1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ứng dụng lý thuyết độ tin cậy trong tính toán ổn định đường hầm

11 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 603,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới với hơn 90 triệu người. Dân cư tập trung quá đông đúc trong các thành phố lớn đã khiến không gian sống, giao thông trở lên quá tải. Bài viết này sẽ đề cập đến việc ứng dụng lý thuyết độ tin cậy trong phân tích ổn định của công trình ngầm.

Trang 1

ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT ĐỘ TIN CẬY TRONG

TÍNH TOÁN ỔN ĐỊNH ĐƯỜNG HẦM

HOÀNG THỊ LỤA *

Application of reliability theory in analyzing tunnel stability Abstract: The purpose of this paper is to analysis the stability of tunnel by

using reliability theory method In this paper, the author first has developed

a fault tree, then selected some common failure cases for detailed calculations Three selected case were: 1 Tunnel was instable due to the stress exceeds the allowable value; 2 Tunnel was instable because of buoyant force; 3 Tunnel subsidance exceeds the allowable subsidence In each case, the author has built reliability functions, selected random variables, studied the regularity of the distribution funtion of random variables and finally calculated incident probability Consequently, incident probability of each case as well as general incident probability of tunnel was calculated The effect of each variable to structure stability was also calculated

Keywords: Reliability theory, tunnel stability

Việt Nam là một trong những quốc gia đông

dân nhất thế giới với hơn 90 triệu người Dân cư

tập trung quá đông đúc trong các thành phố lớn

đã khiến không gian sống, giao thông trở lên

quá tải Việc phát triển công trình ngầm là một

biện pháp hợp lý và cần thiết để đáp ứng mật độ

cao của dân số

Công trình ngầm thường có đặc điểm là kéo

dài hoặc mở rộng qua các vùng có tải trọng khác

nhau, điều kiện địa chất khác nhau và các yếu tố

này lại dao động, biến đổi theo thời gian Tuy

nhiên, khi tính toán thiết kế, các phương pháp

truyền thống thường chỉ chọn một vài giá trị đặc

trưng của các thông số để tính toán mà chưa xét

đến sự dao động, biến đổi của các chỉ tiêu nói

trên Do đó, kết quả tính toán trong một số

trường hợp có thể chưa phù hợp

Phương pháp lý thuyết độ tin cậy (hay còn

gọi là phương pháp thiết kế ngẫu nhiên) là

*

Khoa Công trình - Đại học Thủy lợi

175 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội

DĐ: 0912723376

phương pháp thiết kế dựa trên cơ sở toán xác suất thống kế để phân tích tương tác giữa các biến ngẫu nhiên của tải trọng và sức chịu tải trong các cơ chế phá hoại theo giới hạn làm việc của công trình Trong thiết kế ngẫu nhiên, tất cả các cơ chế phá hỏng được mô tả bởi mô hình toán hoặc mô hình mô phỏng tương ứng Tính toán xác suất phá hỏng của một bộ phận kết cấu hoặc của công trình được dựa trên hàm độ tin cậy của từng cơ chế phá hỏng

Hàm độ tin cậy này được thiết lập dựa vào trạng thái giới hạn tương ứng với cơ chế phá hỏng tương ứng và là hàm của nhiều biến và tham số ngẫu nhiên Do đó kết quả tính toán từ phương pháp độ tin cậy không những cho xác suất phá hỏng của từng cơ chế đơn lẻ mà còn cho biết mức độ ảnh hưởng của từng biến ngẫu nhiên và tổng hợp cho ta xác suất cuối cùng của

cả hệ thống đang xem xét Trên thế giới, thiết kế theo xác suất an toàn cho phép đã được nghiên cứu và đưa vào ứng dụng từ lâu Ở Việt Nam, lý thuyết độ tin cậy cũng đã được đưa vào chương trình giảng dạy của một số trường đại học và

Trang 2

được nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng công

trình thủy Bài báo này sẽ đề cập đến việc ứng

dụng lý thuyết độ tin cậy trong phân tích ổn

định của công trình ngầm

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG

PHÁP

2.1 Tóm tắt cơ sở lý thuyết

Để xem xét được mức độ an toàn của một

thành phần , người ta thành lập một hàm tin cậy

có dạng tổng quát như sau:

Z = R-S (2.1)

Với: + R – Độ bền hay khả năng kháng hư

hỏng;

+ S – Tải trọng hay khả năng gây hư hỏng

Theo đó, Z<0 được coi là có hư hỏng xảy ra

và hư hỏng không xảy ra nếu Z >0, còn khi Z=0

thì ở ranh giới giữa vùng an toàn và không an

toàn

Xác suất phá hỏng của từng cơ chế được xác

định bởi xác suất xảy ra Z<0: Pf = P(Z≤0) =

P(S≥R)

Độ tin cậy được xác định là : P(Z>0) = 1-Pf

Hình 1 Hàm tin cậy trong mặt phẳng RS [2]

Hàm xác suất có thể được giải theo các mức

độ tiếp cận như sau:

- Tiếp cận mức độ xác suất cấp độ 0, mức độ

này là phương pháp thiết kế truyền thống, sử

dụng hệ số an toàn để đánh giá

- Tiếp cận mức độ xác suất cấp độ I, mức độ

này là thiết kế bán xác suất, sử dụng nhiều hệ

số an toàn để đánh giá ổn định (phương pháp

trạng thái giới hạn)

- Tiếp cận xác suất cấp độ II và cấp độ III, đây là phương pháp tiếp cận ngẫu nhiên Trong

đó, cấp độ II sử dụng các phương pháp gần đúng để biến đổi quy luật phân bố của các tải trọng và sức chịu tải về các hàm phân bố chuẩn, sử dụng các phương pháp xác suất gần đúng trong tính toán Đối với mức độ III, các hàm phân bố của các biến được giữ nguyên quy luật phân bố và trong tính toán không sử dụng các phương pháp gần đúng, ngẫu nhiên hoàn toàn Bài báo này sẽ trình bày bài toán ở cấp độ II(*)

[2]

2.2 Các cơ chế phá hoại đường hầm

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến mất ổn định đường hầm Các giai đoạn khác nhau cũng

có những hình thức mất ổn định khác nhau Từ tài liệu [5],[7] thu thập được về các sự cố công trình đã xảy ra, tác giả phân chia nhóm sự cố như bảng 1 Và theo đó, công trình sẽ xảy ra sự

cố nếu một trong những lỗi hư hỏng xảy ra trên

1 đoạn hầm

Bảng 1 Các dạng sự cố hầm và nguyên nhân

Dạng sự cố Nguyên nhân

Sụt đổ hầm

Ứng suất vượt quá mức cho phép

Bản đáy bị đẩy bục Lún nền cục bộ Đoạn hầm bị đẩy nổi

Phá hủy mặt đất

Điều kiện đất đá không ổn định Điều kiện nước ngầm thay đổi Mất đất do thi công

Chiều dày lớp phủ nhỏ Tải trọng vượt mức cho phép Nước chảy

vào hầm

Lỗi thiết bị chống thấm Nước ngầm có áp lớn Mực nước ngầm thay đổi Các dạng sự cố khác

Trong khuôn khổ của bài báo này, tác giả đi phân tích ổn định công trình do 3 nguyên nhân trong quá trình vận hành thường gặp là: đường

R

Z<0 Vùng sự cố

Z>0 Vùng an toàn Z=0 Biên sự cố

S

Trang 3

hầm bị đẩy nổi, đường hầm bị lún quá mức cho

phép làm mất liên kết giữa các đốt hầm và

đường hầm bị phá hoại vỏ do ứng suất vượt

mức cho phép

2.3 Xây dựng hàm tin cậy Z cho các cơ

chế phá hoại

Xây dựng hàm Z cho cơ chế ứng suất vượt

quá ứng suất giới hạn, phá hỏng cục bộ vỏ hầm

Hàm tin cậy của cơ chế phá hỏng này được

biểu diễn thông qua hàm trạng thái giới hạn

trong công thức (2-2):

(2-2)

* Trong đó:

+ – Ứng suất tới hạn gây hư hỏng công

trình [T/m2], xác định dựa vào cường độ kéo,

nén tiêu chuẩn của vật liệu xây dựng vỏ hầm;

+ σ – Ứng suất thực tế sinh trong vỏ hầm

[T/m2], tính toán thông qua các nội lực, các nội

lực được tính từ ngoại tác dụng lên vỏ hầm;

Xây dựng hàm tin cậy Z trong cơ chế kiểm

tra ổn định đẩy nổi của đường hầm

Hàm tin cậy của cơ chế phá hỏng này được

biểu diễn như trong công thức (2-3)

* Trong đó:

+ – Tổng lực giữ cho công trình không

bị đẩy nổi [T], được tính bằng tổng các lực

thường xuyên thẳng đứng hướng xuống gồm tải

trọng bản thân hầm, tải trọng hiệu quả do cột đất

phía trên đè lên nóc hầm

+ Wđẩy nổi – Tổng lực đẩy nổi [T], tính

bằng lực đẩy của nước tác dụng đẩy ngược

lên hầm

Xây dựng hàm tin cậy trong cơ chế kiểm tra

lún của nền hầm

Đối với trường hợp nền công trình là nền cát,

ta kiểm tra độ lún ổn định.Hàm tin cậy của cơ

chế phá hỏng này được biểu diễn thông qua hàm

trạng thái giới hạn, công thức (2-4):

* Trong đó:

+ – Độ lún cho phép của hầm [m], phụ thuộc vào loại công trình, tra quy phạm;

+ Sc – Độ lún cố kết ổn định tính toán [m];

Độ lún cố kết ổn định đối với hầm tác giả coi

là bài toán tính lún theo hai hướng (coi như không biến dạng dọc trục hầm) Và độ lún trong trường hợp này do tải trọng bề mặt gây ra, gây lún nền hầm kéo theo lún đốt hầm Công thức tính lún cho lớp i (2-5) và độ lún tổng của nền

hầm (2-6)

Si=

1

2 1 2 0 0

0

1 2

1

1 8 0

e

h e

n

i i i

i

(2-5)

Sc = 

n

1 i i

S (2-6)

* Trong đó:

+ 1 và 2lần lượt là ứng suất trung bình thẳng đứng tại lớp i ứng với giai đoạn trước và sau khi tác dụng ứng suất gây lún

+ zi: Ứng suất thẳng đứng trung bình gây lún lớp thứ i

+ : Hệ số nở hông lớp thứ i + hi: Chiều dày lớp i;

+ e1i và e2i lần lượt là hệ số rỗng lớp i ứng với giai đoạn trước và sau khi tác dụng ứng suất gây lún

3 ÁP DỤNG TÍNH TOÁN 3.1 Giới thiệu công trình nghiên cứu

Trong phần này tác giả sẽ áp dụng tính toán với các số liệu đã thu thập được từ dự án hầm giao thông Metro II, thành phố Hồ Chí Minh Đường hầm có dạng khuyên tròn, các đốt hầm bằng bê tông cốt thép được chế tạo sẵn, thi công bằng máy đào ngầm, có các thông số như bảng 2

Đường hầm nằm ở độ sâu trung bình khoảng 12m dưới mặt đất tự nhiên, chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất sử dụng trong tính toán từ mặt đất tự nhiên xuống lần lượt như bảng 3.[4]

Trang 4

Bảng 2 Các thông số hầm dùng trong tính toán

Bảng 3 Chỉ tiêu cơ lý của đất dùng trong tính toán

Tối thiểu Tối đa Trung bình

A:

Sét rất mềm

đến mềm và

bùn

Trọng lƣợng riêng tự nhiên, γ (kN/m 3

 ’( 0

B:

Sét mềm đến

dẻo, á sét và á

cát

Trọng lƣợng riêng tự nhiên, γ (kN/m 3

 ’( 0

C: Cát trạng

thái chặt vừa

&cát bùn

Trọng lƣợng riêng tự nhiên, γ (kN/m 3

 ’( 0

D: Sét cứng

đến rất cứng

Trọng lƣợng riêng tự nhiên, γ (kN/m 3

 ’( 0

Lớp E: Á cát chặt đến rất chặt

Trang 5

3.2 Xây dựng sơ đồ lực tác dụng lên vỏ hầm

Với những đặc điểm về địa chất và vị trí hầm

trong đất, tác giả xây dựng sơ đồ lực tác dụng

lên vỏ hầm theo mô hình cân bằng giới hạn cho

hầm đặt sâu, không xét đến sự hình thành vòm

áp lực phía trên đỉnh hầm do đất phía trên hầm

là đất yếu bão hòa[4] Các áp lực tác dụng lên

hầm bao gồm áp lực thẳng đứng, nằm ngang của

đất và tải trọng bề mặt truyền xuống, áp lực của

nước theo phương vuông góc với bề mặt vỏ hầm

và trọng lượng bản thân của hầm Sơ đồ lực tác

dụng lên vỏ hầm được thể hiện như hình 2

Hình 2 Sơ đồ lực tác dụng lên hầm

3.2 Tính toán ổn định hầm

Trong phần này tác giả sẽ tính toán cho hai mặt cắt điển hình, mặt cắt 1-1 với hầm đi qua lớp sét B

và mặt cắt 2-2 với hầm đi qua lớp cát C Trường hợp mất ổn định do ứng suất vượt mức cho phép

Đối với cơ chế phá hoại này tác giả lựa chọn tính toán tại 6 điểm nguy hiểm như hình 3

Hình 3 Các điểm tính toán ứng suất

Trong đó các điểm AT, BN, CT chịu kéo, ba điểm còn lại AN, BT, CN chịu nén

Từ hàm tính:

(2-2)

Bảng 4 Hàm tin cậy về ứng suất của các điểm tính

Điểm

A

B

C

Trang 6

Từ các lực tác dụng lên vỏ hầm, tác giả tính

toán mô men, lực dọc tác dụng lên hầm [3], sau

đó tổng hợp lại được ứng suất của điểm tính và

cho hàm Z như bảng 4

Để giải bài toán, tác giả lựa chọn các biến ngẫu nhiên và cố định như bảng 5 Và bảng 6

Bảng 5 Biến ngẫu nhiên cho hàm ứng suất

Ký hiệu Mô tả biến ngẫu nhiên Đơn vị Luật phân

phối

Đặc trưng thống kê

Kỳ vọng Độ lệch

ρ1’ Khối lượng riêng hiệu quả lớp A T/m3 Nor 0,58 0,06

ρ3 ’ Khối lượng riêng hiệu quả lớp C T/m3 Nor 1,008 0,1

Góc ma sát trong của lớp đất cát

o

Ứng suất kéo tiêu chuẩn của bê

2

Ứng suất nén tiêu chuẩn của bê

2

hw

Cột nước tính từ đỉnh hầm đến

A1 Hệ số phụ thuộc cột nước, công

thức tính (2.53) T kéo theo hw 4,6191+ 3,325hw

B1 Hệ số phụ thuộc cột nước, công

thức tính (2.55) T kéo theo hw 8,313 + 3,325hw

C1 Hệ số phụ thuộc cột nước, công

thức tính (2.57) T kéo theo hw 13,671+ 3,325hw

Bảng 6 Biến cố định cho hàm ứng suất

Trang 7

Hàm tin cậy trên có dạng phi tuyến với các

biến ngẫu nhiên cơ bản phân bố chuẩn vì vậy các

hàm này có thể giải bằng các phương trình toán

xác suất Tuy nhiên, giải các phương trình này sẽ

rất phức tạp nên ở đây tác giả sử dụng công cụ hỗ

trợ là phần mềm VAP với phương pháp form để tính toán Kết quả xác định được xác suất xảy ra

sự cố và hệ số ảnh hưởng của các biến ngẫu nhiên đến cơ chế phá hoại do ứng suất vượt quá giới hạn cho phép của từng điểm như bảng 7

Bảng 7 Xác suất sự cố và ảnh hưởng của biến ngẫu nhiên

đến cơ chế ứng suất vượt mức cho phép

Điểm Xác suất

sự cố Phân phối ảnh hưởng các biến đến kết quả (%)

AN 1,06E-07

BT 3,21E-10

BN 1,29E-05

Trang 8

Điểm Xác suất

sự cố Phân phối ảnh hưởng các biến đến kết quả (%)

CN 2,44E-05

Trường hợp mất ổn định do đoạn hầm bị đẩy nổi

Nhận xét rằng với cơ chế phá hoại này, mức

độ an toàn của đường hầm phụ thuộc một phần

lớn vào đường kính hầm, các yếu tố như trọng

lượng cột đất trên hầm, mực nước ngầm cũng có

ảnh hưởng lớn Trong bài toán này ta kiểm tra

cho đường hầm đã có sẵn đường kính nên

không xét được ảnh hưởng của kích thước hầm

Các trường hợp nguy hiểm trong cơ chế phá

hoại này sẽ là mực nước ngầm dâng cao, không

có tải trọng bề mặt và trường hợp bề mặt đất bị

giảm tải do các nguyên nhân như đào móng

công trình

Hàm tin cậy của cơ chế đã nêu:

(2-3) Trong đó:

 Tổng lực giữ:

Với:

bản thân + Trọng lượng hiệu quả cột đất đè trên hầm

 Tổng lực đẩy nổi tác dụng lên đoạn hầm:

Với:

+ – Khối lượng riêng của nước [T/m3]; + – Thể tích hầm choán chỗ trong nước, tính cho 1m dài hầm [m3

] Cuối cùng ta thu được hàm Z:

Các đại lượng trong hàm Z và giá trị của chúng được giải thích trong bảng danh sách biến

cố định bảng 8 và biến ngẫu nhiên bảng 9

Bảng 8 Danh sách biến cố định theo cơ chế đẩy nổi đường hầm

vị

Giá trị

Trang 9

Bảng 9 Danh sách biến ngẫu nhiên theo cơ chế đẩy nổi hầm

Luật phân phối

Đặc trưng thống kê

Kỳ vọng Độ lệch

ρ3’ Khối lượng riêng hiệu quả lớp C T/m3 nor 1,008 0,1

hw

Chiều cao cột nước tính từ đỉnh hầm

Kết quả tính toán xác suất xảy ra sự cố là

P(Z1-1<0)=1,90E-08 và hệ số ảnh hưởng của

các biến ngẫu nhiên đến cơ chế phá hoại như

hình 3 Kết quả cho thấy chiều cao cột nước,

trọng lượng riêng của nước và trọng lượng

riêng lớp B có ảnh hưởng lớn đến mức độ ổn

định của hầm

Hình 3 Phân phối ảnh hưởng của các biến

ngẫu nhiên đến ổn định hầm theo cơ chế hầm

bị đẩy nổi

Trường hợp mất ổn định do đoạn hầm bị lún quá mức cho phép

Với cơ chế phá hoại này, trường hợp nguy hiểm xảy ra là khi mực nước ngầm hạ thấp, trên

bề mặt có tải trọng lớn Để tính toán được độ lún của đường hầm, trước hết cần xác định ứng suất thẳng đứng trước và sau khi tác dụng tải trọng gây lún tại chính giữa các lớp đất nền Kết quả tính toán ứng suất trước khi tác dụng tải gây lún ( ) và sau khi tác dụng ( = + ) cho ở bảng 10 Trong đó các lớp đất được tính

từ đáy hầm

Các giá trị ứng suất sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số rỗng của từng lớp tương ứng, tuy nhiên do chưa biết phương trình biểu diễn quan

hệ giữa hệ số rỗng và ứng suất tương ứng nên tác giả coi toàn bộ các giá trị ứng suất là các biến cố định Các giá trị hệ số rỗng e là các biến ngẫu nhiên với quy luật phân bố như sau:

Bảng 10 Ứng suất trung bình giữa các lớp đất

(Kpa)

= +

Trang 10

Bảng 11 Biến ngẫu nhiên trong hàm tính lún

phối

Đặc trưng thống kê

Kỳ vọng Độ lệch

e11 Hệ số rỗng (Hsr) lớp 1 trước tăng tải nor 0,65 0,065

Kết quả tính toán được xác suất xảy ra sự cố

là P(Z2<0) = 0,36608 và hệ số ảnh hưởng của

các biến ngẫu nhiên đến cơ chế phá hoại như

hình 4 Có thể thấy hệ số rỗng lớp B và C của

đất là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến kết quả

tính toán xác xuất sự cố của hầm

Hình 4 Phân phối ảnh hưởng của các biến

ngẫu nhiên đến ổn định hầm theo cơ chế hầm bị

lún quá mức cho phép

Thực hiện tính toán tương tự với mặt cắt thứ

2 đi qua đất sét, tổng hợp kết quả cuối cùng cho

như bảng 12

Sử dụng phép tính Monte Carlo tính toán

được tổ hợp xác suất xảy ra sự cố của mặt cắt

1-1 cho kết quả là: P1=0,4518; Mặt cắt 2-2 là

P2=0,8219

Nhận xét kết quả tính

a/ Kết quả tổng hợp:

Kết quả phân tích đã chỉ ra rằng với những số

liệu sử dụng trong tính toán thì xác suất phá hoại của cả 2 mặt cắt đều cao với xác suất của mặt cắt 1-1 là P1=0,4518 và mặt cắt 2-2 là

P2=0,8219 Trong đó, cơ chế mất ổn định do lún quá mức cho phép ảnh nguy hiểm nhất với mặt cắt 1-1 tức đoạn hầm đi qua cát (chiếm 71,14% nguy cơ) trong khi đó cơ chế mất ổn định do ứng suất kéo tại điểm trong của mặt cắt đáy hầm (CT) vượt ứng suất cho phép nguy hiểm nhất đến mất ổn định của mặt cắt 2-2 tức mặt cắt đi qua sét (40,06% nguy cơ)

Bảng 12 Xác suất sự cố tại 2 mặt

cắt kiểm tra

Cơ chế

Xác suất xảy

ra sự cố

Xác suất xảy ra

sự cố Mặt cắt 1-1 Mặt cắt 2-2

Sự cố tại AN 1,06E-7 9,05E-5

Sự cố tại AT 0,0531 2,56E-4

Sự cố tại BN 1,29E-5 5,54E-7

Sự cố tại BT 3,21E-12 7,23E-19

Sự cố tại CN 2,44E-5 9,7E-5

Sự cố tại CT 0,868 0,578 Đẩy nổi đường hầm 7E-3 0,0282 Lún quá mức cho phép 0,366 0,392

Ngày đăng: 10/02/2020, 13:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w