1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu sức chống cắt của đất bằng các thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT), xuyên tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng (CPTU) và ứng dụng trong phân tích ổn định nền đường đắp trên đất yếu

6 196 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 542,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc xác định tương quan hợp lý để xác định SCC không thoát nước qua kết quả SPT và CPTu phục vụ việc phân tích ổn định nền đường đắp trên đất yếu.

Trang 1

NGHIÊN CỨU SỨC CHỐNG CẮT CỦA ĐẤT BẰNG CÁC THÍ NGHIỆM XUYÊN TIÊU CHUẨN (SPT),

XUYÊN TĨNH CÓ ĐO ÁP LỰC NƯỚC LỖ RỖNG (CPTU)

VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHÂN TÍCH ỔN ĐỊNH

NỀN ĐƯỜNG ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU

NGUYỄN THÁI LINH, NGUYỄN ĐỨC MẠNH *

Study on shear strength of soil by standard penetration test (SPT) and piezocone penetration test (CPTu) and application in stabilization analysis of embankments on soft soil

Abstract: The paper presents the determination of shear strength and

undrained shear strength of the ground by results standard penetration test (SPT) and, piezocone penetration test (CPTu) at Ha Dong - Hanoi From this, the undrained shear strength is used for stability analysis of embankment on soft soil

Keyword: Standard penetration test (SPT), piezocone penetration test

(CPTu), undrained shear strength, stability, embankment.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Sức chống cắt (SCC) của đất nói chung và

sức chống cắt không thoát nước nói riêng là

tham số cơ bản sử dụng để phân tích ổn định

trượt sâu nền đường đắp trên đất yếu SCC

thường được xác định trực tiếp từ mẫu đất trong

phòng cũng có thể xác định trực tiếp hay gián

tiếp từ các thí nghiệm hiện trường

Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (Standard

Penetration Test - SPT) và thí nghiệm xuyên

tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng (Piezocone

Penetration Test - CPTu) được nhiều tác giả

trong và ngoài nước sử dụng để nghiên cứu

SCC của các loại đất khác nhau thông qua các

tương quan thực nghiệm Các nghiên cứu này

đều khẳng định rằng việc xác định SCC từ kết

quả thí nghiệm SPT và CPTu có độ tin cậy dễ

tiến hành nhanh và thuận tiện [1,2,5,6,7,8,11]

Trong khi đó tiêu chuẩn hiện hành (22TCN

*

Bộ môn Địa kỹ thuật, khoa Công trình,

Đại học Giao thông Vận tải

E-mail: thailinh.303@gmail.com

E-mail: ndmanhgeot@gmail.com

262-2000) ở nước ta thường yêu cầu xác định sức chống cắt không thoát nước của các lớp đất yếu bằng thí nghiệm cắt cánh hiện trường phục

vụ phân tích ổn định khi thiết kế nền đắp trên đất yếu

Vấn đề đặt ra là có thể sử dụng thông số SCC không thoát nước xác định theo kết quả SPT hay CPTu thay thế cho thí nghiệm cắt cánh hiện trường để phân tích ổn định nền đắp trên đất yếu ở điều kiện nước ta được hay không? Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm công trình cụ thể tại Hà Đông - Hà Nội sử dụng các tương quan đã có của một số tác giả ngoài nước bài báo xác định tương quan hợp l để xác định SCC không thoát nước qua kết quả SPT và CPTu phục vụ việc phân tích ổn định nền đường đắp trên đất yếu

2 SỨC CHỐNG CẮT CỦA ĐẤT THEO KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM SPT VÀ CPTu 2.1 Theo kết quả SPT

Hiện có nhiều tương quan cho phép xác định SCC của đất rời và đất dính bằng kết quả SPT Với đất cát tiêu biểu có [1 7 8 11]:

Trang 2

Công thức Peck Hanson và Thornburn

(1974),

Hay công thức Schmertmann (1975)

arctg[N60/(12,2+20,3 ‟vo)]0,34 (2)

Còn Meyerhof (1956) sử dụng bảng tra sau:

Bảng 1 Góc ma sát trong của đất rời

theo kết quả SPT (Meyerhof, 1956)

N 0 - 4 4 - 10 10 - 30 30 - 50 > 50

 (độ) < 30 30 - 35 35 - 40 40 - 45 > 45

Trong đó:

N‟60 là chỉ số SPT chuẩn hóa về 60% năng

lượng hữu ích;

N là chỉ số SPT;

CE là hệ số hiệu quả phụ thuộc vào thiết bị

thí nghiệm Ở nước ta được khuyến nghị lấy CE

= 0,5 – 0,9 [1,7,8];

CN là hệ số độ sâu có thể xác định CN bằng

một trong những quan hệ của:

Liao và Whitman (1986),

CN = (0,9576/‟vo)0,5

(4) Peck (1974),

Skempton (1986),

‟vo là ứng suất hữu hiệu do trọng lượng bản

thân lớp đất theo phương đứng (kg/cm2

)

Với đất sét bão hòa nước sức chống cắt

không thoát nước có nhiều tác giả đề cập điển

hình như [1 2 3 5 6 9 10]:

Công thức Sower (1979)

Trong đó:

a = 10 với đất sét

a = 15 với đất sét pha

a = 20 với đất cát pha Với Terzaghi và Peck (1967)

Còn theo Hara (1974),

2.2 Theo kết quả CPTu

Trong thí nghiệm CPTu sẽ đo được sức kháng mũi qc ma sát thành đơn vị fs và áp lực nước lỗ rỗng u nhờ những bộ chuyển tín hiệu riêng biệt Trong thiết bị CPTu sức kháng mũi

qc không phải áp lực thực tác dụng lên mũi côn

qT, vì thế có thể tính:

trong đó: uT là áp lực nước lỗ rỗng đo tại vòng đá thấm ở đầu mũi xuyên; a là tỷ số tiết diện ngang giữa trục và đáy mũi xuyên a = 0,8 – 0,82

Khi nghiên cứu về sức chống cắt không thoát nước của đất yếu (Su) bằng CPTu có thể sử dụng một trong các công thức Vésic (1975) Senneset (1985), Aas và nnk (1986), Konrad và Law (1987), Teh và Houlsby (1991), Yu và nnk (2000) hay Su và Liao (2002) [2,3,5,6]

Với đất cát SCC theo CPTu có một số quan

hệ như:

Công thức của Roberson và Campanella (1983),

 arctg [0,1 + 0,38.log (qT/‟vo)] (11) Công thức Kulhawy và Mayne (1990)

Theo Meyerhof (1956) sử dụng bảng 2

Bảng 2 Góc ma sát trong của đất rời theo kết quả CPTu (Meyerhof, 1956)

qc (kPa) < 20 20 - 40 40 - 120 120 -

200

>

200

 (độ) < 30 30 -35 35 - 40 40 - 45 > 45

Với đất dính sức chống cắt không thoát nước theo CPTu có thể sử dụng quan hệ sau [4 ]: Công thức Keaveny và Michell (1986)

Trang 3

Su = (qT - ‟vo)/Nk (13)

Với Nk là hệ số hiệu chỉnh Nk = 15 – 20

Công thức Li (2011)

Theo Viện xây dựng Sichuan – Trung Quốc

(2014):

3 NGHIÊN CỨU ỔN ĐỊNH TRƯỢT SÂU

NỀN ĐƯỜNG ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU BẰNG

KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM SPT VÀ CPTU

3.1 Vị trí nghiên cứu

Sử dụng kết quả nghiên cứu từ công trình

đường trục phía nam tỉnh Hà Tây (cũ) nay thuộc

địa phận Quận Hà Đông thành phố Hà Nội

nhóm nghiên cứu thực hiện công tác khoan thăm

dò thí nghiệm mẫu đất trong phòng thí nghiệm

xuyên tiêu chuẩn thí nghiệm cắt cánh trong lỗ

khoan và thí nghiệm xuyên tĩnh có đo áp lực

nước lỗ rỗng với 04 mặt cắt ngang nghiên cứu

bao gồm 08 lỗ khoan khảo sát địa chất và 03

điểm xuyên CPTu cho đoạn tuyến dài hơn 6km

Địa tầng của mặt cắt lựa chọn nghiên cứu ngoài

lớp kết cấu áo đường và đất đắp nền đường có

các lớp đất nền tự nhiên là sét dẻo cao - dẻo mềm

(lớp 2a) phía dưới là lớp bụi dẻo cao - dẻo chảy

(lớp 2b), lớp sét bụi dẻo cao xen kẹp cát dẻo

mềm (lớp 2c) dưới cùng là lớp cát chặt vừa

Mực nước ngầm ngang mặt đất Các lớp đất 2a,

2b và 2c được xem là ít thuận lợi cho xây dựng

đường ô tô đắp trên nó – đất yếu là đối tượng

chính được phân tích trong nghiên cứu này

Bảng 3 Thông số cơ bản các lớp đất nền

Lớp Chiều dày

lớp đất (m) (kN/m 3 ) S u *

(kPa)

**

(độ)

* Su từ thí nghiệm cắt cánh hiện trường

**  xác định theo TCVN 9351:2012

Một số thông số cơ bản của các lớp đất nền trong mặt cắt nghiên cứu như bảng 3

3.2 Đặc điểm sức chống cắt không thoát nước của đất theo kết quả SPT và CPTu trong phạm vi nghiên cứu

Thí nghiệm SPT và CPTu được thực hiện tại công trình nghiên cứu đường trục phía Nam Hà Tây (cũ) dùng các hàm tương quan thực nghiệm tại mục 2 xác định được thông số sức chống cắt các lớp đất 2a 2b và 2c mặt cắt nghiên cứu

* Với thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn

Các hình 1, 2, 3 và 4 cho thấy, sức chống cắt không thoát nước (Su) xác định bằng N60, theo Sower, Terzaghi và Peck, hay Hara rất khác nhau Su xác định qua SPT theo công thức Hara cho các lớp đất 2a, 2b và 2c là lớn nhất, còn theo Sower là bé hơn cả

So sánh với thí nghiệm cắt cánh hiện trường (bảng 3, hình 4), Su tính theo Sower nhỏ hơn từ 16% đến 19% theo Hara cao hơn từ 7% đến 18% trong khi độ chênh lệch này với công thức của Terzaghi và Peck chỉ là 3%

Hình 1 Su xác định qua N60 của lớp đất 2a

Trang 4

Hình 2 S u xác định qua N60 của lớp đất 2b

Hình 3 S u xác định qua N60 của lớp đất 2c

Hình 4 So sánh Su xác định theo N60 với Su từ

cắt cánh hiện trường

Với lớp đất cát (lớp đất số 3), góc ma sát

trong  xác định qua N60 theo các công thức

Meyerhof, Peck và Schmertmann cho kết quả có

sự khác biệt không lớn (lệch nhau 4%-10%)

(hình 5)

Hình 5 xác định qua N60 của lớp đất 3

* Với thí nghiệm xuyên tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng

Sức chống cắt không thoát nước (Su) các lớp đất 2a 2b 2c xác định bằng kết quả thí nghiệm CPTu theo các công thức Li, Keaveny và Michell, hay Viện xây dựng Sichuan có sự khác biệt (hình 6, 7, 8) Khi so sánh Su xác định theo CPTu với cắt cánh hiện trường (hình 9), Su theo Keaveny và Michell thấp hơn so với thí nghiệm cắt cánh từ 1% đến 15% trong khi đó Su theo công thức Viện xây dựng Sichuan cao hơn Su từ cắt cánh 6-12% Đối với công thức liên hệ của

Li cho kết quả độ lệch nhỏ nhất, khoảng 3,5%

Hình 6 Su xác định qua qT của lớp đất 2a

Trang 5

Hình 7 Su xác định qua qT của lớp đất 2b

Hình 8 S u xác định qua q T của lớp đất 2c

Hình 9 So sánh S u xác định theo qT với S u từ cắt

cánh hiện trường các lớp đất

Trường hợp đất cát (lớp 3), góc ma sát trong

() xác định theo các công thức 10, 11 và bảng

2 Kết quả nghiên cứu cho thấy,  xác định theo

các tác giả khác nhau có sự chênh lệch không lớn (2,5 - 9 4%) (hình 10) Trường hợp này, công thức liên hệ của Meyerhof cho giá trị góc

ma sát trong của đất cát bé nhất

Hình 10 xác định theo CPTu của lớp 3

3.3 Phân tích ổn định trượt sâu nền đường đắp trên đất yếu khi sử dụng sức chống cắt không thoát nước theo kết quả SPT và CPTu

Sử dụng mặt cắt địa chất gồm các lớp đất nền như bảng 3 phân tích ổn định nền đường đắp cao từ 3 5m đến 6m với bề rộng mặt đường

40m xét ở 3 trường hợp:

- Trường hợp 1 (TH1): Sử dụng Su của các lớp đất 2a 2b 2c từ thí nghiệm cắt cánh hiện trường

và  lớp 3 lấy theo TCVN 9351:2012 (bảng 3)

- Trường hợp 2 (TH2): Sử dụng Su xác định qua chỉ số SPT theo công thức của Terzaghi và Peck, và  lớp 3 lấy theo công thức Peck (hình

1, 2, 3, 5)

- Trường hợp 3 (TH3): Sử dụng Su xác định qua kết quả CPTu theo công thức của Li, và 

lớp đất 3 lấy theo quan hệ Meyerhof (hình 6,7,8,10)

Sử dụng phần mềm Geostudio 2007 mô đun Slope/W, phân tích ổn định trượt sâu khi nền đắp cao 3,5m; 4m; 4,5m; 5m; 5,5m và 6m Kết quả phân tích ổn định cho các trường hợp và các điều kiện khác nhau được thể hiện tại bảng 4

Trang 6

Bảng 4 Hệ số ổn định trượt sâu nền đường

đắp trên đất yếu các trường hợp nghiên cứu

Hệ số ổn định (F s )

TH

Bảng 4 cho thấy, ở trường hợp cụ thể, cùng

tải trọng tác dụng (cùng chiều cao đắp), hệ số ổn

định trượt (Fs) gần tương đương nhau (độ chênh

lệch < 2,7%) khi sử dụng thông số sức chống

cắt không thoát nước xác định qua chỉ số SPT

theo công thức Terzaghi và Peck xác định qua

kết quả CPTu theo công thức Li và theo kết quả

thí nghiệm cắt cánh hiện trường

Khi chiều cao đắp nền tăng hệ số ổn định

trượt giảm tuyến tính tương ứng mỗi trường hợp

xem xét (bảng 4)

4 KẾT LUẬN

Sức chống cắt không thoát nước (Su) các lớp đất

dính mềm yếu (trạng thái dẻo mềm – dẻo chảy) xác

định thông qua các kết quả thí nghiệm xuyên tiêu

chuẩn (SPT) bằng công thức Terzaghi và Peck, hay

xuyên tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng (CPTu) theo

công thức Li có thể sử dụng để thay thế kết quả thí

nghiệm cắt cánh hiện trường khi phân tích ổn định

trượt sâu nền đường đắp trên đất yếu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Vũ Công Ngữ, Nguyễn Thái (2006), "Thí

nghiệm đất hiện trường và ứng dụng trong phân

tích nền móng", Nxb KH&KT, Hà Nội

[2] Fernando Schnaid (2006), "Piezocone

Penetration Tests CPTu", Universidade Federal

do Rio Grande do Sul, Brazil

[3] Hara, A., Ohta, T., Niwa, M., Tanaka, S.,

and Banno, T (1974), “Shear modulus and

shear strength of cohesive soils”, Soils and

Foundation., 14(3), 1-12

[4] Li, Z.M (2011), "Soft soil foundation

reinforcement with quality control", Beijing -

China Building Industry Press

Department of Civil Engineering, "Manual On

Interpretation Of Seismic Piezocone Test Data For Geotechnical Design (2001) Practical Applications of the Cone Penetration Test", The

University of British Columbia USA 235pp [6] United States Department of Agriculture Natural Resources Conservation Service (2012),

National Engineering Handbook

[7] Liao, S.S.C and Whitman, R.V (1986),

"Overburden Correction Factors for SPT in Sand", Journal of Geotechnical Engineering,

A.S.C.E., v 112:3, p 373-377

[8] Skempton (1986), "Standard Penetration

Test Procedures and the Effects in Sands of Overburden Pressure, Relative Density, Particle Size, Aging and Overconsolidation",

Geotechnique, v 36:3, p 425-447

[9] Sowers, G.B and Sowers, G.F (1970),

"Introductory Soil Mechanics and Foundations",

Third Edition, The MacMillan Co., New York [10] Peck, R., Hanson,W., and Thornburn

(1974), "Foundation Engineering Handbook",

Wiley, London

[11] Terzaghi, K and Peck, R.B (1967),

"Soil Mechanics in Engineering Practice", John

Wiley, NewYork 729

[12] TCVN 9351:2012 - Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT

[13] TCVN 9846:2013 - Quy trình thí nghiệm xuyên tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng (CPTu) [14] 22TCN 262:2000 - Quy trình khảo sát nền đường ô tô đắp trên đất yếu

Người phản biện: PGS.TS TRẦN MẠNH LIỄU

Ngày đăng: 10/02/2020, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w