1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Ứng dụng giải pháp xử lý đất yếu dưới đáy hố đào để ổn định tường vây cho nhà cao tầng

7 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày kết quả Thepaper tính dự đoán của tường vây ổn định của một Buiding cao với điều trị đất yếu dưới sâu đáy khai quật bằng phương pháp phun vữa máy bay phản lực. Các phần mềm Plaxis 8.5 với 2 mô hình tính toán (Real Allocation mô phỏng và tương đương Chất liệu mô phỏng) được sử dụng và kết quả phép lựa chọn theo mô hình tính toán reasonble hơn.

Trang 1

ỨNG DỤNG GIẢI PHÁP XỬ LÝ ĐẤT YẾU DƯỚI ĐÁY

HỐ ĐÀO ĐỂ ỔN ĐỊNH TƯỜNG VÂY CHO NHÀ CAO TẦNG

VÕ PHÁN, KHỔNG HỒ TỐ TRÂM *

Treatment of soft soil under excavation bottom for diaphragm wall stability of high building

Absract: In recent years, the construction of high-rise buildings with

basement on soft soil is a matter of necessity, involve the use of different solutions to create optimal efficiency and economical The solution Jet Grouting is one of the good solutions for the purpose The paper presents results of prediction calculation of diaphragm wall stability of an high buiding with treatment of soft soil under deep excavation bottom by jet grouting method The software Plaxis 8.5 with

2 calculating models (Real Allocation Simulation and Equivalent Material Simulation) is used and the results allowed to choice theo calculation model more reasonble

1 GIỚI THIỆU *

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền

kinh tế, thị trường xây dựng ở Việt Nam đã

bùng nổ với hàng loạt công trình nhà cao tầng

mọc lên nhanh chóng ở các đô thị lớn, đặc biệt

là thành phố Hồ Chí Minh

Ở nước ta, vấn đề xử lý đất yếu vẫn còn là

một công việc mới mẽ Cho đến nay vẫn chưa

có một đánh giá mang tính toàn diện về tình

hình xây dựng và khai thác công trình trên đất

yếu, chưa có các đối chiếu giữa lý thuyết và

thực tế thi công như độ lún, độ ổn định,

chuyển vị… hay nghiên cứu về sự thay đổi

các chỉ tiêu cơ lý của lớp đất yếu sau khi được

xử lý,… Do vậy, để đánh giá mức độ ổn định

và đảm bảo điều kiện làm việc lâu dài của

công trình, việc xử lý đất yếu dưới công trình

là vấn đề cần thiết hiện nay Một trong những

biện pháp để xử lý nền đất yếu dưới công trình

* Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG-Hồ Chí Minh

268 Lý Thường Kiệt, Q10, TP Hồ Chí Minh

DĐ: 0913867008

Email: vphan54@yahoo.com

cao tầng là giải pháp xử lý bằng phương pháp phụt vữa xi măng áp lực cao

2 XỬ LÝ ĐẤT YẾU BẰNG PHƯƠNG PHÁP JET GROUTING

Jet Grouting là một kỹ thuật gia cố nền bằng cách sử dụng tia nước/ vữa/ khí với áp lực cao

để cắt đất – xi măng (soilcrete) có cường độ tốt hơn và hệ số thấm thấp hơn Các phương pháp thi công gồm có: phương pháp phụt vữa đơn (S), phương pháp thi công kép (D), phương pháp thứ ba (T), ngoài ra còn có hệ thống phun đặc biệt (Super Jet Grouting)

Thông số của Jet Grouting bao gồm hai phần chính là các thông số về thiết bị, vận hành và các thông số về sản phẩm soilcrete

+ Các thông số về thiết bị, vận hành bao gồm: áp lực vữa, lưu lượng vữa, áp lực khí, lưu lượng khí, tốc độ nâng cần, tốc độ xoay cần, kích thước vòi phụt, thành phần vữa (tỉ lệ w:c, hàm lượng xi măng) [1]

+ Các thông số của sản phẩm sau khi phụt vữa áp lực cao bao gồm: cường độ nén nở hông của soilcrete, đường kính cọc, mô đun đàn hồi [2]

Trang 2

+ Tùy thuộc vào lượng dùng xi măng, loại

đất, thời gian ninh kết mà đất nền sau khi

được xử lý bằng công nghệ phụt vữa áp lực

cao Jet Grouting (JGPs) sẽ có sự phát triển về

cường độ khác nhau Hiệp hội Jet Grouting

của Nhật Bản đưa ra thông số lực dính tiêu

chuẩn dùng trong thiết kế cọc Jet Grouting là

sự phân tán tương đối lớn trong các dữ liệu thí

nghiệm, hệ số Poisson của đất được cải tạo từ

0.25-0.45

Khi sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn,

ảnh hưởng trong khu vực hố đào là tốt hơn so

với bên ngoài hố đào, trong những điều kiện

giống nhau

Xác định thông số vật liệu tương đương

khi áp lực đất tác dụng lên bề mặt đất hỗn hợp

bao gồm các khu vực đất được cải tạo và khu

vực đất không được cải tạo ở dưới đáy hố đào,

công thức tính toán sau đây đề nghị đánh giá

các tính chất vật liệu tổng thể của hỗn hợp mặt

đất theo Chang-Yu Ou, Tzong-Shiann Wu,

Hsii-sheng Hsieh (1996)

3 DỰ TÍNH CHUYỂN VỊ NGANG VÀ

LÚN XUNG QUANH HỐ ĐÀO SAU KHI

XỬ LÝ ĐẤT YẾU BẰNG CÔNG NGHỆ

JET GROUTING

3.1 Giới thiệu công trình

Công trình dùng để phân tích nghiên cứu là

Trung tâm thương mại Tài chính Dầu khí Phú

Mỹ Hưng (Petroland Tower) Dự án tọa lạc tại

khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng Trung tâm cao

30 tầng gồm 3 tầng đế, 27 tầng tháp và 3 tầng

hầm với tổng diện tích sàn xây dựng trên

Kích thước trung bình hố đào: 50m x 60m

Chiều sâu đào lớn nhất (3 tầng hầm): 14.0m,

mực nước ngầm cao Biện pháp thi công:

Semi Top – Down Địa chất công trình được

tóm tắt trong bảng 1

Hình 1: Mặt bằng công trình

Biện pháp chống đỡ: tường vây dày 0.8m, kết hợp với thanh chống ngang, sàn tầng hầm Tường vây được cắm vào độ sâu -24.0m so với mặt đất tự nhiên Tường vây nằm hoàn toàn phần lớn trong lớp đất bùn sét, lớp đất sét từ trạng thái dẻo cứng đến dẻo mềm, lớp cát hạt mịn đến hạt trung

Trình tự thi công hố đào gồm các bước sau:

-Giai đoạn 1: thi công tường vây -Giai đoạn 2: đào đất đến cao độ -2.5m -Giai đoạn 3: Lắp hệ giằng chống ở cao

độ -2m -Giai đoạn 4: đào đất đến cao độ -4.5m -Giai đoạn 5: thi công sàn tầng hầm B1 -3.6m

-Giai đoạn 6: đào đất đến cao độ -8.0m -Giai đoạn 7: thi công sàn tầng hầm B2 -7.2 m

-Giai đoạn 8: đào đất đến cao độ -11.0m -Giai đoạn 9: Lắp hệ giằng chống ở cao độ -9.5m

-Giai đoạn 10: đào đất đến cao độ -14.0m

3.2 Phân tích quá trình thi công hố đào bằng phần từ hữu hạn (Plaxis V8.5)

Trang 3

3.2.1Các thông số đầu vào

- Phụ tải mặt đất

Phụ tải trên mặt đất lúc này chủ yếu là máy

móc thi công nên tải trọng xung quanh lấy

cách mép hố đào 1m

Bảng 1 Tính chất cơ lý chủ yếu của đất nền xây dựng công trình

STT Lớp đất

Dày Trạng thái W  w   d  k

Cắt trực tiếp Ngoài hiện trường

(m) (%) g/cm3 g/cm3 (cm/s) kN/m2 Độ daN/cm2

2 Lớp 2 12.5 Bùn sét 112.5 1.45 0.71 6.4E-5 7.9 1056’ 0.29 -

3 Lớp 3 6.5 Sét dẻo

mềm 23.4 2.01 1.63 1.8E-5 16.8 16

0 35’ - 21

4 Lớp 4 27 Cát chặt

vừa 13.39 2.62 1.94 - 7.5 29

0 48’ - 38

5 Lớp 5 5.5 Sét cứng 19.11 2.06 1.73 - 64.7 23027’ - 44

- Thông số tường vây

Tường vây có chiều dày 0.8m, chiều sâu

tính từ mặt đất tự nhiên là 24m, sử dụng bê

tông có cấp độ bền B30 để thi công có EA =

=12.800KN/m/m

- Thông số thanh chống

Hố đào được thi công kết hợp với 2 tầng

thanh chống H400x400x13x2 Ở độ sâu -2m

có một tầng chống và ở độ sâu -9.5m có hai

tầng chống Thông số của một tầng chống

như sau: EA=4.51E+06 KN/m, L=5m

- Thông số sàn tầng hầm

Công trình gồm hai tầng hầm, tầng hầm 1

ở độ sâu -3.6m, tầng hầm 2 ở độ sâu -7.2m

với bề dày 0.25m.Các thông số của tầng hầm

được tóm tắt như sau: EA=8.13E+06 KN/m,

- Thông số Jet Grouting

Tùy thuộc vào lượng dùng xi măng và loại đất và thời gian ninh kết mà đất nền sau khi được xử lý bằng công nghệ Jet-grouting

sẽ có sự phát triển về cường độ khác nhau Theo Trần Nguyễn Hoàng Hùng (2013) nghiên cứu cọc Jet Grouting trong điều kiện địa chất TP.HCM, thì để cho trong quá trình khoan phụt không xảy ra hiện tượng tắt nghẽn vòi phun thì tỷ lệ nước và xi măng hợp lý là 0.7 (w/c = 0.7)

3.2.2 Kiểm chứng các thông số của

mô hình

Hai mô hình được lựa chọn để đánh giá

sự đúng đắn của các thông số đầu vào là mô hình Morh-Coulomb (MC) và mô hình Hardening Soil (HS), kết quả chuyển vị tường vây sử dụng hai mô hình so với kết quả đo đạc thực tế khi đào đến đáy hố đào (-14m) thể hiện trong (Hình 2)

Trang 4

Qua so sánh giữa hai mô hình MC, HS và

quan trắc, nhận thấy mô hình HS cho kết quả

gần với quan trắc hơn Vì mô hình MC chỉ

xét đất như vật liệu đàn hồi – dẻo lý tưởng,

mô hình HS có xét tới sự gia tải và dỡ tải,

điều này phù hợp hơn đối với bài toán thi

công hố đào Tuy nhiên HS vẫn khác so với

thực tế quan trắc vì mẫu đưa vào phòng thí

nghiệm đã khác so với đất làm việc ngoài

thực tế Kết quả quan trắc này được đưa ra

với mục đích lựa chọn mô hình thích hợp

cho bài toán xử lý đất yếu dưới đáy hố đào

bằng phương pháp phụt vữa áp lực cao

Nhìn vào đồ thị chuyển vị của tường vây,

thấy rằng kết quả chuyển vị lớn nhất của

tường vây ở vị trí đáy hố đào, điều này khá

phù hợp với những lý thuyết tính toán

Bài toán được đưa ra làm giảm chuyển vị

ngang của tường vây là xử lý đất nền trong

khu vực hố đào, nhằm tăng sức kháng bị

động trong hố đào bằng cách bơm vào khu

vựa hố đào những cọc xi măng đất sử dụng

công nghệ bơm phụt cao áp Jet Grouting hay

còn gọi là những cọc JGPs

Cọc được cắm vào đáy hố đào với chiều

dài dự kiến 7m được tính từ mặt đáy hố đào

Hình 2 So sánh chuyển vị ngang của tường vây giữa quan trắc thực tế, mô hình MC, mô hình

HS khi đào đất -14m

3.2.3 Phương pháp mô phỏng

Cọc JGPs mô phỏng được giả định có cường

độ nén 1 trục nở hông tự do (unconfined compression test) là qu = 10 (kG/cm2) = 1000

là: c = qu/2 = 500 (kN/m2), giá trị môđun biến dạng của lớp JGPs được chọn E = 200qu =

Cách bố trí mô phỏng hố đào có hai phương pháp như sau:

Hình 3a Cọc JGPs làm việc bằng

phương pháp vật liệu riêng biệt

(PP RAS: the real allocation simulation)

Hình 3b Cọc JGPs làm việc bằng vật liệu tương đương (PP EMS:

Equivalent material simulation) Hình 3 Phương pháp mô phỏng vật liệu

Trang 5

3.2.4 Phân tích ảnh hưởng của tỷ lệ xử lý mặt đất Ir đến chuyển vị tường vây

Hình 5 Chuyển vị tường vây sau khi gia cố đất

bằng phương pháp phụt vữa áp lực cao theo

phương pháp vật liệu riêng biệt

Hình 6 Kết quả chuyển vị tường vây sau khi gia

cố đất bằng phương pháp phụt vữa áp lực cao theo phương pháp vật liệu tương đương

Chuyển vị tường vây ở đáy hố đào là nguy

hiểm nhất khi đào ở độ sâu -14m, nên ở đây chỉ

so sánh kết quả chuyển vị tường vây trong

trường hợp này Sau khi mô phỏng mô hình xử

lý đáy hố đào bằng phụt vữa Jet Grouting bằng

phần mềm plaxis, kết quả chuyển vị ngang của

tường vây được phân tích, so sánh theo phương

pháp RAS và phương pháp EMS sẽ trình bày

trong (Hình 4), (Hình 5)

Sau khi xử lý bằng phương pháp phụt vữa áp

20% chuyển vị ngang của tường vây (cách đỉnh

tường 10m) theo phương pháp RAS tương ứng

là 74.1mm, 71.8mm, 68.7mm, 67.3mm tức là đã

giảm tương ứng 11.5%, 14%, 18%, 19.7% Còn

đối với phương pháp EMS, chuyển vị ngang

giảm tương ứng là 71.1mm, 67.8mm, 67mm,

66mm tức là đã giảm tương ứng 15%, 19%,

20%, 21.2%

Việc mô phỏng mô hình RAS trong phần

mềm Plaxis mất khá nhiều thời gian so với

phương pháp EMS Để xem xét sự làm việc giữa hai phương pháp RAS và EMS ở (Hình 5), (Hình 5), ứng với từng tỷ lệ phụt vữa Ir=5%, 10%, 15%, 20%, ta so sánh các biểu đồ (Hình 6), (Hình 7), (Hình 8), (Hình 9) nhằm tìm ra phương pháp mô phỏng cho kết quả tương đối chính xác và nhanh nhất

Qua việc mô phỏng cọc bằng hai phương pháp, phương pháp vật liệu riêng biệt (RAS) và phương pháp vật liệu quy đổi tương đương (EMS), ta nhận thấy kết quả chuyển vị lớn nhất của tường vây có sai lệch giữa hai phương pháp khi phụt vữa áp lực cao Tuy nhiên kết quả sai lệch này không đáng kể, nên có thể quan niệm rằng cọc và đất làm việc như một khối đồng nhất để thuận tiện trong quá trình tính toán thiết kế

Các sự cố thường gặp khi thi công hố đào trong vùng đất yếu thường gặp là: mất ổn định thành (mái) hố đào, lún bề mặt đất xung quanh

hố đào, đẩy trồi đáy hố đào, hư hỏng kết cấu

Trang 6

móng và các bộ phận ngầm đã xây dựng bên

trong hố đào và các công trình lân cận hố đào

Mà nguyên nhân chủ yếu gây sự cố là sự dịch

chuyển của các lớp đất yếu từ bên ngoài vào phía trong hố đào, hạ mực nước ngầm, tăng áp lực nước dưới đáy hố đào

Hình 6 Chuyển vị

tường vây đào -14m

(I r =5%)

Hình 7 Chuyển vị tường vây đào -14m (I r =10%)

Hình 8 Chuyển vị tường vây đào -14m (I r =15%)

Hình 9 Chuyển vị tường vây đào -14m (I r =20%)

Bên cạnh vấn đề ảnh hưởng chuyển vị ngang

của tường vây đến độ ổn định của công trình, thì

việc xem xét độ lún của đất xung quanh hố đào

cũng cần được quan tâm trong quá trình thi

công Kết quả phân tích, so sánh độ lún xung

quanh hố đào theo phương pháp phần tử hữu

hạn sẽ được nêu ra sau đây

Khi so sánh độ lún xung quanh hố đào theo

phương pháp RAS và EMS với các tỷ lệ phụt

vữa khác nhau sẽ được trình bày trong

(Hình 9), (Hình 10)

Lún bề mặt hố đào cũng được cải thiện khi

xử lý nền, điều này hết sức cần thiết cho sự an

toàn các công trình lân cận khi thi công hố đào

Độ lún xung quanh hố đào khi chưa xử lý là

97.5mm cách mép tường vây 4.5m Sau khi xử

lý đất bằng bơm phụt tính toán theo RAS với

quanh hố đào tương ứng 86.6mm, 81mm,

73.9mm, 71.6mm tức là giảm 11%, 17%, 24%,

26% Khi xử lý đất bằng bơm phụt tính toán

thì độ lún xung quanh hố đào tương ứng 80.6mm,

77.2mm, 75.7mm, 72.7mm tức là giảm 17%, 20%,

23%, 25%

Hình 10 Chuyển vị mặt đất quanh hố đào khi chưa

xử lý và xử lý đáy hố bằng phương pháp RAS

Hình 11 Chuyển vị mặt đất quanh hố đào khi chưa

xử lý và xử lý đáy hố bằng phương pháp EMS

Trang 7

4 KẾT LUẬN

Đánh giá ảnh hưởng của cọc JGPs dùng xử

lý đất dưới đáy hố đào, tác giả tiến hành khảo

15%, 20%, chuyển vị tường vây tại vị trí nguy

hiểm nhất giảm tương ứng 11.5%, 14%, 18%,

19.7% theo phương pháp RAS, còn theo

phương pháp EMS chuyển vị ngang giảm tương

ứng 15%, 19%, 20%, 21.2%

10%, 15%, 20% thì độ lún xung quanh hố đào

giảm lần lượt với tỷ lệ 11%, 17%, 24%, 26%

Khi xử lý đất bằng bơm phụt tính toán theo

EMS độ lún xung quanh hố đào giảm lần lượt

với tỷ lệ 17%, 20%, 23%, 25%

Trên kết quả phân tích chuyển vị tường vây

trong từng trường hợp khác nhau về lượng vữa

phụt vào đất Ir=5%, Ir=10% , Ir=15%, Ir=20%,

Qua việc mô phỏng cọc bằng hai phương

pháp, phương pháp vật liệu riêng biệt (RAS) và

phương pháp vật liệu quy đổi tương đương

(EMS), ta nhận thấy kết quả chuyển vị lớn nhất

của tường vây có sai lệch giữa hai phương

pháp khi phụt vữa áp lực cao Tuy nhiên kết

quả sai lệch này không đáng kể, nên có thể

quan niệm rằng cọc và đất làm việc như một

khối đồng nhất để thuận tiện trong quá trình

tính toán thiết kế

5 KIẾN NGHỊ

Ngoài phân tích trên mô hình 2D, cần xét

thêm mô hình phân tích 3D để kiểm tra sự chính

xác của mô hình, từ đó góp phần tìm ra phương

pháp tính có độ chính xác cao, phục vụ cho quá

trình tính toán, áp dụng sau này

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có quy trình hóa

phù hợp về chỉ tiêu, thông số vữa phụt áp lực

cao cho các phương pháp và đối tượng địa tầng

phụt thích hợp Vì vậy, việc lựa chọn các thông

số để đưa vào thiết kế cần được xem xét cẩn thận, có thể dựa trên kinh nghiệm của công trình tương tự đã thi công Bên cạnh đó, việc kết hợp với quan trắc thực tế để có thể hiệu chỉnh kịp thời các thông số thiết kế, làm tài liệu tham khảo cho các công trình sau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] M.P.Moseley and K.Kirsch, “Ground

Improvement”, chương 5 – Jet grouting

[2] Trần Nguyễn Hoàng Hùng “Ứng dụng

công nghệ phụt vữa cao áp xử lý & gia cố nền.”

Hội thảo khoa học, TP.HCM, Việt Nam, 2013

[3] Bruce, D.A (1994), “Jet Grouting”,

Ground Control and Improvement, edited by Xanthakos, PP., Abramson, L.W and Bruce, D.A., John Willey & Sons, New York, pp

580 – 683

[4] Lý Hữu Thắng, Trần Nguyễn Hoàng

Hùng, “Đánh giá bước đầu về ứng dụng công

nghệ phụt vữa cao áp (Jet Grouting) trong điều kiện Việt Nam”, tạp chí xây dựng 2012

[5] Chu, E.H (2005), “Turbulent fluid jet

excavation in cohesive soil with particular application to Jet Grouting”, D.S thesis,

Massachusetts Institute of Technology, 457 pp [6] Nguyễn Quốc Dũng, “Hướng dẫn thiết

kế thi công cọc đất xi măng theo công nghệ Jet Grouting”, (2014)

[7] Woo, S M (1990) “Use of ground improvement in deep excavation sites for

Asian Regional conf on Soil Mech, and found Engrg., Panellist Rep., Bangkok, Thailand, 9-14

Người phản biện: PGS.TS ĐÀO VĂN TOẠI

Ngày đăng: 10/02/2020, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w