn” đối với loại DNNN do Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập(giai đoạn 2000-2003 sau khi giải thể Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tạicác
DN), và mô hình “phân tán” đại diện chủ hữu đối với các TĐKT, TCT nhà nước (từ
2004 đến nay theo Luật DNNN 2003 và Luật DN 2005) Cho dù có những điềuchỉnh hoặc thay đổi, nhưng cốt lõi của những mô hình này vẫn là không có sự phântách giữa chức năng đại diện CSH nhà nước và chức năng QLNN đối với cácDNNN
Nhiều nghiên cứu khác cũng đề cập đến mô hình quản lý của CSH Nhà nướcđối với DNNN, tuy nhiên các nghiên cứu đó cũng dựa trên tổng hợp kinh nghiệmcủa các mô hình của một số quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc,Australia, Newzealand, Singapore, Indonesia và một số quốc gia khác và căn cứ vàothực tiễn đổi mới quản lý của Nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam để xây dựng các
mô hình Tựu chung lại, mô hình quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN trongnghiên cứu của Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng (2013) hay của CIEM (2013);Trần Tiến Cường (2013) đã cơ bản khái quát được các kinh nghiệm của các nướctrên thế giới và các mô hình được đề cập trong các nghiên cứu trong nước khác
1.2.2.2 Nghiên cứu về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
- Những nghiên cứu của CIEM, Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng và một
số nghiên cứu khác đều khái quát tiến trình đổi mới phương thức thực hiện chứcnăng CSH Nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam qua 4 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn trước năm 1995 (Trước thời điểm Luật DNNN 1995 có hiệu lực thi hành): chức năng QLNN và chức năng đại diện CSH nhà nước của các cơ quan
hành chính nhà nước đối với DNNN chưa được phân định rõ ràng
Trang 21+ Giai đoạn 1995 – 2003: Giai đoạn này, tại Việt Nam đã có sự tách bạch ở một
mức độ nhất định về chức năng QLNN và chức năng đại diện CSH nhà nước đối vớiDNNN (quy định tại các điều 25, 26 và 27 Chương IV Luật DNNN 1995)
+ Giai đoạn từ 2003 đến 15/11/2012: (trước thời điểm ban hành Nghị định
99/2012/NĐ-CP) Từ năm 2003 đến nay, các quyền CSH vốn nhà nước theo Luật DNNN năm 2003 được xác định và phân thành các nhóm quyền như: Các quyền về
tổ chức và nhân sự; Các quyết định về phương hướng phát triển SXKD; Các quyền
về lĩnh vực quản lý vốn và tài sản nhà nước; Các quyền kiểm tra, giám sát kết quảhoạt động kinh doanh
+ Giai đoạn từ 15/11/2012 đến nay (Kể từ khi ban hành Nghị định 99/2012/NĐ
CP) Nghị định 99/2012/NĐ-CP đã làm rõ khái niệm về phân công, phân cấp thựchiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của CSH nhà nước đối với DNNN
- Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng thực hiện chức năng CSH nhà nước đốivới DNNN về cơ bản có kết quả khá thống nhất Trong đó có thể dẫn chứngnghiên cứu của CIEM (2013) làm đại diện, nghiên cứu này đã tổng hợp thực trạngtrên thông qua 3 cơ chế sau đây: (1) Cơ chế đại diện của CSH vốn nhà nước thôngqua bộ quản lý ngành; (2) Cơ chế đại diện CSH nhà nước thông qua các TĐ, TCT, công ty mẹ quản lý công ty con; (3) Cơ chế thực hiện quyền CSH nhà nướcthông qua SCIC
1.2.2.3 Nghiên cứu về phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
- Về phương hướng hoàn thiện quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN
+ Theo Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng [13], việc đổi mới mô hình tổchức thực hiện quyền CSH Nhà nước đối với DNNN cần thực hiện theo các hướngsau đây: (1) Xây dựng mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nướcđối với DNNN đảm bảo tách toàn diện chức năng QLNN với chức năng đại diệnCSH nhà nước; (2) Hoàn thiện khung pháp luật về tổ chức thực hiện quyền, nghĩa
vụ của CSH Nhà nước, hạn chế tối đa tình trạng nhiều cơ quan, nhiều cấp tham giathực hiện quyền đại diện CSH Nhà nước; (3) Đổi mới nội dung, phương thức canthiệp của CSH Nhà nước theo hướng thực hiện quyền CSH với tư cách là thành
Trang 22viên, cổ đông công ty theo nguyên tắc quản trị DN hiện đại; (4) Hình thành cơ chếkiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan thực hiện quyền, nghĩa
vụ của CSH Nhà nước
+ Theo Trần Kim Hào và Nguyễn Thị Nguyệt [21], để nâng cao hiệu quảhoạt động của các DN nhà nước nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế, các tác giả chorằng: Trong giai đoạn 2011 – 2015 theo tinh thần Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg,các Bộ ngành, UBND tỉnh, HĐTV của các TĐ kinh tế, TCT nhà nước cần tập trungđẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN do mình quản lý Định hướng cải tổ DNNN làgiảm số lượng DNNN có cổ phần chi phối, cơ cấu lại DN thành viên theo lĩnh vựcchuyên môn hóa, đảm bảo hiệu quả, thu hút thêm vốn đầu tư của các thành phầnkinh tế khác, tạo ra sự biến đổi về chất trong tổ chức quản trị DN
+ Phạm Quang Trung và Bùi Huy Nhượng [36] Tác giả đã đưa ra một số quan
điểm phát triển và hoàn thiện mô hình TĐ kinh tế nhà nước (TĐKTNN) Quan điểm 1: Hoàn thiện mô hình TĐKTNN theo hướng tái cấu trúc toàn diện các TĐKTNN.
Các TĐ này trước hết phải là một tổ chức kinh doanh có quyền hạn và nghĩa vụ bình
đẳng so với các DN khác, hoạt động và cạnh tranh theo CCTT; Quan điểm 2: Hoàn
thiện mô hình TĐKTNN phải tôn trọng tính đăc thù và tính đa dạng của các TĐKTtrong môi trường kinh tế cạnh tranh, không gò ép các TĐKTNN theo một khuôn
mẫu chung; Quan điểm 3: Hoàn thiện mô hình TĐKTNN phải đảm bảo Nhà nước
thực hiện quyền CSH đối với các TĐKTNN trong khuôn khổ pháp luật, không can
thiệp sâu và trực tiếp vào hoạt động của TĐKTNN; Quan điểm 4: Các TĐKTNN
phải tập trung vào kinh doanh những ngành nghề, lĩnh vực chính được Nhà nước
giao; Quan điểm 5: Tạm ngừng thí điểm thành lập mới TĐKTNN để tập trung hoàn
thiện khung pháp lý, đánh giá tổng thể và tái cấu trúc các TĐKTNN hiện có
- Nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN
+ Đề xuất các chính sách cải cách triệt để khu vực DNNN nhằm tạo đà tăng
trường kinh tế, Phạm Thế Anh và cộng sự [1] Để xuất bốn khuyến nghị: Một là,
minh định rõ lại mục tiêu cung cấp hàng hóa, dịch vụ công của các DNNN để giảm
không chỉ số lượng DNNN mà cả tỷ trọng DNNN trong nền kinh tế; Hai là, cải cách
cơ chế đại diện CSH nhà nước theo hướng tập trung và chuyên nghiệp; Ba là, cải
Trang 23cách hệ thống trách nhiệm và khuyến khích trong việc quản trị DNNN theo hướngngười đại diện vốn CSH là quản gia của Nhà nước; người điều hành DNNN được
hưởng lợi ích theo cơ sở thị trường; Bốn là, DNNN là khu vực tiên phong về minh
bạch thông tin
+ Trên góc độ QLNN, Trần Hữu Nam [25] cho rằng để quá trình tái cấu trúc DNNN thực sự nâng cao được hiệu quả hoạt động của DNNN mà trước tiên là TĐ, TCT nhà nước, cần tập trung thực hiện thành công một số giải pháp sau đây: (1)Tiếp tục đổi mới luật pháp, cơ chế chính sách theo hướng đặt DNNN vào môitrường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các DN khác; (2) Giảm tối đa sự canthiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và DN bằng việc xây dựng Luật đầu
tư công hoặc Luật quản lý vốn nhà nước; (3) Khẩn trương xác định các tiêu chí đánhgiá hiệu quả hoạt động của DN, TĐKT, TCTNN để làm cơ sở cho việc kiểm tra,giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN; (4) Nâng cao chất lượng côngtác quản trị nội bộ DNNN bằng việc ban hành các quy định khung cho một hệ thống
DN hiện đại; (5) Nâng cao năng lực, quyền hạn, trách nhiệm và tính chuyên nghiệpcho cơ quan đại diện CSH bằng việc ban hành cơ chế hoạt động và lựa chọn ngườiđại diện vốn Nhà nước tại công ty có vốn nhà nước; (6) Tiếp tục đẩy mạnh CPH, kể
cả CPH hoàn toàn TCT, thu hẹp tỷ trọng và giảm số lượng DN do Nhà nước nắmgiữ cổ phần chi phối, chỉ duy trì DN 100% vốn nhà nước trong những ngành cầnđộc quyền, có vị trí then chốt trong nền kinh tế…
+ Cũng liên quan đến tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam, Nguyễn Mạnh Quân
(2013) đã kết luận một số vấn đề đáng chú ý: Thứ nhất, cần có nhận thức đúng đắn
về DNNN trong cơ chế KTTT (chức năng, nhiệm vụ, vai trò của DNNN đã thay đổi
trong CCTT); Thứ hai, cần thực hiện các biện pháp kiểm soát hữu hiệu, tích cực
hoạt động của DNNN và đối với các khu vực, lĩnh vực kinh tế thông qua DNNN;
Thứ ba, cần tăng cường năng lực quản lý cho DNNN
- Về đổi mới phương thức thực hiện chức năng CSH nhà nước đối với DNNN + Xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới
phương thức thực hiện chức năng sở hữu nhà nước đối với DNNN, CIEM (2013)cho rằng có thể xác định các giải pháp cần thiết như sau: (1) Chính phủ là cơ quanquản lý thống nhất và tổ chức thực hiện các quyền của CSH nhà nước đối vớiDNNN; (2) Cần xác định rõ chức năng cơ bản của CSH nhà nước và chức năng cơbản của QLNN; (3) Tiếp tục thực hiện giảm thiểu tình trạng nhiều cơ quan, nhiềucấp “đại diện” CSH nhà nước; (4) Xác định đúng phạm vi, đối tượng quản lý của
Trang 24CSH nhà nước; (5) Đổi mới nội dung, phương thức can thiệp của CSH nhà nướctheo hướng thực hiện quyền CSH với tư cách là thành viên, cổ đông công ty theonguyên tắc quản trị DN hiện đại; (6) Cần xác định rõ DN là một pháp nhân độc lậpvới các thành viên và cổ đông của mình; (7) Xác định quan hệ giữa cơ quan thựchiện chức năng đại diện CSH nhà nước với người đại diện theo uỷ quyền là quan hệhợp đồng là chủ yếu; (8) Hình thành cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạtđộng của cơ quan thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước
+ Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng [13] Cho rằng có thể tách chức năngđại diện CSH với chức năng QLNN và hoàn thiện mô hình tổ chức thực hiện chứcnăng đại diện CSH Nhà nước theo 03 phương án sau: (1) Chính phủ thành lập Ủyban Quản lý, giám sát DNNN làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhànước đối với các TĐ kinh tế, TCT Nhà nước quan trọng; (2) Bộ quản lý ngành thựchiện chức năng đại diện CSH Nhà nước tại các TĐ, TCT Nhà nước có ngành nghềkinh doanh chính thuộc ngành quản lý của bộ UBND cấp tỉnh thực hiện chức năngđại diện CSH Nhà nước tại các DNNN sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ côngích trực thuộc SCIC thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước tại các DNNNcòn lại; (3) Chính phủ thống nhất thực hiện quyền, nghĩa vụ CSH Nhà nước đối vớiDNNN thông qua SCIC Ba phương án trên có tính chất, mức độ tập trung, lộ trìnhthực hiện khác nhau và những ưu nhược điểm riêng Phương án thứ 2 có mức độ tậptrung thấp (nhiều đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước); Phương án
1 và phương án 3 có mức độ tập trung cao (ở cấp Trung ương chỉ có một đầu mốithực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước) nhưng có sự khác biệt về đầu mốithực hiện Trong khi tại phương án 1, đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước là một cơ quan trong bộ máy tổ chức Nhà nước thì tại phương án 3 đầumối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước là một DN Tuy nhiên, phương án
1 mang tính toàn diện, đột phá và có nhiều ưu điểm quan trọng, nhất là việc khắcphục triệt để những hạn chế của việc chưa tách bạch chức năng QLNN với chứcnăng đại diện CSH
+ Trần Tiến Cường [12], đã đề xuất những giải pháp có tính định hướng để thựchiện phân tách giữa chức năng đại diện CSH nhà nước và chức năng QLNN như
Trang 25sau: (1) Đổi mới tư duy về thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước tách bạchvới chức năng QLNN của các cơ quan QLNN; (2) Tách về tổ chức bộ máy thựchiện chức năng đại diện CSH Nhà nước; (3) Tăng cường giám sát thực hiện chứcnăng đại diện CSH Nhà nước; (4) Tăng cường quyền lực, trách nhiệm của Quốc hộitrong giám sát thực hiện quyền CSH nhà nước; (5) Tăng cường tính minh bạchtrong thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước; (6) Thiết lập hệ thống thông tin,
dữ liệu về DNNN và xây dựng các căn cứ tạo nền tảng cho việc thực hiện chức nănggiám sát của đại diện CSH nhà nước; (7) Tăng cường năng lực quản trị của ngườiđại diện theo uỷ quyền của CSH nhà nước và người đại diện vốn; (8) Đổi mới cơchế tuyển dụng và cơ chế tiền lương đối với người đại diện CSH nhà nước; (9) Bổsung, hoàn chỉnh khung pháp luật thực hiện quyền CSH nhà nước đối với DNNN;(10) Tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện tách bạch chức năng CSH nhà nước; (11)Quy định về văn bản CSH ban hành tách bạch với văn bản quy phạm pháp luật
- Nghiên cứu về cải cách phương thức quản lý, giám sát phần vốn Nhà nước tại DN
+ Đề tài nghiên cứu của CIEM [6] khuyến nghị cần sớm đổi mới tăng quyềnchủ động hoạt động SXKD, tự chủ về tài chính, giảm sự can thiệp của cơ quan Nhànước trong quá trình hoạt động kinh doanh, tăng cường giám sát thông qua kiểmtoán độc lập, tiêu chuẩn của người đại diện CSH, tách biệt chức năng quản lý kinh
tế và chức năng QLNN trong trong DN và hướng đến giảm dần số lượng DNNN ởmột số lĩnh vực ngành nghề không cần thiết nắm giữ Tuy nhiên, nghiên cứu chưalàm rõ được nội dung bản chất của lý thuyết và thực tiễn, chưa chỉ ra được mô hìnhquản lý vốn áp dụng tại Việt Nam
+ Theo Nguyễn Mạnh Quân [27], cải cách phương thức quản lý, giám sát đốivới DNNN, phân quyền nhiều hơn nhưng kiểm soát chặt chẽ hơn là bài toán cần cólời giải đúng đắn Có thể tiếp cận vấn đề này từ góc độ chức năng quản lý DN Phânquyền cho DNNN nhiều hơn, điều đó có nghĩa là DNNN có nhiều quyền chủ độnghơn trong việc ra quyết định và thực thi các quyết định thuộc các chức năng hoạchđịnh, tổ chức, nhân lực và điều hành Để hỗ trợ DNNN kịp thời và đúng đắn, cơ
Trang 26quan QLNN cần giữ lại và tham gia tích cực vào việc thực hiện chức năng kiểm soáthoạt động của DNNN
+ Nguyễn Cúc [11] cũng cho rằng: Tăng cường vai trò giám sát trong quản lýDNNN, trong đó giám sát việc tổ chức thực hiện vai trò đại diện CSH tại cácDNNN là giải pháp không thể thiếu để tái cấu trúc thành công Kinh nghiệm thếgiới, sau khi tái cơ cấu phải thiết lập một cơ chế giám sát, thực hiện chế độ kiểmtoán, kiểm tra, giám sát công khai, minh bạch Xác định rõ nội dung giám sát củaCSH đối với DNNN
- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN
+ Trần Kim Hào và Nguyễn Thị Nguyệt [21] cho rằng cần thực hiện các giải phápsau đây: (1) tách bạch vai trò quản lý và sở hữu DNNN phù hợp với thực trạng DNNN hiện nay Tuy nhiên, nên thực hiện theo phương án thận trọng, nghĩa là môhình song trùng sau đó chuyển dần sang mô hình tập trung; (2) Cần chú trọng côngtác quản trị DN, quản lý của Nhà nước; (3) Cần hoàn thiện cơ chế giám sát từ phía
cơ quan QLNN để dảm bảo hiệu quả và hiệu lực; (4) Cần tiếp tục cải thiện thể chế,chính sách tạo khung pháp lý đồng bộ để DNNN nâng cao tính tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về hiệu quả SXKD, đẩy mạnh sắp xếp, tái cơ cấu DN, …; (5) Thực hiệncông khai và minh bạch hóa thông tin đối với DNNN ít nhất theo các tiêu chí nhưđang áp dụng đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
+ Phạm Quang Trung và Bùi Huy Nhượng [36], đã đề xuất giải pháp và kiến nghịphát triển và hoàn thiện mô hình TĐKTNN ở Việt Nam với những nội dung : (1)Hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động của TĐKTNN; (2) Nghiên cứu xây dựng
hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đối với DNNN nói chung và TĐKTNN nóiriêng; (3) Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền CSH Nhà nước đối với TĐKTNN; (4)Hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính đối với TĐKTNN; (5) Thay đổi cơ chế chínhsách về nguồn nhân lực đối với TĐKTNN; (6) Phát triển TĐKTNN trên cơ sở táicấu trúc một cách sâu sắc và toàn diện; (7) Tiếp tục đổi mới mang tính “đột phá”mạnh mẽ hơn về tư duy, nhận thức và hành động đối với việc tái cấu trúc và hoànhiện mô hình TĐKTNN; (8) Tạm ngừng thành lập mới TĐKTNN và tiếp tục đẩy
Trang 27nhanh tái cấu trúc, chấn chỉnh tổ chức, hoạt động của TĐKTNN đã được thí điểmthành lập
+ Theo Ngô Quang Minh [24], Hoạt động của các DNNN hiện nay chủ yếutập trung vào hoạt động của các TĐ và các TCTNN, các DNNN còn lại rất ít và quy
mô nhỏ không đáng kể Nếu giải quyết được sự yếu kém của các TĐ và TCTNN, thì
về cơ bản vấn đề DNNN sẽ được giải quyết Để nâng cao hiệu quả hoạt động, nângcao năng lực cạnh tranh của các TĐ, TCTNN cần tập trung vào một số vấn đề sau:(1) Không nên gọi là DNNN mà nên gọi là DN có vốn nhà nước (với các tỷ lệ vốnnhà nước khác nhau) để xóa hẳn sự phân biệt DNNN với các loại DN khác; (2) Cầnnhận thức lại vai trò đích thực của DNNN theo đúng tinh thần của các văn kiện củaĐảng; (3) Cần đặc biệt chú ý đến cơ chế kiểm soát hoạt động của các TĐ và cácTCTNN, cũng như trách nhiệm của tổ chức và cá nhân về lĩnh vực này; (4) Nhànước kiên quyết không ưu đãi, hỗ trợ các TĐ, TCTNN dưới dạng bao cấp hoặc bảohộ; (5) Tiếp tục chuyển đổi sở hữu, tái cơ cấu, xác định phạm vi và tiêu chí cụ thểđối với các DN 100% vốn nhà nước, Nhà nước chiếm cổ phần chi phối; (6) Xâydựng các liên kết kinh tế, kỹ thuật giữa các DNNN với các DN thuộc mọi thànhphần kinh tế nhằm phát huy sức mạnh, khai thác lợi thế, khắc phục yếu kém tronghội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh; (7) Xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm, thương hiệu,
+ Đề tài “Đổi mới, sắp xếp và vấn đề quản trị DNNN ở Việt Nam” do CIEM
thực hiện [5], đã đánh giá về quản trị tại DNNN ở Việt Nam từ năm 1990 - 2005.Kết quả nghiên cứu cho rằng: công tác quản lý vốn nhà nước còn lỏng lẻo, thiếutrách nhiệm, không hiệu quả; việc quyết định đầu tư vốn nhà nước được thực hiệnbởi nhiều cấp dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, chồng chéo, không thống nhất, kémhiệu quả; việc giao vốn, cấp vốn trực tiếp từ ngân sách hoặc cho vay ưu đãi vẫnmang nặng tính hành chính, bao cấp, … Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra nguyênnhân do cơ chế, chính sách pháp luật về quản lý vốn còn chưa đầy đủ, không rõràng, chưa theo kịp xu thế phát triển của nền kinh tế, … Nghiên cứu đã chỉ ra đượcnhững bất cập, nhưng chưa đề xuất được mô hình tổ chức để thành lập một tổ chứckinh doanh vốn độc lập nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước
Trang 28+ Trong nghiên cứu cũng của CIEM [7] đề cập đến khía cạnh DNNN mặc dù
đã chuyển hoạt động theo mô hình công ty TNHH 1TV, tuy nhiên vẫn chưa tự chủtrong kinh doanh mà vẫn giữ thói quen xin phép các cơ quan Nhà nước thực hiệncác vấn đề thuộc thẩm quyền của DN Điều này là do đại diện CSH vẫn chưa trởthành yếu tố cấu thành của quản trị công ty TNHH 1TV do hạn chế về năng lực,trách nhiệm và điều kiện hoạt động để CTCT/Chủ tịch và các thành viên HĐTVđảm nhận chức năng đại diện vốn CSH Mặt khác, quy định về KSV cũng đang tồntại nhiều hạn chế, trong đó vướng mắc lớn nhất là cơ chế hoạt động của các KSVvới tư cách là các cá nhân được CSH bổ nhiệm để kiểm tra, giám sát hoạt động củaBan lãnh đạo công ty chưa rõ ràng Tuy nhiên, vấn đề tồn tại trong thực tế là thànhphần KSV chủ yếu vẫn là người của công ty và do công ty trả lương, …
+ Ngô Kim Thanh [34], đã đề xuất về công tác quản trị DN nhằm thúc đẩy vàđảm bảo quá trình tái cấu trúc DNNN thành công Những vấn đề quản trị quan trọngđược tác giả đề xuất là: (1) Đổi mới tư duy trong quản trị DN; (2) Nâng cao nănglực điều hành DN, trong đó cần tách biệt vai trò lãnh đạo DN và điều hành DN; (3)Nâng cao năng lực quản trị công ty trong DNNN; (4) Tạo sự đồng thuận để tái cấutrúc DNNN thành công
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN 1.3.1 Những vấn đề rút ra từ các nghiên cứu được đề cập ở trên
- Những hướng nghiên cứu đã được thực hiện
Các nghiên cứu về quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN chủ yếu tậptrung vào các hướng nghiên cứu sau: (1) Những vấn đề lý luận và thực tiễn vềDNNN và quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN; (2) Nghiên cứu và đánh giá
hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về quản lý của CSH Nhà nước đối vớiDNNN; (3) Tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam; (4) Mô hình tổ chức thực hiện chứcnăng đại diện CSH Nhà nước đối với DNNN; (5) Quản trị DNNN
- Những kết quả nghiên cứu đã đạt được
+ Hệ thống được những vấn đề lý luận về DNNN và quản lý của CSH nhànước đối với DNNN như các quan niệm khác nhau về DNNN, vai trò của DNNN,quyền của CSH nhà nước và nghiên cứu về các mô hình quản lý của CSH nhà nước
Trang 29đối với DNNN Các nghiên cứu cũng đã phân tích những kinh nghiệm của quốc tế
về quản lý DNNN và rút ra một số bài học có thể ứng dụng cho Việt Nam
+ Hệ thống và đánh giá hệ thống văn bản pháp luật về DNNN và quản lý củaCSH nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam thời gian qua Các nghiên cứu cũng chỉ
ra được những thay đổi tích cực cũng như những hạn chế trong các văn bản phápluật liên quan
+ Khái quát được tiến trình đổi mới phương thức thực hiện chức năng CSHnhà nước đối với DNNN ở Việt Nam thời gian qua Đánh giá thực trạng cơ chế,chính sách, mô hình về quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam hiệnnay
+ Đề xuất những phương hướng và giải pháp để hoàn thiện quản lý của CSHnhà nước đối với DNNN Các giải pháp được chính được đề xuất như: tái cấu trúcDNNN; Đổi mới phương thức thực hiện chức năng CSH Nhà nước; giải pháp nângcao trình độ quản trị DNNN, …
1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Từ những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đã được đề cập ởtrên cùng với bối cảnh mới của KT-XH gắn với những cam kết của hội nhập; sựthay đổi của hệ thống luật pháp, cách mạng công nghiệp 4.0 … Một số vấn đề cầntiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới như:
- Về mặt lý luận, cần tiếp tục làm rõ vai trò, vị trí của DNNN trong thời kỳmới gắn với xu thế phát triển KT-XH và đặc biệt là gắn với những cam kết của hộinhập khu vực và thế giới
- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở lý luận và tổng kết kinh nghiệm quốc
tế về quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN Từ đó làm cơ sở đề xuất xây dựngkhung pháp lý, cơ chế chính sách và mô hình quản lý phù hợp với đặc điểm củaViệt Nam trong bối cảnh mới
- Đánh giá thực trạng quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nướcnắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong đó tập trung vào
Trang 30việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả quản lý như:khung pháp lý, mô hình quản lý và nội dung quản lý
- Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện quản lý của CSH nhànước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam theo hướng hiện
đại, phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết hội nhập
2.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước
Trong tiếng Anh có rất nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để chỉ DNNN như:Government-owned Corporation, State-owned Company, State-owned Entity, StateEnterprise, Publicly owned Corporation, Government Business Enterprise,Government Enterprise, Government Invested Enterprise, Commercial Government Agency,…
Về sở hữu, DNNN được hiểu là DN do Nhà nước nắm giữ toàn bộ VĐL hoặc nắmgiữ quyền chi phối Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí sở hữu để xác định loại hìnhDNNN cũng có sự khác biệt nhất định giữa các quốc gia Vì vậy, nhiều định chếquốc tế, các hiệp định đa phương hoặc song phương đều nỗ lực đưa ra cách hiểuthống nhất về DNNN cho các bên có liên quan trong từng trường hợp
OECD (2005) trong hướng dẫn quản trị công ty trong DNNN đã xác định: “Thuật ngữ DNNN dùng để chỉ các DN mà Nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quan trọng” [65]
Trang 31Theo Liên minh Châu âu (Eropean Union), trong hướng dẫn số 80/723 của Ủy ban
Châu âu (EC) đã định nghĩa: “Doanh nghiệp công (hiểu theo nghĩa kinh doanh) là các chủ thể hoạt động kinh doanh mà các cơ quan công quyền có thể điều hành, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp bởi vai trò của CSH thông qua phần vốn góp hoặc gây ảnh hưởng đến quy tắc hoạt động”[67]
Trong báo cáo của World Bank (1999) đã định nghĩa về DNNN như sau: “DNNN
là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay kiểm soát thuộc về chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ”[38]
Trong các nền kinh tế, tồn tại một khu vực/loại hình tổ chức kinh tế đượcbiết với tên gọi DN Công hữu (Public Enterprise – PE) Cộng đồng Kinh tế Châu
Âu (EEC) và Viện Hàn lâm về Quản lý hành chính (Mỹ) định nghĩa DN công hữu
như sau: “Một DN công hữu hay một DN có sự tham gia của xã hội, là DN trong đó
tổ chức đại diện có quyền kiểm soát thực sự đối với chúng, bất kể phần sở hữu trong đó của họ là nhiều hay ít” và DN công hữu: “được thành lập với tư cách pháp nhân độc lập theo luật định, được tài trợ bằng những khoản vốn góp [từ xã hội] và có quyền sử dụng và tái sử dụng tài sản của mình” [67]
DNNN đang tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên cho đếnnay chưa có một định nghĩa thống nhất mang tính toàn cầu về loại hình DN này.Khái niệm
DNNN đã được nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến trong thời gian qua
Theo Mai Công Quyền [29], trong thời kỳ phát triển ban đầu của mô hìnhDNNN, khái niệm DNNN có nội hàm để chỉ các đơn vị kinh doanh được thành lậpbởi chính quyền Nhà nước Trung ương hay địa phương và các Bộ, ngành thuộcChính phủ, chịu sự kiểm soát từ Chính phủ Theo đó, DNNN chỉ bao gồm duy nhấtcác tổ chức kinh doanh hoàn toàn do Nhà nước hoặc các cơ quan chức năng củaNhà nước cấp vốn Các loại hình DN khác như công ty cổ phần, DN liên doanh,công ty TNHH có phần vốn góp từ Chính phủ, hay các cơ quan của Chính phủ, vớinghĩa hẹp không thuộc loại hình DN này
Trên cơ sở các khái niệm liên quan và sự thay đổi về vị trí chức năng của DNNN trong cơ chế KTTT, Nguyễn Mạnh Quân đã đưa ra định nghĩa:
Trang 32“Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế tự quyết thuộc quyền sở hữucủa nhà nước, do nhà nước kiểm soát và thường được các Chính phủ sử dụng nhưmột công cụ chính sách để thực hiện các mục đích phát triển KT-XH và điều tiếtnền kinh tế thông qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động SXKD” [28]
Tác giả cũng đã trình bày định nghĩa nêu trên dưới dạng biểu thức như sau: DNNN = Kinh doanh + Công hữu = Công cụ + Chính sách Hay:
DN = Kinh doanh = Công cụ = Phương tiện
Nhà nước = Công hữu = Chính sách = Mục đích
Cách định nghĩa trên đã chỉ rõ bản chất của DNNN về tính chất là một tổchức kinh doanh, về sở hữu là thuộc xã hội (toàn dân), trong đó hoạt động kinhdoanh chỉ là công cụ, phương tiện để nhà nước, người đại diện quyền sở hữu xã hội,
có thể thực hiện những mục đích xã hội rộng lớn
Ở Việt nam, khái niệm DNNN cũng có sự thay đổi theo từng thời kỳ Trướcnăm 1995, xí nghiệp quốc doanh (nay là DN do Nhà nước sở hữu 100% VĐL) đượcxác định là những đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước Năm
1995, lần đầu tiên khái niệm DNNN được đưa vào Luật do Quốc hội ban hành Điều
1, Luật DNNN 1995 đã định nghĩa: “DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu KT-XH do Nhà nước giao” Khái niệm này
không nhắc đến vấn đề sở hữu, nhưng hàm ý xác định Nhà nước nắm giữ toàn bộVĐL
Sau khi Luật DNNN năm 2003 được ban hành, khái niệm DNNN có thay đổi căn
bản, theo đó “DN Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ VĐL hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối” hoạt động dưới hình thức công ty Nhà nước quy
định tại Luật này Tiếp đó, Luật DN năm 2005 tại Khoản 22, Điều 4 định nghĩa:
“DNNN là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% VĐL” và gần đây nhất tại kỳ
họp thứ 8 ngày 26 tháng 11 năm 2014, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóaXIII đã thông qua Luật số: 68/2014/QH13-Luật DN (Luật DN 2014), Luật DN 2014
đã quy định rõ: “DNNN là DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL” [32]
Trang 332.1.1.2 Khái niệm v doanh nghiệp do N ước nắm giữ 100% vố u lệ
Khái niệm DNNN ở Việt Nam thay đổi theo tiến trình thay đổi các văn bảnluật, căn cứ quan trọng nhất để xác định DNNN là tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước Theo Luật DN 2005, DNNN là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% VĐL Tuy nhiên,thực tế vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về phạm vi, đối tượng DNNN theo địnhnghĩa này, nhất là các DN thành viên của các TĐ kinh tế và TCT Nhà nước Nghịđịnh 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm,nghĩa vụ của CSH nhà nước đối với DNNN đã làm rõ hơn khái niệm DNNN TheoNghị định này, DNNN là DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% VĐL, bao gồm 2 loại
như sau [14]: Một là, DN mà Nhà nước nắm giữ 100% VĐL là công ty TNHH 1TV; Hai là, DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% VĐL là công ty cổ phần, công ty
TNHH hai thành viên trở lên Tuy nhiên, khi Luật DN 2014 ra đời với quy địnhDNNN là DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL thì DNNN chỉ còn duy nhất mộtloại là: công ty TNHH 1TV do nhà nước nắm giữ 100% VĐL
Trên góc độ sở hữu, Điều 200 Luật Dân sự 2015 về thực hiện quyền sở hữutoàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp quy định: khi tài sản thuộc sởhữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ
sở hữu với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quản lý, sử dụngvốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp [33]
Từ những vấn đề trên, Luận án đưa ra khái niệm DN do Nhà nước nắm giữ
100% VĐL như sau: Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là Doanh nghiệp nhà nước, do Nhà nước làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp và hoạt động dưới hình thức Công ty TNHH 1TV do nhà nước nắm giữ 100% VĐL
Công ty TNHH 1TV do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL bao gồm: (1) Công ty TNHH 1TV do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL là công ty mẹ của TĐ kinh tế nhànước, công ty mẹ của TCT nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công tycon; (2) Công ty TNHH 1TV độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL
2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Trang 34Từ khái niệm và kết hợp với so sánh với các loại hình DN khác (DN tư nhân,CTCP, Công ty TNHH 2TV trở lên, công ty hợp danh…), DN do Nhà nước nắm giữ100% VĐL (DNNN) có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Đặc điểm pháp lý
Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, “doanh nghiệp” được hiểu là "Tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sớ giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Bởi vì
DNNN mang những đặc điểm của doanh nghiệp nói chung nên DNNN hoạt độngcũng vì mục đích kinh doanh Tuy nhiên mục tiêu lợi nhuận không phải lý do duynhất để thành lập các DNNN Nhà nước không đầu tư ồ ạt hay tràn lan vào mọi lĩnhvực mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như năng luợng,viễn thông, hàng không (ví dụ như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam,Tập đoàn Điện lực Việt Nam ) DNNN hoạt động trong những ngành nghề quantrọng hoặc những ngành nghề, khu vực mà tư nhân không đầu tư, do đó ngoài mụctiêu tìm kiếm lợi nhuận, các DNNN đã trở thành một công cụ thực hiện vai trò điềutiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước, ổn đinh thị trường và giải quyết những vấn đề
xã hội
- Đặc điểm về sở hữu
Vấn đề sở hữu đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (DNNN) kháphức tạp với nhiều tầng nấc khác nhau Ai là chủ sở hữu của DNNN? Theo quy địnhcủa Hiến pháp thì DNNN thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện TheoLuật Dân sự 2015, Nhà nước thực hiện hiện quyền chủ sở hữu đối với tài sản thuộc
sở hữu toàn dân đầu tư vào DN Như vậy, có thể khẳng định Nhà nước là CSH duynhất đối với DNNN Tuy nhiên trên thực tế, Nhà nước lại trao quyền CSH cho các
cơ quan nhà nước – cơ quan đại diện CSH Nhà nước (Chính phủ, Bộ ngành, UBNDtỉnh, Công ty quản lý vốn…) và các cơ quan này lại thành lập các tổ chức
(như HĐTV) hay cử các cá nhân (như CTCT) để đại diện cho các cơ quan đó thựchiện quyền của CSH tại DN
DN 100% VNN sau khi thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thểkinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là
Trang 35người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giaovốn cho DN, DN phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và pháttriển vốn mà Nhà nước giao
- Đặc điểm về hình thức của DN và mô hình tổ chức quản lý
DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL tồn tại dưới hình thức công ty TNHH1TV do nhà nước làm CSH, các DN này sẽ không còn tồn tại dưới dạng CTCP theocác hình thức khác nhau Do vậy, mặc dù CSH là Nhà nước nhưng cũng chỉ chịutrách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trongphạm vi VĐL
Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm CSH có thể được tổ chứcquản lý theo 2 mô hình: mô hình HĐTV hoặc mô hình CTCT Theo mô hìnhHĐTV, cơ cấu tổ chức quản lý Công ty bao gồm: HĐTV, KSV chuyên trách, TGĐ,các Phó TGĐ, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc Theo mô hình CTCT, cơ cấu tổchức quản lý bao gồm: CTCT, TGĐ, các Phó TGĐ, KSV, Kế toán trưởng và bộmáy giúp việc
- Đặc điểm về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản
Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% VĐL (DNNN) hoạt động dưới hìnhthức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, theo khoản 2 Điều 73 Luật Doanh
nghiệp (2014) quy định “công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” Do đó,
DNNN cũng có tư cách pháp nhân
Doanh nghiệp nhà nước thực hiện hoạt động kinh doanh độc lập, tham gia vàocác giao dịch, chịu trách nhiệm riêng bằng tài sản của doanh nghiệp (bao gồm tàisản hình thành từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước, những khoản hỗ trợ, tài sản hìnhthành trong quá trình doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, ) và hoạt động theo sựđiều tiết của nền kinh tế thị trường, chịu tác động bởi những quy Luật Cạnh tranh,không phụ thuộc vào những mệnh lệnh hành chính của nhà nước
Do có tư cách pháp nhân, khi tham gia thực hiện các giao dịch DNNN chịutrách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính và các khoản nợ phát sinh trong hoạt động
Trang 36kinh doanh bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của DN Ngoài ra, cũng giống nhưCSH công ty TNHH một thành viên khác, nhà nước - với tư cách là CSH củaDNNN - chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanhnghiệp trong phạm vi phần vốn Nhà nước cam kết góp vào DN
2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Về mặt lý luận, vai trò của DNNN (hay DN do Nhà nước nắm giữ 100%VĐL) được thể hiện trên những nội dung sau:
- Theo lý thuyết học về phúc lợi, Tulkens, Nelson, và Shepherd (1976) chỉ ra
có 2 nhóm lý lẽ kinh tế ủng hộ sự hình thành DNNN: hiệu quả kinh tế và mục tiêu
xã hội Theo nhóm lý lẽ hiệu quả kinh tế, sự tồn tại của DNNN là cần thiết để hiệuchỉnh các khiếm khuyết của thị trường như thị trường độc quyền tự nhiên, tính kémhiệu quả của thị trường vốn (đầu tư vào các lĩnh vực tư nhân không muốn), sự hiệndiện của các hiệu ứng ngoại hiện như tạo mới công nghệ, và tính bất bình đẳng củathị trường Theo nhóm lý lẽ mục tiêu xã hội, sự vận động của thị trường khiến chomột số bộ phận dân cư bị thiệt thòi do không thích ứng được với sự thay đổi cơ cấukinh tế Việc hình thành DNNN sẽ giúp cho Nhà nước dễ dàng hỗ trợ những bộphận thiệt thòi này thông qua các chính sách trợ giá, chẳng hạn trợ cấp giáo dục hay
y tế qua hệ thống trường công và bệnh viện công
- Theo khung lý thuyết của kinh tế học thể chế mới (NIEs) được xây dựng bởicác nhà kinh tế nổi tiếng như Coase, Williamson và North Khác với kinh tế học vi
mô chính thống, NIEs không hướng đến giải quyết vấn đề phân bổ nguồn lực hiệuquả Vì thế khi ứng dụng phân tích cho khu vực DNNN, NIEs không đặt vấn đề vềvai trò của DNNN như là một công cụ để hiệu chỉnh các sai lệch/thất bại của thịtrường Đối với các nhà kinh tế thuộc NIEs thì DNNN hay DN tư nhân chỉ là nhữngcấu trúc quản chế (governance Structure) khác nhau để ràng buộc các giao dịch diễn
ra giữa các chủ thể Để xác lập được vị trí của DNNN trong nền kinh tế, các nhàkinh tế học thể chế đặt câu hỏi: một dịch vụ/hàng hóa công ích được cung ứng bằngcấu trúc quản chế nào sẽ cho chi phí giao dịch thấp hơn? Các cấu trúc quản chế sẵn
có để lựa chọn ở đây có thể là các đơn vị hành chính nhà nước, các tổ chức phi lợinhuận, các DNNN với mức độ sở hữu khác nhau, các công ty tư nhân bị điều tiết,
Trang 37hay các công ty tư nhân/cá nhân độc lập Picot và Wolff (1994) đã xác lập ba tiêuchí dựa trên các đặc điểm: thuộc tính của dịch vụ/hàng hóa công được giao dịch;việc xác lập các quyền tài sản; và vấn đề mối quan hệ ủy thác – đại diện
- Trong hướng dẫn của OECD [65] về quản trị công ty trong DNNN khi đềcập đến vai trò của DNNN cho rằng: bất chấp những tranh luận về hiệu quả hoạtđộng, kinh doanh và cạnh tranh, các DNNN vẫn đang tồn tại hoạt động khách quantrong hầu hết các nền kinh tế Ở nhiều nước, kể cả các nước công nghiệp phát triển,DNNN vẫn chiếm một tỷ lệ quan trọng trong GDP, lực lượng lao động và vốn.DNNN thường chủ yếu hoạt động trong các ngành cung cấp dịch vụ công cộng và
cơ sở hạ tầng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đây là những ngành có tác động lớn đối với phần lớn dân cư và các ngành kinh tế khác
- Vai trò của DNNN được luận giải xuất phát từ vai trò của Nhà nước trongquản lý, điều tiết KT-XH Với tư cách là “cánh tay nối dài” đảm nhận một phần vaitrò, chức năng của Nhà nước, DNNN thường được giao đảm nhận các vai trò cụ thểsau: (1) Giúp khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường và khu vực tư nhân;(2) Đảm nhận những lĩnh vực mới, tạo động lực phát triển cho một số ngành, lĩnhvực khác và toàn bộ nền kinh tế nhưng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn vượt quá khảnăng của các DN tư nhân trong nước; thời gian thu hồi vốn chậm, hệ số rủi ro cao,các DN tư nhân không muốn tham gia
- Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Kinh tế nhà nước là thành phầnkinh tế dựa trên chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất (sở hữutoàn dân và sở hữu nhà nước) Kinh tế nhà nước bao gồm các DNNN, các quỹ dựtrữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước cóthể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế “Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạotrong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước địnhhướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế” Các DNNN, bộ phận quan trọng nhất củakinh tế, giữ vị trí then chốt; phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học vàcông nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả KT-XH và chấp hànhpháp luật
Trang 38Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý cũng như quản lý, điều hànhDNNN ở Việt Nam, DN do nhà nước nắm giữ 100% vốn có những vai trò cụ thểnhư sau:
Thứ nhất, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế và là công cụ vật chất quan
trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết, bình ổn giá cả, đảm bảo các cân đối lớn,góp phần ổn định kinh tế vĩ mô;
Thứ hai, cung cấp sản phẩm, dịch vụ trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh và
các sản phẩm dịch vụ thiết yếu cho xã hội mà thị trường không đảm bảo cung ứngnhằm duy trì phúc lợi chung cho xã hội;
Thứ ba, đầu tư vào những địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó
khăn, vùng sâu, vùng xa mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư nhằm mụcđích phát triển KT-XH miền núi, vùng sâu, vùng xa, giảm sự chênh lệch với cácvùng khác;
Thứ tư, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh
vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn;
Thứ năm, là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.4 Chủ sở hữu v gườ ại diệ ối với doanh nghiệp do N ước nắm giữ 100% vố u lệ
2.1.4.1 Khái niệm về chủ sở hữu và người đại diện
CSH (principals) là chủ của các nguồn lực, còn người đại diện (Agent) hayquản lý là người được ủy quyền (được thuê) của CSH nguồn lực và được CSHnguồn lực trao một số quyền hành nhất định đối với nguồn lực của người CSH đểphục vụ lợi ích của CSH
Ví dụ, trong các DN, các GĐ, quản lý và người làm công là người được ủyquyền theo luật định (được thuê – Agents) để tối đa hóa lợi nhuận từ DN cho CSH,
và các cổ động (Principals) Trong Chính phủ và các cơ quan quyền lực của nhànước, các chính khách, quan chức chính phủ, quan tòa hay những người được cử tri,hay nhân dân trao quyền cho họ để đưa ra các quyết định chính sách công, điềuhành đất nước nhằm phục vụ lợi ích của cử tri hay công dân nước họ
Trang 39Ngoài ra Theo Điều 164 Luật Dân sự 2005, Quyền sở hữu bao gồm quyềnchiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của CSH theo quy định củapháp luật; CSH là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ 3 quyền là quyền chiếmhữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản [30] Theo cách hiểu trên, CSH đãgiao quyền sử dụng (điều hành) tài sản của mình cho người người đại diện (ngườiquản lý) nhằm thực hiện mục tiêu của CSH
2.1.4.2 Mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người đại diện
Trong khoa học kinh tế và chính trị, vấn đề CSH và người đại diện haynghịch lý đại diện đề cập đến những khó khăn nảy sinh trong điều kiện thông tinkhông hoàn hảo và không cân xứng khi CSH thuê người đại diện để thực hiện lợiích của mình, nhưng người đại diện có thể không hành động vì lợi ích của CSH mà
vì bản thân họ (tư lợi)
Do có sự tách biệt giữa CSH và người đại diện hay tách biệt giữa quyền sởhữu và quyền điều hành, nên về mặt lý thuyết và thực tế đã xuất hiện vấn đề khi mộtngười hoạt động vì lợi ích của người khác, thì về bản chất người đại diện công ty luôn có xu hướng tư lợi cho họ hơn là hành động vì người CSH và các cổ đông [66]
Nguyên nhân của hiện tượng trên là do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vàquyền điều hành đã tạo ra thông tin không cân xứng, người điều hành (đại diện) có
ưu thế hơn CSH về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sátcác hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp nên đối vớingười đại diện hành động theo nhiệm vụ được giao là vì lợi ích của những ngườikhác thì họ sẽ cần đến động lực phù hợp như được hưởng kết hợp một số lợi ích nhưvật chất, tinh thần hoặc bị bắt buộc thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ được ủy thác.Thông thường với nhiều quyền tự chủ, nhiều động lực vật chất và tinh thần thìngười đại diện hay được ủy quyền sẽ làm việc hiệu quả và đẩy đủ hơn nhiệm vụ màngười CSH giao cho, còn việc trừng phạt có tính cưỡng bức thì hiệu quả sẽ thấphơn Do vậy, DN cần phải xây dựng theo cách mà người đại diện hăng say, cần cùlàm việc theo hướng lợi ích của CSH của họ và lợi ích của họ là gắn liền với nhautrong dài hạn
Trang 402.1.4.3 Chủ sở hữu và người đại diện đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Theo Điều 53, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện CSH và thống nhất quản lý” Mặt khác, theo
Điều 200 Luật Dân sự 2015 về thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được
đầu tư vào DN: “Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó…” Theo đó, Nhà
nước là CSH đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL Sau đó, Nhà nước lạigiao cho các tổ chức, cá nhân (trực thuộc) thực hiện chức năng đại diện cho CSHNhà nước tại DN Như vậy, phần tài sản thuộc sở hữu toàn dân tại DNNN ở
cấp cuối cùng được giao cho một số tổ chức, cá nhân đại diện, giám sát, điều hành
DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước Sau khiđược thành lập, DNNN là một chủ thể kinh doanh nhưng không có quyền sở hữuđối với tài sản mà chỉ là người quản lý, kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước.Nhà nước giao vốn cho DNNN và DNNN phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước vềviệc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao cho để duy trì khả năng kinhdoanh của DN Tất cả các DN đều chịu sự quản lý trực tiếp của một cơ quan Nhànước có thẩm quyền theo sự phân cấp của Chính phủ Vấn đề vốn và việc sử dụngvốn của DNNN, vốn Nhà nước giao cho DN quản lý và sử dụng là vốn ngân sáchcấp, vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của DNNN tự lích lũy
Theo Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào SXKD tại DN (2014), một số khái niệm liên quan đến CSH Nhà nước như sau:
“Cơ quan đại diện CSH nhà nước là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao
thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện CSH nhà nước đối với DN do mình quyếtđịnh thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phầnvốn nhà nước đầu tư tại CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên Hiện nay ởnước ta, cơ quan đại diện CSH nhà nước tại DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL làChính phủ, các Bộ ngành, chính quyền địa phương, SCIC (SCIC) theo phân công,