1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Biện pháp tái cấu trúc tổ chức sản xuất

74 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, hoạt động tái cấu trúc tổ chức sản xuất của doanh nghiệp đóng tàu là một đòi hỏi khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.. Mục đích nghiên cứu đề tài

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Văn Hiệp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

HẢI PHÒNG, NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Một số biện pháp tái cấu trúc tổ chức sản

xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017-2020” là

đề tài nghiên cứu của tôi Những kết quả và các số liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Hải Phòng, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trang 3

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể thầy, cô giáo Trường Đại học Hải Phòng đã giảng dạy, cung cấp kiến thức cho tác giả, tạo nền tảng

lý luận cần thiết để nghiên cứu đề tài này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn các Phòng, Ban chuyên môn của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp thông tin thực

tế về hoạt động kinh doanh, nhân sự… của Công ty; Khoa Đào tạo Sau đại học đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả hoàn thiện hồ sơ bảo vệ luận văn

Hải Phòng, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT KINH DOANH 4

1.1 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc doanh nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm về tái cấu trúc doanh nghiệp 4

1.1.2 Vai trò của tái cấu trúc trong doanh nghiệp 6

1.1.3 Ý nghĩa của tái cấu trúc trong doanh nghiệp 8

1.2 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 9

1.2.1 Khái niệm tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 9

1.2.2 Vai trò và mục tiêu của tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 10

1.2.3 Khái niệm tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 11

1.2.4 Các nguyên tắc của tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 12

1.2.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 15

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẤU TRÚC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐÓNG TÀU HỒNG HÀ 18

2.1 Tổng quan về Công ty 18

2.1.1 Khái quát về Công ty 18

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 18

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 19

2.1.4 Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty 19

2.1.5 Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 23

2.2 Đánh giá thực trạng cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty 25

Trang 5

2.2.1 Cơ chế hoạt động của doanh nghiệp 25

2.2.2 Quy hoạch mặt bằng công nghệ 25

2.2.3 Tổ chức và công nghệ sản xuất 27

2.2.4 Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong tổ chức sản xuất của Công ty27 2.2.5 Đánh giá thực trạng trang thiết bị trong tổ chức sản xuất của Công ty 30 2.2.6 Đánh giá thực trạng quản trị quá trình tổ chức sản xuất của Công ty 34

2.3 Đánh giá chung về cấu trúc tổ chức sản xuất của Công ty 36

2.3.1 Những mặt mạnh cần phát huy và căn nguyên của nó 36

2.3.2 Những mặt hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của nó 37

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐÓNG TÀU HỒNG HÀ GIAI ĐOẠN 2017 - 2020 40

3.1 Lựa chọn Quy mô chiến lược cho Công ty đóng tàu Hồng Hà 40

3.2 Một số biện pháp tái cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017 - 2020 41

3.2.1 Tái cấu trúc quy hoạch mặt bằng sản xuất trên cơ sở lý thuyết Muther 41 3.2.2 Phân tích, đánh giá chuỗi công việc trong dự án đóng tàu theo sơ đồ Pert 46

3.2.3 Tái cấu trúc quản trị nguồn nhân lực theo học thuyết Maslow 47

3.2.4 Lựa chọn phương án tái cấu trúc quản lý các dự án đóng tàu 51

3.2.5 Lựa trọn giải pháp công nghệ phù hợp 54

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Số hiệu

2.2 Mặt bằng phân khu chức năng sử dụng hiện tại của Công

2.4 Cơ cấu độ tuổi lao động tại Công ty giai đoạn 2012-2016 29

2.5 Cơ cấu giới tính lao động tại Công ty giai đoạn

2.6 Máy móc, thiết bị sản xuất chính của Công ty Hồng Hà 32

3.1 Các hạng mục mở rộng mặt bằng của Công ty Hồng Hà 46

3.2 Nhân lực đề xuất với diện tích hiện tại của Công ty Hồng

3.4 Bảng kết quả tính toán số lao động tại từng bộ phận 50

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Số hiệu

3.1 Sơ đồ khối thiết kế nhà máy đóng tàu theo Muther 42

3.4 Xây dựng kế hoạch trên cơ sở định lượng công việc

3.6 Báo cáo bằng biểu đồ theo phương pháp quản lý dự báo 52

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi để Việt Nam có động lực phát triển nhanh hơn, và sớm thoát khỏi những nước có thu nhập thấp trong thời gian tới Hội nhập kinh tế quốc tế cũng sẽ tạo ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam đã có những giai đoạn thay đổi để bắt kịp nhu cầu phát triển của xã hội Hơn hai mươi năm của quá trình đổi mới, các doanh nghiệp đã nỗ lực thay đổi và đã đạt được những kết quả nhất định

Ngành đóng tàu của Việt Nam là một trong những ngành có đóng góp rất quan trọng cho nền kinh tế Hiện nay, yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới đã đặt các doanh nghiệp đóng tàu trong bối cảnh phải tái cấu trúc tổ chức sản xuất nhằm đạt năng suất cao, chất lượng ổn định Sự cần thiết phải tái cấu trúc xuất phát từ những sự thay đổi trong bản thân doanh nghiệp cũng như xuất phát từ sự thay đổi của môi trường kinh doanh

Thứ nhất, sự thay đổi trong định hướng chiến lược Môi trường kinh doanh thay đổi, xuất hiện nhiều nhân tố mới ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đóng tàu Quy mô doanh nghiệp lớn lên nhanh chóng, lao động và vốn chủ sở hữu đã tăng nhanh do nhu cầu của thị trường ngày các mở rộng Sự thay đổi về quy mô đòi hỏi các doanh nghiệp phải điều chỉnh, thay đổi bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp với hiện tại

Thứ hai, xuất hiện những hạn chế, bất hợp lí của cơ cấu tổ chức cũ trong môi trường hiện tại, buộc các doanh nghiệp phải có những thay đổi Sự thay đổi về phạm vi hoạt động, sự đa dạng của lĩnh vực sản xuất kinh doanh Phạm vi hoạt động ngày càng rộng hơn, không chỉ giới hạn trong một địa bàn tỉnh, thành phố, hay một quốc gia, mà nó đã mở rộng trên thị trường các nước trên thế giới Hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư sản xuất, mở rộng thị trường

Trang 10

ra nước ngoài là xu thế phát triển mạnh đối với các doanh nghiệp đóng tàu hiện nay

Bởi vậy, hoạt động tái cấu trúc tổ chức sản xuất của doanh nghiệp đóng tàu là một đòi hỏi khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay Tái cấu trúc tổ chức doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Quá trình tái cấu trúc sẽ thổi vào doanh nghiệp một luồng gió mới, một phong cách mới với sự thay đổi một cách toàn diện Sự đổi mới này tạo cho doanh nghiệp có khả năng để thực hiện những công việc của mình một cách hiệu quả và bền vững, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, nâng cao vị thế trên thị trường

Xuất phát từ mục đích đẩy mạnh và hoàn thiện hoạt động tái cấu trúc

các doanh nghiệp đóng tàu, tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp tái cấu trúc

tổ chức sản xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017-2020” là đề tài luận văn của mình

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Làm rõ một số vấn đề về lý luận liên quan đến tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và thực tiễn cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp giúp hoàn thiện việc tái cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017 - 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc tổ chức sản xuất và các vấn đề liên quan đến cấu trúc tổ chức sản xuất, quy hoạch và hợp lý hóa sản xuất của Công ty Đóng tàu Hồng Hà

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Tại các Phòng, Ban chuyên môn, Xí nghiệp, các Phân xưởng của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà

Trang 11

Phạm vi thời gian: Thực trạng tình hình tái cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà từ năm 2017 - 2020

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình hoàn thiện, luận văn nghiên cứu và vận dụng từ các tài liệu đã được công bố, liên quan đến tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong các doang nghiệp, các sách báo, tạp chí, Internet và các công trình khoa học khác

Số liệu về tình hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà từ năm 2012 - 2016 được lấy từ các báo cáo của Công ty

Số liệu từ các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản về tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà

Đề xuất được một số một số biện pháp hoàn thiện tái cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017 - 2020

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT KINH DOANH 1.1 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về tái cấu trúc doanh nghiệp

Phạm vi của tái cấu trúc doanh nghiệp rất rộng, được đề cập tới trên cả

ba giác độ là thể chế, thiết chế và định chế Về Thể chế, hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp nhằm định ra một trật tự mới thông qua các luật, văn bản dưới luật để thực hiện quyền lực của Nhà nước đối với các doanh nghiệp Về thiết chế, đây là các quy định nội bộ, quy định các mối quan hệ dọc ngang, trên dưới của các bộ phận cấu thành doanh nghiệp và được thể hiện thông qua hệ thống điều lệ, quy chế, quy định, nội quy cũng như hệ thống quy trình, quy phạm kỹ thuật chuyên ngành khác Về định chế, được hiểu là các thành phần,

bộ phận như là các Tổng công ty, Công ty trong Tập đoàn hay các công ty, doanh nghiệp trong một Tổng công ty Về khía cạnh định chế, việc tái cấu trúc doanh nghiệp được thể hiện qua việc tách, nhập, thành lập mới, xóa bỏ các bộ phận, các công ty con, các lĩnh vực kinh doanh nhằm hướng tới sự phù hợp và hiệu quả cao hơn Có thể hiểu tổng quát tái cấu trúc doanh nghiệp là tổng hợp toàn bộ sự thay đổi cả về thể chế, thiết chế và định chế để quản lý doanh nghiệp theo một trật tự pháp luật chặt chẽ hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn Trong luận án, ta mong muốn làm rõ hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp từ góc độ định chế, và xem xét trong mối quan hệ với thể chế và thiết chế Thuật ngữ “tái cấu trúc doanh nghiệp” hiện nay được nhắc đến rất nhiều như một điều kì diệu giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn Tuy nhiên, hiểu thế nào là tái cấu trúc doanh nghiệp thì lại là một vấn đề đang được bàn luận khá nhiều

Quan điểm thứ nhất: Tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với sự thay đổi của chiến lược kinh doanh Quan điểm này cho rằng, tái cấu trúc là việc áp dụng vào điều chỉnh hướng chiến lược cũng như tầm nhìn chiến lược của doanh nghiệp Từ đó dẫn đến việc phải thay đổi cách thức quản lý tài chính và

Trang 13

nguồn nhân lực cho thích hợp Nhiệm vụ của tái cấu trúc doanh nghiệp là tái cấu trúc chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, xác định lại mục tiêu, tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xác định các định hướng về lĩnh vực sản phẩm, thị trường và khách hàng trong bối cảnh mới Điều này giúp cho doanh nghiệp định hướng tốt về thị trường - sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Sở dĩ phải điều chỉnh hướng chiến lược kinh doanh là do sự thay đổi của môi trường kinh doanh Các doanh nghiệp nhận thấy việc tiếp tục áp dụng chiến lược kinh doanh hiện tại không làm tăng hiệu quả kinh doanh, chiến lược hiện tại tỏ ra không còn thích hợp trong điều kiện mới của thị trường và môi trường

Quan điểm thứ hai: Tái cấu trúc doanh nghiệp tiếp cận theo hướng cắt giảm chi phí, thích hợp trong trường hợp kinh tế suy thoái, khủng hoảng Quan điểm này cho rằng tái cấu trúc là quá trình cắt giảm lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mục đích của tái cấu trúc doanh nghiệp theo quan điểm này là cắt giảm tới mức tối đa có thể nhằm đạt được

sự “cải thiện vận hành” ở một mảng nào đó trong doanh nghiệp, hay chí ít là

để doanh nghiệp có thể tồn tại được qua giai đoạn khó khăn của nền kinh tế Điều này thể hiện trong các trường hợp sau:

- Quyết định cắt giảm chi phí khi phát hiện chi phí ở một khâu nào đó phát sinh quá lớn, vượt ra khỏi sự kiểm soát của công ty;

- Quyết định loại bỏ, hoặc bán bớt một lĩnh vực kinh doanh để đầu tư cho lĩnh vực kinh doanh khác trong thời điểm khó khăn;

- Quyết định thu hẹp quy mô để tồn tại qua thời kỳ suy thoái, khủng hoảng

Quan điểm thứ ba: Tái cấu trúc doanh nghiệp tiếp cận theo hướng thay đổi, thiết lập hệ thống tổ chức mới, nhân sự mới nhằm nâng cao hiệu quả của

tổ chức Tái cấu trúc doanh nghiệp là việc sắp xếp, điều chỉnh lại cơ cấu hoạt động, cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ cấu thể chế, cơ cấu các nguồn lực của doanh

Trang 14

nghiệp bao gồm nguồn nhân lực và nguồn vốn Theo quan điểm này, các bộ phận trong tổ chức hoạt động không hiệu quả cần được loại bỏ hoặc tách, sáp nhập nhằm thống nhất trong công tác quản lý và ra quyết định Cũng theo quan điểm này, nếu nhận thấy việc bố trí nhân sự hiện tại là chưa phù hợp, chưa phát huy được năng lực làm việc của nhân viên, hay chính sách nhân sự của công ty chưa thực tạo động lực cho người lao động thì doanh nghiệp nên điều chỉnh, tái cơ cấu bộ máy tổ chức để tìm kiếm tính phù hợp và hiệu quả Như vậy quan điểm này nhấn mạnh vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp

Quan điểm thứ tư: Tái cấu trúc doanh nghiệp tiếp cận theo hướng thay đổi, thiết lập, sắp xếp lại các quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp Tái cơ cấu tiếp cận theo hướng tái cấu trúc quá trình kinh doanh Bản chất là sắp xếp lại các quá trình cốt lõi của doanh nghiệp để tăng hiệu quả, tính cạnh tranh, và đảm bảo tính hiệu quả Trong điều kiện hội nhập hiện nay thì tái cơ cấu doanh nghiệp hướng tới việc thay đổi các tư duy trong quản lý, tái cấu trúc lại các quá trình kinh doanh phù hợp với định hướng kinh doanh của doanh nghiệp Quan điểm này về tái cấu trúc doanh nghiệp trên cơ sở thiết kế lại các quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp

Xuất phát từ các quan niệm trên, ta thấy tái cấu trúc doanh nghiệp có nhiều cách hiểu khác nhau theo từng cách tiếp cận khác nhau Có thể đưa ra một quan điểm chung như sau:

Tái cấu trúc doanh nghiệp là quá trình thay đổi định hướng chiến lược kinh doanh; thiết lập lại cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ cấu nguồn lực; cắt giảm các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh; thiết kế lại các quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn biến động [8, tr128]

1.1.2 Vai trò của tái cấu trúc trong doanh nghiệp

Tái cấu trúc doanh nghiệp có thể được đề cập đến toàn bộ các mảng hoạt động của doanh nghiệp Việc thay đổi, điều chỉnh, sắp xếp các hoạt động trong doanh nghiệp nhằm hướng tới hiệu quả cao hơn

Trang 15

Thứ nhất, tái cấu trúc tổ chức sản xuất đánh giá và thiết kế lại các quá trình hoạt động sản xuất để đạt được hiệu quả Tái cấu sẽ bắt đầu từ những quy trình cũ Hoạt động này thường được thực hiện trên cơ sở chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thay đổi Tái cấu trúc sẽ là nền tảng và điểm xuất phát để tái cấu trúc các hoạt động khác trong doanh nghiệp

Thứ hai, việc tái cấu trúc tổ chức tập trung vào các hoạt động như đổi mới, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị và cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất Tái cấu trúc tổ chức bộ máy quản trị được thực hiện với việc xây dựng lạitoàn bộ sơ đồ cơ cấu tổ chức, thậm chí thay đổi bề mặt, có tính hình thức các phòng ban chức năng, thay tên gọi, nhằm hướng tới một cơ cầu tổ chức mới có hiệu quả kinh doanh cao hơn Tái cấu trúc tổ chức bộ máy sản xuất liên quan đến việc thay đổi, sắp xếp lại hệ thống sản xuất một cách khoa học, đem lại hiệu quả cao trong phối hợp thực hiện Ngoài ra, điều chỉnh cơ cấu tổ chức còn gắn với quá trình thay đổi, sắp xếp lại cơ cấu nguồn nhân lực trong việc phối hợp công việc để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Hoạt động này được thực hiện khi chiến lược kinh doanh thay đổi, dẫn đến việc thay đổi các quá trình kinh doanh và do đó, cần phải tái cấu trúc tổ chức doanh nghiệp

Thứ ba, tái cấu trúc hướng tới việc điều chỉnh nguồn tài chính trong doanh nghiệp, huy động và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả Thứ tư, tái cấu trúc các hoạt động khác là quan tâm đến tính hệ thống và chuyên nghiệp trong phương thức thực hiện công việc, phối hợp công việc và điều hành công việc Tái cấu trúc thường quan tâm đến việc xem xét các hệ thống lập kế hoạch kinh doanh, hệ thống quản trị chuỗi cung, quản trị thông tin, hệ thống quản trị nhân lực, hệ thống quản trị tài chính và quản trị quan hệ khách hàng

Các vai trò trên của tái cấu trúc doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau Trong điều kiện hiện nay, do áp lực từ phía bên trong và bên ngoài

để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải tiến hành tái cấu trúc để phù hợp với xu hướng quốc tế hóa, ứng dụng các mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp trên thế giới Tuy

Trang 16

nhiên, tái cấu trúc đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy quản lý, cải cách về quản lý, tái cơ cấu lại các quá trình kinh doanh, trên cơ sở đó định hình mô hình và cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Tóm lại, vai trò của tái cấu trúc trong doanh nghiệp là nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh và thích ứng với bối cảnh mới thông qua những thay đổi trong cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức như sau:

Điều chỉnh cơ cấu các hoạt động: điều chỉnh cơ cấu các mục tiêu chiến lược, ngành nghề kinh doanh, chủng loại sản phẩm hàng hóa, địa bàn hoạt động

Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy: tái bố từ phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận, các cấp quản lý, các chức danh

Điều chỉnh cơ cấu thể chế: điều chỉnh các cơ chế, chính sách thông qua

sự rà soát, thay đổi, hợp lý hóa từ các quy trình công việc đến các quy chế, quy định

Điều chỉnh cơ cấu các nguồn lực: điều chỉnh cơ cấu đầu tư tạo lập các nguồn lực và tái phân bổ sử dụng các nguồn lực

1.1.3 Ý nghĩa của tái cấu trúc trong doanh nghiệp

Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, vấn đề tái cấu trúc là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với doanh nghiệp Tái cấu trúc trong doanh nghiệp có những ý nghĩa sau:

Thứ nhất, Việt Nam gia nhập WTO đánh dấu một mốc quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam Đứng trước các cơ hội và thách thức mới, các doanh nghiệp không ngừng xây dựng những định hướng

có tính chiến lược nhằm chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng bị động, từ đó tạo đà cho việc hội nhập vươn ra thế giới, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Một trong những định hướng có tính chiến lược được tính đến đó là quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp

Thứ hai, thế giới và Việt Nam đang phải đối mặt với sự suy thoái

Trang 17

nghiêm trọng về kinh tế Trong tình hình như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đang cố gắng tìm mọi cách để đưa doanh nghiệp mình không chỉ đáp ứng được những yêu cầu khi tham gia WTO mà còn phải vượt qua thời kỳ khó khăn này Tái cấu trúc được coi là biện pháp lâu dài và định hướng có tính chiến lược cho các doanh nghiệp Việt Nam

Thứ ba, vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp Việt Nam thường chưa có một quy trình kinh doanh rõ ràng, đáp ứng một mục tiêu cụ thể, phù hợp với định hướng ban đầu của chủ doanh nghiệp Việc tái cấu trúc doanh nghiệp sẽ góp phần xây dựng lại quy trình kihn doanh của doanh nghiệp

1.2 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là sự phối kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, sao cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất, quy mô sản xuất và công nghệ sản xuất đã xác định, nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội với hiệu quả cao [7, tr234]

Bên cạnh đó, tổ chức sản xuất còn được hiểu theo cách đơn giản là tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất đã được lập ra, tổ chức sản là một trong những nội dung quan trọng của quản lý sản xuất mà bất cứ doanh nghiệp nào

dù lớn hay nhỏ cũng phải thực hiện, nhằm trả lời các câu hỏi sau: Kỳ này sản xuất sản phẩm gì? Sản phẩm được sản xuất ở đâu? Bộ phận nào sẽ sản xuất chúng? Tổ chức sản xuất cần đưa ra các quyết định của người quản đốc phân xưởng hoặc cán bộ quản lý để thực hiện tốt một dự án hay một chương trình sản xuất đã được lập ra

Trong một doanh nghiệp tổ chức quá trình sản xuất được thực hiện ở hai cấp độ khác nhau:

- Tổ chức sản xuất tập trung là xây dựng tiến trình đưa các lô sản phẩm vào sản xuất trong các bộ phận sản xuất tuỳ theo quy trình công nghệ, năng lực sản xuất của máy móc thiết bị và dự báo tiêu thụ sản phẩm ngắn hạn Tổ chức sản xuất tập trung cũng chính là lập kế hoạch đưa vào sản xuất

Trang 18

- Tổ chức sản xuất phân tán là tổ chức sản xuất diễn ra trên các chỗ làm việc, tổ chức sản xuất phân tán là để thực hiện kế hoạch sản xuất đã được lập

ra trong phương án tổ chức sản xuất tập trung

1.2.2 Vai trò và mục tiêu của tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

1.2.2.1 Vai trò của tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Tổ chức quá trình sản xuất là nhằm cụ thể hóa việc thực hiện 3 chức năng chủ yếu sau của doanh nghiệp:

1) Chức năng kế hoạch hoá:

- Kế hoạch hoá những công việc khác nhau cần thực hiện trong một thời kỳ nhất định (chương trình sản xuất sản phẩm);

- Kế hoạch hoá các phương tiện vật chất và lao động để thực hiện chương trình sản xuất

- So sánh giữa kế hoạch và thực hiện;

- Tính toán mức chênh lệch so với kế hoạch và phân tích để tìm nguyên nhân;

- Đưa các biện pháp nhằm khắc phục sự chênh lệch thời gian gia công các loạt sản phẩm khác nhau

Như vậy, tổ chức quá trình sản xuất phải đảm bảo sao cho các phương tiện vất chất và con người phải được sử dụng một cách tốt nhất, nhưng đồng thời phải tôn trọng những đòi hỏi về chất lượng và thời gian của khách hàng

1.2.2.2 Mục tiêu của tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Khi xây dựng chương trình sản xuất, doanh nghiệp cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản đó là:

- Cực tiểu mức dự trữ, tồn kho (nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, sản

Trang 19

phẩm cuối cùng);

- Cực tiểu chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí nhân công;

- Cực tiểu chu kỳ sản xuất một sản phẩm

Về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy, mục tiêu của tổ chức sản xuất

là đem lại cho doanh nghiệp mức chi phí thấp nhất, đồng thời là lợi nhuận cao nhất sau khi hoàn thành sản xuất sản phẩm, cụ thể như sau:

- Sử dụng có hiệu quả nguyên, nhiên, vật liệu, thiết bị máy móc và sức lao động trong doanh nghiệp;

- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách nâng cao trình độ và hệ thống quản lý, tay nghề người lao động

- Đảm bảo vấn đề môi trường như không gây ô nhiễm, không gây độc hại, không xả thải ra tự nhiên

1.2.3 Khái niệm tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Theo chuyên gia về tái cấu trúc Gilson, tái cấu trúc sản xuất liên quan đến toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp Các doanh nghiệp tái cấu trúc tổ chức sản xuất nhằm tinh gọn các hoạt động, các bộ phận, các bước phối hợp hoạt động sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất sản phẩm Chuyên gia tái cấu trúc trên cho rằng, tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp xuất phát từ các áp lực bên trong như: để phù hợp với quy

mô tăng trưởng, phát triển của doanh nghiệp theo yêu cầu phân công chuyên môn hóa sâu hơn hoặc để kịp thời ngăn chặn đà suy thoái của doanh nghiệp đang bên bờ vực phá sản; và các áp lực bên ngoài như: chính sách cổ phần hóa, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập AFTA, WTO

Như vậy, tái cấu trúc tổ chức sản xuất là sự thiết lập lại bộ máy quản lý

tổ chức sản xuất, cơ cấu nguồn lực dùng cho các khâu trong quá trình sản xuất; cắt giảm các lĩnh vực sản xuất không đem lại hiệu quả kinh doanh; thiết

kế lại các quá trình giám sát sản xuất trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa sự phối kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, sao cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất, quy mô sản xuất và công

Trang 20

nghệ sản xuất đã xác định [8, tr256]

1.2.4 Các nguyên tắc của tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp cần được tiến hành theo những nguyên tắc chủ yếu như sau:

1.2.4.1 Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp theo hướng kết hợp phát triển chuyên môn hóa với phát triển kinh doanh tổng hợp

Chuyên môn hóa là hình thức phân công lao động xã hội nhằm làm cho doanh nghiệp nói chung, các bộ phận sản xuất và các nơi làm việc nói riêng

có nhiệm vụ chỉ sản xuất ra một (hoặc một số rất ít) loại sản phẩm, chi tiết của sản phẩm hoặc chỉ tiến hành một (hoặc một số rất ít) bước công việc

Sản xuất chuyên môn hóa được coi là nhân tố rất quan trọng để nâng cao loại hình sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, tổ chức mua sắm vật tư,

tổ chức lao động khoa học, tổ chức tiêu thụ sản phẩm và công tác quản trị doanh nghiệp

Ngày nay, sản xuất chuyên môn hóa được coi là xu hướng tất yếu của việc phát triển sản xuất, kinh doanh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và nâng cao hiệu quả kinh tế của mỗi doanh nghiệp Tuy vậy, cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của công nghệ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu mà quyết định mức độ chuyên môn hóa cho thích hợp

Kinh doanh tổng hợp là những hoạt động kinh tế mang tính chất bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ sản xuất công nghiệp đến sản xuất phi công nghiệp, từ sản xuất đến lưu thông phân phối và dịch vụ Giữa các lĩnh vực này, có thể có hoặc không có mối quan hệ với nhau Phạm vi kinh doanh tổng hợp trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng về nguồn lực, năng lực quản lý, khả năng sinh lời của từng yếu tố trong mỗi lĩnh vực dự định kinh doanh

Chuyên môn hóa và kinh doanh tổng hợp là hai vấn đề khác nhau, giữa chúng có tác động kiềm chế lẫn nhau Nếu doanh nghiệp mở rộng kinh doanh

Trang 21

tổng hợp thì chuyên môn hóa sẽ bị co hẹp lại, do đó vấn đề đặt ra là khéo kết hợp với quan điểm trên góc độ toàn doanh nghiệp để xem xét thì thấy tuy mức độ chuyên môn hóa có giảm, song vẫn cần phải nâng cao trình độ chuyên môn hóa của từng bộ phận sản xuất và từng nơi làm việc Chỉ như thế mới phù hợp với xu thế hiện nay là mỗi doanh nghiệp vừa thực hiện chuyên môn hóa vừa thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và kinh doanh tổng hợp trên cơ

sở lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo

1.2.4.2 Tổ chức sản xuất trong mỗi doanh nghiệp phải bảo đảm tính cân đối

Quá trình sản xuất cân đối là quá trình sản xuất được tiến hành trên cơ

sở bố trí hợp lý, kết hợp chặt chẽ ba yếu tố của sản xuất: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động Mối quan hệ tỷ lệ này nằm trong trạng thái động

Vì vậy một trong số các yếu tố này thay đổi, thì tất yếu phải xác lập lại mối quan hệ tỷ lệ mới Đây chính là quá trình phá vỡ cân đối cũ, xác lập lại cân đối mới nhằm đẩy mạnh sản xuất phát triển với hiệu quả ngày càng cao

Sản xuất cân đối còn được thể hiện qua mối quan hệ giữa các đơn vị sản xuất: các đơn vị sản xuất chính, các đơn vị sản xuất phù trợ, các đơn vị sản xuất phụ, các đơn vị phục vụ sản xuất trong doanh nghiệp Mục đích của việc duy trì mối quan hệ này là nhằm bảo đảm sản xuất đồng bộ với hiệu quả cao và đây chính là một trong những chỉ tiêu chủ yếu của tổ chức sản xuất hợp lý

Như chúng ta đã biết, tiến bộ khoa học phát triển rất nhanh chóng mà nhờ đó tạo ra ngày càng nhiều công nghệ mới, thiết bị, máy móc mới, nguyên, nhiên vật liệu mới Kết quả của sự tiến bộ này đã tạo ra điều kiện thuận lợi để xác lập và duy trì sản xuất cân đối trong doanh nghiệp

1.2.4.3 Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp phải đảm bảo tính nhịp nhàng

Sản xuất được coi là nhịp nhàng khi số lượng sản phẩm sản xuất ra trong từng khoảng thời gian đã quy định (giờ, ca, ngày, đêm…) phải bằng nhau Nói cách khác, sự nhịp nhàng của sản xuất thể hiện sự lặp lại của quá trình sản xuất trong khoảng thời gian như cũ ở mỗi nơi làm việc, mỗi ngành,

Trang 22

mỗi phân xưởng và toàn doanh nghiệp với số lượng sản phẩm bằng nhau

Sự nhịp nhàng của sản xuất chịu sự tác động của nhiều nhân tố như công tác chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất, kế hoạch hóa sản xuất, kế hoạch bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị máy móc, kế hoạch cung ứng vật tư kỹ thuật, việc

bố trí ca làm việc, trình độ thao tác của công nhân… Nếu mỗi doanh nghiệp

có biện pháp thích hợp để thực hiện phối kết hợp chặt chẽ các nhân tố này, bảo đảm sản xuất nhịp nhàng sẽ đem lại những tác dụng lớn đối với doanh nghiệp Cụ thể như:

- Thực hiện có hiệu quả các hợp đồng đã ký kết, bảo đảm việc cung ứng sản phẩm cho nhu cầu của thị trường và với xã hội một cách đều đặn

- Khắc phục được tình trạng sản xuất khi thì thong thả, cầm chừng, khi thì vội vã khẩn trương, gây nên những lãng phí về sức người, sức của

- Bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ và mối quan hệ hiệp tác, liên kết với các đơn vị kinh tế khác

1.2.4.4 Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp phải bảo đảm sản xuất liên tục

Sản xuất hay quá trình sản xuất được coi là liên tục khi bước công việc sau thực hiện ngay sau khi bước công việc trước kết thúc không có bất kỳ sự gián đoạn nào về thời gian trong quá trình khai thác hoặc chế tạo sản phẩm

Sản xuất liên tục thể hiện trình độ liên tục của đối tượng lao động trong quá trình vận động từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác, từ khi còn là nguyên vật liệu đến lúc trở thành sản phẩm Vì vậy việc bảo đảm sản xuất liên tục cần phải áp dụng các biện pháp sau :

- Đối với nguyên, nhiên vật liệu phải đảm bảo cung ứng liên tục hoặc theo đúng thời hạn quy định cho nơi làm việc

- Đối với tư liệu lao động phải xây dựng kế hoạch cụ thể về sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị, máy móc

- Đối với lực lượng lao động, phải xây dựng kế hoạch tận dụng toàn bộ thời gian lao động, bố trí hợp lý ca làm việc, tổ chức đứng nhiều máy…

Bảo đảm sản xuất liên tục trên cơ sở thực hiện tốt các biện pháp đã nêu

Trang 23

sẽ đem lại những tác dụng to lớn như: tiết kiệm thời gian lao động trong sản xuất, sử dụng hợp lý công suất và thời gian hoạt động của thiết bị máy móc; góp phần bảo đảm sản xuất cân đối, nhịp nhàng; bảo đảm hoàn thành kế hoạch sản xuất với hiệu quả cao

1.2.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của tái cấu trúc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản trị doanh nghiệp Vì vậy, muốn có phương án tổ chức sản xuất hợp lý và có hiệu quả, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiên cứu, phân tích sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp và tìm cách tác động tích cực vào các nhân tố đó

1.2.5.1 Nguyên, nhiên vật liệu mà doanh nghiệp sử dụng

Nguyên, nhiên, vật liệu mà mỗi doanh nghiệp sử dụng rất phong phú và

đa dạng và chúng còn được gọi là đối tượng lao động một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Vì vậy, giữa nguyên nhiên vật liệu và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với nhau Sản xuất trong doanh nghiệp là một quá trình liên tục tác động vào đối tượng lao động để tạo

ra của cải vật chất cho xã hội Giá trị và giá trị sử dụng của nguyên, nhiên vật liệu được gia tăng gấp bội khi chúng được tiếp tục chế biến trong các doanh nghiệp để tạo ra của cải vật chất cho xã hội

Chủng loại nguyên, nhiên vật liệu đơn giản hay phức tạp, chất lượng nguyên, nhiên vật liệu cao hay thấp đều ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp Ngược lại tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp ở trình độ cao hay thấp: thủ công, cơ khí hoá, tự động hoá đều đòi hỏi việc cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu phải đáp ứng yêu cầu

Nhìn chung, mối quan hệ giữa tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp và nguyên, nhiên, vật liệu thay đổi theo những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp Vì vậy, để có được phương án tổ chức sản xuất hợp lý và

có hiệu quả, mỗi doanh nghiệp cần phải chú ý và xác định cho được mức độ

Trang 24

ảnh hưởng của nguyên, nhiên, vật liệu

1.2.5.2 Tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ sản xuất và thiết bị máy móc

Tiến bộ khoa học, kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp, tạo tiền đề vật chất - kỹ thuật cho tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp được hợp lý Nhờ có tiến bộ khoa học, kỹ thuật mà ngày càng

có nhiều công nghệ mới, thiết bị, máy móc, nhiên, vật liệu mới

Vì vậy, để có được phương án tổ chức sản xuất hợp lý, mỗi doanh nghiệp phải biết và xác định được cho mình nên mua công nghệ nào, thiết bị, máy móc với nguyên, nhiên, vật liệu nào là thích hợp

Tổ chức sản xuất trong mỗi doanh nghiệp nếu được ứng dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật thì nó cho phép sử dụng đầy đủ, hợp lý

và tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu, sử dụng hợp lý công suất của máy móc thiết bị và sức lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong tổ chức sản xuất của doanh nghiệp nếu có được công nghệ mới, thiết bị máy móc hiện đại thì sẽ nâng cao được trình độ sản xuất, năng lực sản xuất tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường và xã hội

Ngoài ra, nếu đưa nhanh tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn giúp doanh nghiệp sử dụng được nguyên, nhiên vật liệu thay thế và sử dụng tổng hợp nguyên, nhiên vật liệu

Như vậy, tiến bộ khoa học, kỹ thuật và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp tuy là hai vấn đề nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển

Vì vậy, để có được phương án tổ chức sản xuất hợp lý, mỗi doanh nghiệp phải chú ý tới các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới và thiết

bị, máy móc mới

1.2.5.3 Trình độ chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất

Do sự phân công lao động xã hội nên mỗi doanh nghiệp chỉ thực hiện

Trang 25

một số nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định từ đó tự lập loại hình chuyên môn hoá thích hợp

Chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình phân công lao động giữa các doanh nghiệp để xác định nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp vào những công việc cùng loại nhất định

Quá trình phân công lao động giữa các doanh nghiệp càng sâu đòi hỏi hiệp tác hoá giữa các doanh nghiệp càng phải chặt chẽ Hợp tác hoá là quá trình tổ chức phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Như vậy, giữa chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất có mối quan hệ hữu cơ với nhau

Chuyên môn hoá càng sâu, hiệp tác hoá càng phải chặt chẽ, tổ chức sản xuất trong mỗi doanh nghiệp càng đơn giản

Do đó, trong quá trình tổ chức và tổ chức lại sản xuất, mỗi doanh nghiệp phải chú ý và coi trọng ảnh hưởng của yếu tố này, vì mục tiêu cơ bản của chuyên môn hóa và hợp tác hoá sản xuất của doanh nghiệp là nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của mình

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẤU TRÚC TỔ CHỨC SẢN XUẤT

TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐÓNG TÀU HỒNG HÀ

2.1 Tổng quan về Công ty

2.1.1 Khái quát về Công ty

Tên gọi đầy đủ: Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà

Địa chỉ: Km17, xã Lê Thiện, Huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng MST: 0200290105

Số tài khoản: 2511100027005 tại NH TMCP Quân đội - CN Hải Phòng Vốn điều lệ: 334.547.000.000 VNĐ

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty

Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng được thành lập ngày 30/10/1965 tại cảng Phà Đen - Hà Nội Ngày đầu mới được thành lập với tên gọi là Ban Ca Nô (tiền thân của XN A173 và Công ty đóng tàu Hồng Hà ngày nay) thuộc Cục quản lý xe - Tổng cục Hậu Cần có nhiệm vụ đóng mới và sửa chữa các loại ca nô, sà lan, tàu rà phá thủy lôi-bom nổ chậm, tàu thuyền phục vụ cho cuộc kháng chiến chống

ưu thế với khách hàng, tự khẳng định được mình

Về định hướng lâu dài vẫn là nhiệm vụ sửa chữa và đóng mới tàu phục

vụ cho các đơn vị trong và ngoài quân đội Năm 1996 Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng ra quyết định số: 471/QĐ-QP ngày 17/4/1996 về việc sáp nhập Xí

Trang 27

nghiệp A173 và Xí nghiệp Vận tải Hồng Hà thành Công ty Hồng Hà, đến tháng 11 năm 2010 Công ty Hồng Hà đã chuyển đổi lại tên danh nghiệp thành Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty

Nhiệm vụ chính của Công ty là đóng mới, sửa chữa tàu thuyền cho Quân đội và các ngành kinh tế của đất nước

Bên cạnh đó, Công ty cũng tham gia vào hoạt động kinh tế thông qua hình thức đóng tàu xuất khẩu

Ngoài ra, Công ty cũng có chức năng xuất, nhập khẩu các vật tư, thiết

bị phục vụ ngành đóng tàu

2.1.4 Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty

Do đơn chủ quản của Công ty là Bộ Quốc phòng nên trong cơ cấu bộ máy của các doanh nghiệp quân đội, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh còn thực hiện nhiệm vụ chính trị do Quân đội giao cho Vì vậy, bộ máy tổ chức có

sự đặc thù so với các doanh nghiệp ngoài Quân đội

Tổ chức bộ máy Công ty đóng tàu Hồng Hà cũng mang đặc điểm như trên, bao gồm: Ban giám đốc 05 đ/c (Giám đốc, Chính uỷ, 03 Phó giám đốc phụ trách sản xuất, kỹ thuật, kinh doanh); 10 phòng (Kế hoạch, Chính trị, Sản xuất, Vật tư, Thiết kế, Kỹ thuật, KCS, Tài chính, Tổ chức lao động, Hành chính), 01 Ban An toàn lao động; 03 Xí nghiệp (Vỏ tàu, Động lực, Cơ điện)

và 02 Phân xưởng (Vũ khí - khí tài, Mộc sơn)

Trong dây chuyền sản xuất trực tiếp của Công ty, 100% người lao động được đào tạo cơ bản; có khoảng 300 thợ bậc cao (5/7 trở lên), đây là đội ngũ lao động có kỹ thuật, có kỷ luật và tay nghề cao

Đối với bộ phận quản lý gián tiếp, phần lớn nhân lực gián tiếp của Công ty Hồng Hà được đào tạo bài bản đúng chuyên môn; trong đó có những người đã được đào tạo tới các bậc học Thạc sĩ, Tiến sĩ

Hình dưới đây là sơ đồ mô tả tổ chức bộ máy của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà:

Trang 28

(Nguồn: Phòng Tổ chức lao động - Công ty đóng tàu Hồng Hà)

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà

Giám đốc

PGĐ Kinh doanh

PGĐ Sản xuất Kỹ thuật PGĐ

Xí nghiệp Vỏ

tàu

Xí nghiệp Động lực

Xí nghiệp

Cơ điện

Phân xưởng Mộc sơn

Tổ điện (3 tổ)

Tổ cơ khí (3 tổ)

Tổ sơn (4 tổ)

Tổ mộc

Tổ vũ khí

Tổ khí tài

Chính ủy (kiêm PGĐ)

Tổ sửa chữa

Tổ phun

bi

Tổ cơ khí

Tổ hoàn

thiện

Trang 29

Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận như sau:

1) Ban giám đốc:

- Giám đốc: Thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người chỉ huy, chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành chung toàn bộ các mặt công tác, hoạt động của công ty

- Chính ủy: Chủ trì phối hợp với Giám đốc Công ty thực hiện tốt các nguyên tắc, quy định trong lãnh đạo Công ty Thường xuyên phối hợp với Giám đốc trao đổi thông tin, thống nhất nhận định, đánh giá tình hình, đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Công ty trước khi đưa ra Đảng ủy thảo luận quyết định; thống nhất với Giám đốc Công ty các chủ trương, giữ vững ổn định về chính trị trong Công ty

- Phó giám đốc sản xuất: Giúp giám đốc chỉ đạo triển khai các hoạt động, lĩnh vực công tác: Lập kế hoạch và điều hành sản xuất của toàn Công

ty, chỉ đạo trong việc định mức nhân công, khảo sát, lập dự toán sửa chữa các phương tiện; quản lý việc chấp hành các nội quy, quy chế, quy định của đơn

vị theo lĩnh vực được phân công

- Phó giám đốc kỹ thuật: Giúp giám đốc trực tiếp chỉ đạo triển khai các hoạt động, lĩnh vực công tác: kỹ thuật, thiết kế công nghệ, thiết kế thi công, kiểm tra chất lượng sản phẩm; theo dõi, chỉ đạo thực hiện công tác định mức vật tư; quản lý việc chấp hành các nội quy, quy chế, quy định của đơn vị theo lĩnh vực được phân công

- Phó giám đốc kinh doanh: Giúp giám đốc chỉ đạo triển khai các hoạt động, lĩnh vực công tác: Tìm kiếm phát triển thị trường, công tác giá thành sản phẩm, quản lý việc chấp hành các nội quy, quy chế, quy định của đơn vị theo các lĩnh vực được phân công;

2) Các phòng ban chức năng:

- Phòng kế hoạch: Tham mưu cho Giám đốc các vấn đề: hoạch định chiến lược phát triển dài hạn, trung hạn, kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, xây dựng chiến lược sản phẩm và phát triển thị trường đảm bảo mục tiêu

Trang 30

xây dựng đơn vị

- Phòng tổ chức lao động: Tham mưu, xây dựng, thực hiện kế hoạch lao động, tiền lương; công tác tổ chức, nhân sự, tuyển dụng, quản lý lao động, định mức, trả lương, đào tạo, huấn luyện, giải quyết các chế độ chính sách cho người lao động

- Phòng Tài chính: Quản lý tài chính, theo dõi toàn bộ hoạt động kinh

tế của Công ty Đưa ra phương án quản lý tài chính cho Công ty một cách tối

ưu nhất Tính toán giá thành sản xuất kinh doanh Báo cáo tài chính, kế toán theo quy định Nhà nước với các cơ quan quản lý nhà nước

- Phòng Vật tư: Tham mưu và thực hiện công tác quản lý, cung ứng, cấp phát, dự trữ, đảm bảo vật tư, thiết bị phục vụ mọi hoạt động của Công ty

Tham mưu đề xuất biện pháp nghiệm thu, thanh quyết toán vật tư

- Phòng Sản xuất: Tham mưu và thực hiện các biện pháp trong quản lý điều hành sản xuất; Tham mưu xây dựng và quản lý thực hiện kế hoạch chi tiết các sản phẩm; đôn đốc thực hiện kế hoạch sản xuất hàng tháng, tuần của các phòng ban phân xưởng, đánh giá kết quả thực hiện

- Phòng Thiết kế: Thực hiện công tác tiếp nhận công nghệ và chuyển giao công nghệ trong toàn công ty; Tham mưu và thực hiện công tác thiết kế công nghệ, thiết kế chi tiết thi công; cấp nội dung, quy trình công nghệ sản xuất thực hiện thi công đóng mới và hoán cải các phương tiện thủy; Phối kết hợp với các phòng ban chức năng, tổ chức chỉ đạo công nghệ sản xuất, trực tiếp đề xuất các giải pháp kỹ thuật, công nghệ áp dụng vào thi công đóng mới

và hoán cải các phương tiện thủy

- Phòng Kỹ thuật: Tham mưu, chỉ đạo công tác kỹ thuật trong sản xuất Tham gia đề xuất các biện pháp tổ chức, quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng khai thác trang thiết bị, phương tiện, hệ thống phục vụ sản xuất Đề xuất mua sắm, chế tạo, nâng cấp máy móc thiết bị nội bộ và trong các dự án đầu

tư, đầu tư đổi mới công nghệ đáp ứng nhu cầu sản xuất

- Phòng KCS: Tham mưu các biện pháp quản lý, các giải pháp kỹ thuật

Trang 31

để nâng cao chất lượng sản phẩm cho trước mắt và lâu dài cho sự phát triển của Công ty Thực hiện công tác quản lý chất lượng sản phẩm, nghiệm thu sản phẩm trong Công ty

- Phòng chính trị: Tham mưu, tổ chức thực hiện công tác đảng, công tác chính trị trong Công ty

- Phòng hành chính: Tham mưu, thực hiện công tác hành chính, công tác hậu cần, đời sống Quản lý tài sản nhà cửa, đất đai, doanh trại, doanh cụ, điện nước sinh hoạt, mua sắm trang thiết bị máy văn phòng và các trang bị khác phục vụ sản xuất sinh hoạt

- Ban An toàn lao động: Tham mưu, đề xuất các biện pháp quản lý và thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ, an toàn giao thông và theo dõi đôn đốc duy trì công tác vệ sinh công nghiệp trong công ty

3) Các xí nghiệp, phân xưởng:

Hiện nay, Công ty đóng tàu Hồng Hà có 03 xí nghiệp, 02 phân xưởng, trong đó phân xưởng vũ khí khí tài được thành lập và xây dựng năm 2005 để thực hiện nhiệm vụ sửa chữa và lắp đặt vũ khí, hệ thống khí tài điện tử cho các tàu có trang bị vũ khí, đặc biệt là tàu chiến

Các xí nghiệp, phân xưởng còn lại là xí nghiệp vỏ tàu, xí nghiệp động lực, xí nghiệp cơ điện và phân xưởng mộc sơn thực hiện theo chuyên môn được giao

2.1.5 Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Với hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, đến nay Công ty đóng tàu Hồng Hà có một đội ngũ cán bộ công nhân viên dày dạn kinh nghiệm Là Công ty đóng tàu đầu tiên trong cả nước có năng lực và trình độ đóng mới thành công lớp tàu Pháo tấn công nhanh TT400TP (Hệ thống vũ khí được điều khiển tự động bởi khí tài) cho Hải quân Việt Nam, tàu được mua thiết kế

sơ bộ của nước ngoài, Công ty phối hợp với một số viện thiết kế trong nước thiết kế thi công Các sản phẩm truyền thống của Công ty là: Tàu tuần tra cao

Trang 32

tốc vỏ thép cường độ chịu lực cao lượng dãn nước 200-400 tấn tốc độ đến 36hl/h trang bị cho lực lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam, các loại tàu tuần tra cao tốc vỏ thép cường độ chịu lực cao và hợp kim nhôm cho Bộ đội Biên Phòng, Công an, các loại tàu vận tải quân sự, tàu chở quân, tàu tiếp dầu trên biển, tàu chở nhựa đường hóa lỏng Ngoài ra Công ty còn là doanh nghiệp mạnh dạn tham gia hội nhập quốc tế rất sớm, đóng các loại tàu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu Từ năm 2005 đến nay Công ty đã triển khai đóng mới các loại tàu Vận tải đa năng có trọng tải 2.600 tấn, tàu chở container 3.300 tấn xuất khẩu cho khách hàng Hà Lan, đạt kim ngạch xuất khẩu gần 100 triệu Euro

Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà là một doanh nghiệp quân đội luôn khẳng định được vị thế, năng lực của mình Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty luôn được đánh giá là một doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề trong quân đội cũng như cả nước Công ty được khách hàng đánh giá cao về chất lượng và tiến độ thời gian thực hiện các sản phẩm Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh năm sau cao hơn năm trước khẳng định Công ty có những bước đi vững chắc trong việc thực hiện những định hướng phát triển của mình

Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty

(Đơn vị tính: triệu đồng)

(Nguồn: Phòng Tài chính - Công ty đóng tàu Hồng Hà)

Ch tiêu 2012 2013 2014 2015 2016

Tổng doanh thu 985.388 1.197.023 1.477.241 1.848.369 2.202.361 Tổng chi phí 958.884 1.193.916 1.442.418 1.804.446 2.148.576 Lợi nhuận trước

Lợi nhuận sau

Trang 33

2.2 Đánh giá thực trạng cấu trúc tổ chức sản xuất tại Công ty

2.2.1 Cơ chế hoạt động của doanh nghiệp

Hồng Hà là doanh nghiệp Quân đội với vốn sở hữu 100% nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh ở quy mô doanh nghiệp vừa, Năm 2010 Công

ty đã chuyển đổi mô hình hoạt động thành Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà nên đã mở ra cho Công ty hướng mới thông thoáng hơn về cơ chế hoạt động sản xuất kinh doanh, đi kèm với đó là sự giảm sự bảo hộ của Quân đội với doanh nghiệp đòi hỏi cần có sự chủ động trong quản lý sản xuất nếu muốn phát triển bền vững, Hiệu quả sản xuất kinh doanh phải được đặt lên hàng đầu trong hoạt động doanh nghiệp

2.2.2 Quy hoạch mặt bằng công nghệ

Quy hoạch mặt bằng công nghệ của Công ty đóng tàu Hồng Hà cơ bản được giữ lại bởi quy mô định hướng xây dựng từ năm 1981 trên nền của Xí nghiệp A173 Mặc dù đã được Nhà nước, Quân đội quan tâm đầu tư xây dựng nâng cấp tăng năng lực nhưng cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng với quy mô và yêu cầu của một nhà máy đóng tàu hiện đại Chính vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả trong việc tổ chức điều hành sản xuất

Bảng 2.2 Mặt bằng phân khu chức năng sử dụng hiện tại của Công ty

)

2 Khu văn phòng làm việc cơ quan 1.500

13 Xưởng lắp ráp tàu chiến dưới 500DWT 6.000

Trang 34

STT Hạng mục công trình Diện tích (m 2

)

14 Hệ thống triền ngang lên xuống tàu dưới 500 tấn 15.000

15 Bãi đóng Blocks Phẳng dưới 50 tấn/ Block 12.500

16 Cầu tàu 1 dài 130m ( diện tích không tính mặt nước) 5.000

17 Âu mặt nước dành cho tàu dưới 150DWT 12.500

20 Triền dọc có mái che (72x60 m) 4.320

22 Bãi đóng tổng đoạn và tổ hợp 22.000

23 Cầu tầu lớn dài 200m dành cho tàu dưới 6500DWT 16.000

Đánh giá chung về quy hoạch mặt bằng hiện tại :

Diện tích phân bố chức năng tương đối tốt, tuy nhiên tuyến công nghệ thiếu hợp lý, việc di chuyển (vật tư, nhân công, vận tải ) hao phí vô công lớn;

Diện tích so với nhân công chưa hợp lý theo tỷ lệ phân công chức năng;

Trong quá trình sử dụng chưa đảm bảo tận dụng tối đa nguồn lực, mặt bằng tại nhiều nơi sử dung vượt quá năng lực, có vị trí thường xuyên dư thừa;

(Nguồn: Phòng Sản xuất - Công ty đóng tàu Hồng Hà)

Hình 2.2 Sơ đồ mặt bằng Công ty Hồng Hà năm 2016

Trang 35

2.2.3 Tổ chức và công nghệ sản xuất

1) Về tổ chức điều hành sản xuất:

Khối cơ quan nghiệp vụ phân theo Phòng - Ban chức năng chuyên trách tuy nhiên trên thực tế một số nhiệm vụ các Phòng, Ban chức năng chưa rõ ràng, trong quá trình sản xuất còn xảy ra hiện tương chồng chéo, một số phòng nghiệp vụ còn thiếu năng lực chuyên trách dẫn tới hiện tương làm thay không đúng chuyên môn; Đối với sản xuất phân theo tổ đội tuy nhiên việc mô tả và xây dựng kế hoạch giao việc và kiểm soát công việc không tốt, dẫn tới sự ỷ lại của công nhân vào bộ máy quản lý nên năng suất lao động chưa cao, tiến độ sản phẩm có lúc chưa đáp ứng được kế hoạch đề ra

2) Về công nghệ sản xuất:

Có thể nói, với sự mạnh dạn đầu tư công nghệ tiên tiến vào sản xuất, công nghệ đóng tàu của Công ty đóng tàu Hồng Hà hiện nay không thua kém một số nhà máy đóng tàu tiến tiến trên Thế giới Chính vì vậy, Công ty đã chủ động trong công nghệ đóng các loại tàu có hàm lượng kỹ thuật - công nghệ cao (Điển hình là làm chủ công nghệ đóng lớp tàu Pháo tấn công nhanh TT400TP cho Hải quân Việt Nam)

2.2.4 Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong tổ chức sản xuất của Công ty

Qua nghiên cứu, lao động của Công ty thể hiện qua các số liệu sau:

Bảng 2.3 Cơ cấu lao động tại Công ty giai đoạn 2012- 2016

Có XĐ thời hạn (12 đến 36 tháng)

Ngắn hạn(dưới

Trang 36

TT Cơ cấu lao động TS S

Có XĐ thời hạn (12 đến 36 tháng)

Ngắn hạn(dưới

Trang 37

Bảng 2.4 Cơ cấu độ tuổi lao động tại Công ty giai đoạn 2012-2016

(Nguồn: Phòng Tổ chức lao động - Công ty đóng tàu Hồng Hà)

Bảng 2.5 Cơ cấu giới tính lao động tại Công ty giai đoạn 2012-2016

(Nguồn: Phòng Tổ chức lao động - Công ty đóng tàu Hồng Hà)

(Nguồn: Phòng Tổ chức lao động - Công ty đóng tàu Hồng Hà)

Hình 2.3 Tổng hợp thâm niên lao động tại Công ty

Dưới 5 năm

Từ 5 năm đến dưới 10 năm

Từ 10 năm đến dưới 15 năm

Từ 15 năm đến dưới 20 năm

Từ 20 năm đến dưới 25 năm Trên 25 năm

Ngày đăng: 10/02/2020, 18:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w