Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Phú Bình lần thứ III, năm 2019 diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa quan trọng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện đang ra sức phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXVI, nhiệm kỳ 2015 2020
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ BÌNH
Số : /BC-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc
Phú Bình, ngày tháng năm 2019
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN PHÚ BÌNH LẦN THỨ III, NĂM 2019
Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Phú Bình lần thứ III, năm 2019 diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa quan trọng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện đang ra sức phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 Với sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong những năm qua, kinh tế - xã hội của huyện có bước tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; hệ thống chính trị hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; quốc phòng, an ninh được giữ vững; khối đại đoàn kết các dân tộc không ngừng được củng cố; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên; bộ mặt nông thôn của huyện ngày càng khởi sắc
Để kịp thời biểu dương, ghi nhận những đóng góp quan trọng của đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn huyện Phú Bình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong suốt 5 năm qua; đồng thời đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2014-2019; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2019-2024 UBND huyện Phú Bình long trọng tổ chức Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số lần thứ III, năm 2019 với chủ
đề: “Các dân tộc huyện Phú Bình đoàn kết, phát huy nội lực, hội nhập và phát triển”.
PHẦN THỨ NHẤT TÌNH HÌNH DÂN TỘC VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN PHÚ BÌNH
Huyện Phú Bình nằm ở phía Nam tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía Tây và Tây Nam giáp thị xã Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang), phía Nam giáp huyện Hiệp Hòa (tỉnh Bắc Giang) Diện tích tự nhiên 243,36 km2; có 20 đơn vị hành chính gồm 19 xã và 01 thị trấn với 307 xóm và tổ dân phố, có 06 xã miền núi với
35 xóm đặc biệt khó khăn (trong đó có 01 xã KV II: Xã Bàn Đạt; 05 xã khu vực II:
Xã Tân Khánh, xã Tân Kim, xã Tân Thành, xã Tân Hòa, xã Tân Đức; 01 xã ATK:
xã Kha Sơn).
Dân số của huyện trên 153.007 người với 38.511 hộ Toàn huyện có 3.083
hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở các xã Tân Thành, Tân Hòa, Tân Kim, Tân Khánh và Bàn Đạt với tổng số 14.441 nhân khẩu chiếm 9,44% dân
Trang 2số toàn huyện (trong đó Dân tộc Nùng chiếm 4,26%, Sán Dìu chiếm 2,55%, Tày chiếm 2,06%, Dao chiếm 0,15%, Mường chiếm 0,14%, các dân tộc khác: Sán trí, Sán Chay, Thái, Mông, Hoa, Ngái, Cao Lan, Thổ, Khơ Me, Khơ mú, Na trí, Sơ Đăng, Ra rai 0,28%) Tổng số hộ nghèo toàn huyện tính đến 31/12/2018 là 2.591
hộ chiếm 6,73 %, hộ cận nghèo 4.657 hộ chiếm 12,09%; trong đó số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số là 450 hộ
Phú Bình là địa phương có bề dày lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng, là An toàn khu II của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ thời kỳ trước cách mạng Tháng tám, vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp Đồng bào các dân tộc trong huyện luôn
có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất, cũng như trong đời sống, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của huyện nhà Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đưa các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc
và miền núi đến với Phú Bình như: Chương trình 135, Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình xóa đói giảm nghèo, Chính sách hỗ trợ vùng an toàn khu Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng ngày càng được cải thiện, điều kiện về kết cấu hạ tầng, văn hóa, y tế, giáo dục, ngày càng được nâng cao, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm qua các năm
Công tác dân tộc trên địa bàn huyện được các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở quan tâm chỉ đạo thực hiện Đặc biệt là việc triển khai thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc; Quyết định số 499/QĐ-TTg ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; Quyết định số 1818/QĐ-UBND ngày 27/7/2015 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Sau 5 năm thực hiện quyết tâm thư của Đại hội lần thứ II năm 2014 với sự
nỗ lực phấn đấu của địa phương và được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành trong tỉnh và trung ương, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Phú Bình đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng; sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa - thông tin, thể thao có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc thiểu số đã được nâng lên rõ rệt; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được thực thi nghiêm túc, có hiệu quả Nhân dân các dân tộc thiểu số trong huyện luôn phát huy tinh thần đại đoàn kết, nguyện một lòng theo Đảng góp phần quan trọng phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, đảm bảo an
Trang 3ninh - quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị của Đảng bộ huyện ngày càng vững mạnh
PHẦN THỨ HAI TỔNG KẾT, ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU, KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN TỘC, CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2014-2019
I Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện.
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Phú Bình lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2015-2020 Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành các nghị quyết, chương trình, đề án, kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát thực hiện theo mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Đại hội đề ra, cùng với triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo bền vững, đặc biệt là chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiếu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và phát triển bền vững; các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch về giáo dục và đào tạo; văn hóa; y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Vệ sinh an toàn thực phẩm; Phòng chống tội phạm…quan tâm chỉ đạo công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc hưởng ứng các phong trào, các cuộc vận động để phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh trật tự, đề cao tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau cùng phát triển, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn liên quan, các cơ quan thông tin tuyên truyền tổ chức tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chương trình mục tiêu, chính sách dân tộc trên địa bàn huyện Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội tổ chức tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chính sách dân tộc, từ đó vận động đoàn viên, hội viên thực hiện tốt các chính sách liên quan đến công tác dân tộc, tham gia tiếp nhận dự án, đẩy mạnh xã hội hóa Tập trung nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ưu tiên đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn, trong đó tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, phát triển sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội gắn với xây dựng nông thôn mới như: Điện lưới quốc gia, đường giao thông, trường học, trạm y tế, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, trợ giá, trợ cước các mặt hàng chính sách, hỗ trợ về giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội,…
II Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2014-2019
1 Tình hình phát triển kinh tế
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới, khu vực có nhiều biến động; kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn đã tác động đến thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nhưng với sự quyết tâm chính trị cao của các cấp
ủy đảng, chính quyền, sự đồng thuận cố gắng của nhân dân, kinh tế của huyện có mức tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước
Trang 4- Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 là 23 triệu đồng/người, đến năm
2018 đạt 50 triệu đồng/người, tăng 27 triệu đồng/người Cơ cấu kinh tế của huyện dần chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nghành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp.Tổng thu ngân sách giai đoạn 2014-2019 đạt 372,14
tỷ đồng
- Công tác thu hút đầu tư: Tích cực triển khai thực hiện dự án đầu tư trung hạn giai đoạn 2016-2020; Khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư đã đạt được kết quả cao như: Xây dựng 04 cây cầu bắc qua sông Đào (cầu Úc Sơn 2,3; cầu Tân Đức; cầu Cổ Dạ - Bảo Lý) Thu hút 40 dự án FDI vào khu công nghiệp Điềm Thụy với tổng số vốn cam kết lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng; thu hút đầu tư xây dựng trụ sở làm việc mới của HĐND và UBND huyện, trung tâm Văn hóa - TT huyện, cầu treo Hà Châu, dự án đường Vành đai 5 - Vùng thủ đô Hà Nội (đoạn tuyến đi trùng đại lộ Đông - Tây khu tổ hợp Yên Bình và cầu vượt sông Cầu) và nhiều công trình quan trọng khác Phấn đấu đến năm 2020 có thêm thị trấn Điềm Thụy
- Kết cấu hạ tầng của huyện nói chung và vùng đồng bào dân tộc miền núi
nói riêng luôn được quan tâm đầu tư Huyện Phú Bình luôn coi trọng xây dựng kết
cấu hạ tầng giao thông, xác định đây là một trong ba khâu đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội; các tuyến đường liên huyện, liên xã luôn được quan tâm như tuyến đường Tân Đức đi Tân Hòa, Tân Thành đi Tân Kim, nâng cấp tuyến đường 266 đoạn từ xã Điềm Thụy đi Nga My Hiện nay, toàn huyện có 20/20 xã, thị trấn có đường nhựa, bê tông đến trung tâm xã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh
tế, văn hoá xã hội trên địa bàn Tại các xã miền núi đã có nhiều gia đình là người dân tộc thiểu số tích cực tham gia hiến đất làm đường giao thông nông thôn, xây dựng các công trình phúc lợi như ông Lục Văn Sáu dân tộc Sán Dìu xóm Đá Bạc
xã Bàn Đạt, ông Liểu Huy Bằng dân tộc Nùng xóm Giàn xã Tân Hòa,…
Tiếp tục đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng một số cơ quan Nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu công sở văn minh, chưa bảo đảm đủ diện tích nơi làm việc theo quy định như: Trụ sở UBND xã Đào Xá, trụ sở UBND xã Nhã Lộng.…Đặc biệt năm 2017 tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện (hạng mục nhà hội nghị - thể thao) với tổng mức đầu tư 42 tỷ đồng
- Sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản: Có bước phát triển mạnh và phát
triển theo hướng bền vững; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh gắn với xây dựng nông thôn mới Tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 5 năm là 3.987,25
tỷ đồng Diện tích trồng rừng tăng, trong 5 năm đã trồng được 1.638 ha rừng, công tác bảo vệ rừng được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Năm 2014 giá trị sản phẩm/1ha đất trồng trọt là 75 triệu đồng, đến năm 2018 là 90,5/1 ha trồng trọt tăng 15.5 triệu đồng; Sản lượng lương thực cây có hạt trong 5 năm: 317.387 tấn, trong đó lúa 264.176,6 tấn, ngô 21.602 tấn
Chăn nuôi phát triển ổn định, mô hình chăn nuôi trang trại, gia trại ngày càng phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Năm 2018 toàn huyện có 253 trang trại, trong đó có 20/253 trang trại được cấp giấy chứng nhận VietGAP (trong đó có
15 trang trại gà và 05 trang trại lợn)
Trang 5Bên cạnh đó, phát triển thương hiệu Lúa nếp Thầu Dầu gắn với phương pháp canh tác cải tiến SRI và thí điểm dồn điền đổi thửa tại các xã Tân Đức, Xuân Phương, Úc Kỳ, Thanh Ninh với quy mô diện tích từ 50-100ha/ xã đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra còn có các mô hình như: mô hình trồng đậu tương trên đất lúa, đất mầu ở xã Dương Thành, mô hình trồng dưa lưới quy mô 0,5 ha tại xóm Nguộn xã Dương Thành, mô hình trồng dưa bao tử xuất khẩu ở các xã Tân Đức, Dương Thành, Thanh Ninh, Kha Sơn, Lương Phú
- Hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ: + Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: UBND huyện đã tích cực chỉ đạo các
cơ quan chuyên môn, UBND các xã, thị trấn làm tốt công tác quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, đồng thời tăng cường giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vào khu, cụm Công nghiệp, đặc biệt là khu, cụm Công nghiệp Điềm Thụy, Kha Sơn Hiện nay, toàn huyện có 2.686 cở sở sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn ước thực hiện (giá so sánh năm 2010) là 4.349 tỷ đồng, đạt 25,8% kế hoạch giao, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2018 (Trong đó: Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4.126 tỷ đồng, đạt 26,4% KH; Khu vực địa phương là 223 tỷ đồng, đạt 18,3% KH) Tập trung mở rộng quy mô sản xuất ngành nghề, các làng nghề truyền thống được duy trì và phát triển có hiệu quả như: Làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp xóm Tân Sơn 9 xã Xuân Phương, làng nghề mộc An Châu xã Nga My
+ Thương mại, dịch vụ: UBND huyện tích cực chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Hoạt động thương mại, dịch vụ có chuyển biến tích cực, số hộ kinh doanh có đăng ký nộp thuế ngày càng tăng, các chợ trên địa bàn huyện được quan tâm đầu
tư, xây dựng; các phiên chợ nông thôn được duy trì hoạt động tốt, hàng hóa đa dạng; hàng năm đều tổ chức các hội chợ đưa hàng hóa về nông thôn với tiêu chí:
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; các hoạt động vận tải, ngân hàng, bưu chính, viễn thông đều có bước phát triển cả về quy mô và chất lượng dịch vụ
2 Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
- Công tác giáo dục và đào tạo được quan tâm đầu tư phát triển Trong 5
năm qua, sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương Toàn huyện hiện có 64 đơn vị trường học công lập (MN 20 trường, Tiểu học 21 trường, THCS 20 trường, THPT 03 trường), 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên và 20 Trung tâm học tập cộng đồng tại các xã, thị trấn (Do 01/10/2017 xã Đồng Liên chuyển về TP Thái Nguyên) Quy mô trường lớp được mở rộng, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được tăng cường; đội ngũ cán bộ, quản lý giáo dục đảm bảo về số lượng, cơ cấu, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ; 100% giáo viên đạt chuẩn
Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia tiếp tục được UBND huyện quan tâm, năm 2014 tổng sống trường đạt chuẩn quốc gia từ bậc mầm non đến THCS là
47 trường Đến nay, toàn huyện có 59/64 trường đạt chuẩn quốc gia từ bậc mầm non đến THPT, đạt 92,18% (trong đó: Mầm non: 18 trường, tiểu học: 21 trường, THCS: 18 trường, THPT: 02 trường)
Trang 6Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên, trong 5 năm tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt trung bình 99,85%; tốt nghiệp THPT đạt trung bình 99,7%
Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - GDTX hoạt động có hiệu quả, hàng năm
tổ chức liên kết đào tạo, hợp đồng đào tạo với nhiều đơn vị của tỉnh nhằm nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn cho nhiều đối tượng, thường xuyên mở các lớp dạy nghề cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện
Không chỉ ở trong nhà trường mà công tác xã hội hóa giáo dục và khuyến học, khuyến tài phát triển mạnh mẽ, rộng khắp; phong trào “Gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học” được nhân rộng
- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Y
tế, Trung tâm Y tế, Bệnh viện Đa khoa, UBND các xã, thị trấn và các cơ quan, đơn
vị liên quan thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về y tế và khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn huyện, đảm bảo nhu cầu khám, điều trị bệnh của nhân dân Tăng cường công tác tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh như: Bệnh sởi, bệnh dại, dịch cúm A, dịch bệnh xảy ra vào thời điểm giao mùa Năm 2017, 100% các xã đạt chuẩn y tế quốc gia giai đoạn II Công tác kiểm tra, quản lý nhà nước về y tế được tăng cường, các chế độ chính sách về y tế cho các đối tượng vùng đồng bào dân tộc miền núi được thực hiện đầy đủ và kịp thời
Các đơn vị y tế từ Bệnh viện Đa khoa huyện đến các Trạm Y tế xã, thị trấn
đã làm tốt công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tổng số lượt bệnh nhân đến khám, chữa bệnh từ năm 2014-2018 là 803.621 lượt người,
tăng qua các năm (Trong đó: Bệnh viện Đa khoa 339.733 lượt; tại Trạm y tế các
xã, thị trấn 464.158 lượt)
Đồng thời chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm Tích cực chỉ đạo UBND các xã, thị trấn, các đơn vị liên quan chủ động tuyên truyền người dân không sử dụng thực phẩm không an toàn, không hợp vệ sinh các đơn vị y tế chủ động, sẵn sàng cấp cứu khi có ngộ độc xảy ra
- Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình: Thường xuyên được lãnh đạo, chỉ
đạo; Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông Dân số ở 20/20 xã, thị trấn trong toàn huyện, đồng thời đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các đề án như: Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; Sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh; Can thiệp mất cân bằng giới tính khi sinh… Kết quả: Tổng số trẻ sinh ước thực hiện giai đoạn 2014-2019 là 12.617 trẻ; Chương trình phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ
em đạt kết quả cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm 2015 là 15% ước tính đến năm 2019 còn 12% Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng là 99%
- Công tác Văn hóa - Thông tin: Trong nhiệm kỳ qua, thực hiện chính sách
của Đảng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số huyện nhà được nâng lên rõ rệt Nhiều chủ trương của cấp uỷ các cấp để phát triển kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai
và thực hiện có hiệu quả Các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao được diễn ra sôi nổi trong cộng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn Nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số được phục hồi, bảo tồn,
Trang 7trao truyền, duy trì và phát triển như: Phục hồi và lưu truyền hát Soọng cô của người Sán Dìu (Bàn Đạt), đã thành lập 01 CLB Soọng cô với hạt nhân ở 4 xóm: Bờ Tấc, Cầu Mành, Đồng Quan, Đá Bạc Các chương trình mục tiêu quốc gia giành cho đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm như: Chương trình biểu diễn nghệ thuật, chương trình chiếu phim giành cho đồng bào dân tộc thiểu số và khu ATK
II Chương trình lắp đặt các hệ thống truyền thông miễn phí giành cho đồng bào dân tộc thiểu số…
Hàng năm, trên địa bàn huyện tổ chức 64 lễ hội truyền thống cho nhân dân nói chung trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Thông qua các lễ hội đã giáo dục truyền thống tốt đẹp cho thế hệ trẻ của huyện nhà, nhờ làm tốt công tác giáo dục truyền thống, đồng bào dân tộc thiểu số luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp
3 Về công tác đảm bảo quốc phòng - an ninh và tôn giáo
- Công tác quốc phòng, quân sự địa phương: Thường xuyên duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bám nắm địa bàn, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tổ chức luyện tập tốt các phương án sẵn sàng chiến đấu theo kế hoạch Những năm qua luôn hoàn thành công tác huấn luyện dân quân tự vệ, đảm bảo an toàn về người, vũ khí; Công tác tuyển quân luôn đạt 100% chỉ tiêu giao; xây dựng Ban Chỉ huy quân sự huyện đạt đơn vị vững mạnh toàn diện
- An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Tình hình an ninh, chính trị trên
địa bàn huyện nói chung và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng luôn ổn định, đời sống vật chất của đồng bào được đảm bảo, không có di cư tự do Đồng bào luôn yên tâm, tin tưởng và chấp hành tốt mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Tích cực phòng chống, đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; bảo vệ an toàn tuyệt đối các ngày lễ lớn; xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” Công an huyện chủ động tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết về chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người có uy tín tại các xóm; định hướng, nâng cao chất lượng thông tin, tuyên tuyền đến địa bàn đặc biệt khó khăn; bám sát địa bàn để phối hợp vận động đồng bào dân tộc thiểu số chấp hành chính sách, pháp luật, nâng cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và phòng chống các tệ nạn xã hội, truyền đạo trái phép, bài trừ mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu khác
- Về công tác tôn giáo: Hiện nay trên địa bàn huyện có 02 tổ chức tôn giáo được phép hoạt động là Công giáo và Phật giáo với trên 23.000 người chiếm 17% dân số của huyện (trong đó 17.000 Phật tử theo đạo phật và trên 6.000 tín đồ theo đạo công giáo), tập trung chủ yếu ở các xã: Nhã Lộng, Tân Khánh, Tân kim, Tân Hòa, Điềm Thụy Các tổ chức tôn giáo trên địa bàn luôn hoạt động tuân thủ theo quy định của pháp luật, các tín đồ tôn giáo tham gia tích cực vào các phong trào thi
Trang 8đua yêu nước ở địa phương, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từ thiện nhân đạo
4 Công tác củng cố hệ thống chính trị cơ sở
Công tác xây dựng Đảng: Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được xây dựng, củng cố, hoạt động đồng bộ và có hiệu quả Hiện nay, Đảng bộ huyện có 53
tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Huyện ủy; 465 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, với tổng số đảng viên là 7.043 đồng chí, trong đó có 412 đồng chí đảng viên là người dân tộc thiểu số, chiếm 5.85%, hoàn thành xóa xóm “trắng” đảng viên và chi bộ lãnh đạo nhiều xóm
Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số từ huyện đến cơ sở luôn được quan tâm đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ theo hướng chuẩn hóa Hiện nay, số cán bộ, công chức, viên chức (cấp huyện và xã) là 2.471 người, Trong đó: cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số là
372 người, chiếm 15,05%; cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số đều có trình độ văn hóa từ trung học phổ thông trở lên; Trình độ chuyên môn: Sau đại học 6 người; Đại học 180 người, Cao đẳng 68 người, trung học chuyên nghiệp118 người; Trình độ lý luận chính trị: Sơ cấp 41 người, Trung cấp 39 người,
Cử nhân, cao cấp 3 người Tổng số cán bộ, lãnh đạo quản lý là người dân tộc thiểu
số từ huyện đến cơ sở là 25 người, trong đó có nhiều đồng chí được cấp ủy và nhân dân tín nhiệm, tin tưởng giao đảm nhiệm những vị trí lãnh đạo quan trọng trong các cơ quan Đảng và chính quyền như: Đ/c Hoàng Thanh Giao, Phó Bí thư Huyện
ủy, Chủ tịch UBND huyện; đ/c Nguyễn Văn Hòa, Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT; đ/c Trịnh Trọng Hiếu, Phó trưởng phòng Văn hóa – TT, đ/c Hoàng Văn Hòa, Phó Bí thư TT Đảng ủy xã Tân Hòa, đ/c Hoàng Thị Tình, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã Tân Thành và nhiều đồng chí đã và đang đảm nhiệm các chức vụ khác trong các cơ quan, đơn vị…
Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền: Hoạt động của Hội đồng nhân dân huyện nói chung và Hội đồng nhân dân xã miền núi nói riêng tiếp tục được đổi mới trong việc nâng cao chất lượng các kỳ họp, các cuộc tiếp xúc cử tri, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp giám sát và ban hành các nghị quyết
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã tích cực thực hiện vận động đồng bào dân tộc thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Vai trò người uy tín, bí thư chi bộ, trưởng xóm được phát huy có hiệu quả trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, phát triển kinh
tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, là chỗ dựa tin cậy trong cộng đồng các dân tộc thiểu số
II Kết quả thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới trong 5 năm (2014-2019)
1 Kết quả thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc, dự án đối với vùng đồng bào dân tộc và miền núi
Công tác dân tộc được cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo chỉ đạo và làm tốt công tác quản lý Nhà nước về công tác dân tộc Bên cạnh đó có sự tham gia tích cực của các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức quốc tế đối với công tác dân tộc đã đạt được nhiều kết quả
Trang 9tiến bộ trên các lĩnh vực phát triển khinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
- Huyện Phú Bình có 06 xã được hưởng Chương trình 135 Với tổng nguồn vốn đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2014-2019 đã cấp là 44.540,3 triệu đồng, trong đó: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là: 33.605 triệu đồng; Hỗ trợ phát
triển sản xuất là 8.788,5 triệu đồng; Duy tu bảo dưỡng là 1.637,8 triệu đồng; Nhân rộng mô hình giảm nghèo 379,0 triệu đồng; Mở 02 lớp tập huấn nâng cao năng lực
cho cộng đồng cho 365 người với tổng số tiền 130 triệu đồng
- Chính sách đối với người có uy tín theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg, Quyết định số 56/2013/QĐ-TTg, Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Toàn huyện đã bình chọn, xét công nhận người có uy tín trong đồng bào DTTS trên địa bàn huyện giai đoạn 2014-2019 là 139 lượt người, với tổng kinh phí hỗ trợ là 145,6 triệu đồng, trong đó: Tặng quà nhân dịp Tết Nguyên Đán là: 55,6 triệu; tổ chức thăm hỏi ốm đau, gia đình người uy tín gặp khó khăn hoạn nạn là 2,3 triệu đồng; tổ chức đón tiếp và gặp mặt người uy tín nhân dịp tết Nguyên Đán là 34 triệu đồng; tổ chức các buổi tập huấn thông tin tuyên truyền cho người uy tín là 53,7 triệu
- Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ: Trong 05 năm từ năm 2014-2019 tổng số hộ được hỗ trợ là 7.060 hộ với tổng số khẩu là 26.012 khẩu với tổng số tiền là 2.351.540.000 đồng
- Thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở xã, thôn bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định 755/ QĐ-TTg ngày 20/05/2013 của Thủ tướng Chính phủ Trong giai đoạn 2014-2019 tổng kinh phí thực hiện là 5.614,2 triệu đồng/5852 triệu đồng đạt 95,94% so với kế hoạch (mua sắm nông cụ máy móc 502 hộ = 2510 triệu đồng, nước sinh hoạt phân tán 439 hộ = 570,7 triệu đồng)
- Chính sách theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020, tính đến ngày 31/12/2018 đã hộ trợ cho 19 hộ ở 03 xã (Bàn Đạt, Tân Thành, Tân Hòa) với tổng số vốn vay: 950 triệu đồng
- Chính sách vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt
khó khăn giai đoạn 2012-2015 theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn huyện Căn cứ chỉ tiêu kế hoạch tín dụng hàng năm của Ban đại diện - Hội đồng quản trị Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Thái Nguyên, tổ chức triển khai đến 05 xã (Bàn Đạt, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Tân Hòa), kiểm tra, rà soát tổng hợp các hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn có nhu cầu vay vốn sản xuất theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg với tổng số hộ vay vốn là 302 hộ; tổng số tiền cho vay là 2.236 triệu đồng Bên cạnh đó, Chính sách vay vốn theo Quyết định 755/ QĐ- TTg ngày 20/05/2013 của
Thủ tướng Chính phủ với tổng số hộ được vay vốn là 185 hộ ứng tổng số tiền là
2.770 triệu đồng
Trang 10Các chính sách như hỗ trợ muối Iốt phòng, chống bướu cổ, đần độn cho người dân vùng dân tộc và miền núi Quyết định số 2528/QĐ-UBND ngày 4/10/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt Phương án “Hỗ trợ muối i ốt phòng, chống bướu cổ, đần độn cho người dân vùng dân tộc và miền núi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2015, Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 20/02/2017, Quyết định số 690/QĐ-UBND ngày 16/3/2018 và Quyết định số 201/QĐ-UBND ngày 23/01/2019 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc Phê duyệt kế hoạch, giá bán, mức hỗ trợ sản xuất, cung ứng muối Iốt phòng chống bướu cổ, thiểu năng trí tuệ cho người dân vùng dân tộc
và miền núi tỉnh Thái Nguyên với tổng số muối được cung ứng từ năm 2014-2019 là: 1.469 tấn; Chính sách cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số theo Quyết định 633/QĐ-TTg ngày 19/4/2016, Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 16/01/2017 và Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 09/01/2019 của thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn đã được triển khai đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng
Bên cạnh các chính sách trên, huyện Phú Bình còn được phê duyệt Quyết định số 500/QĐ-UBDT ngày 16/8/2018 của Ủy ban Dân tộc về việc phê duyệt dự án
“Xây dựng mô hình chăn nuôi bò nái sinh sản tại xóm Việt Long, xã Bàn Đạt, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên năm 2018-2019” với tổng kinh phí thực hiện dự án là 561.674.000 đồng và tổng số hộ được nhận hỗ trợ bò cái sinh sản, nông cụ máy móc là
14 hộ
2 Chương trình xây dựng nông thôn mới
Xác định xây dựng Nông thôn mới là Chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa quan trọng và lâu dài Trong những năm qua, UBND huyện đã chỉ đạo, hướng dẫn các ban ngành, đoàn thể và cơ sở làm tốt các tiêu chí theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Đến nay có 14/19 xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 02 xã miền núi về đích NTM (xã Tân Đưc,
xã Tân Khánh); Phấn đấu đến năm 2020 huyện Phú Bình trở thành ‘‘huyện nông thôn mới”
Tổng số nguồn vốn huy động trong giai đoạn từ năm 2016-2018 là: 3.127.307,4 triệu đồng, trong đó: Ngân sách Trung ương: 48.269,5 triệu đồng; Ngân sách địa phương: 258.032,6 triệu đồng; Vốn lồng ghép: 18.991,2 triệu đồng; Vốn tín dụng (vốn vay của các ngân hàng): 2.234.562 triệu đồng; Vốn Doanh nghiệp: 302.920 triệu đồng; Vốn từ cộng đồng dân cư: 264.532,1 triệu đồng
Tổng số công trình đường giao thông nông thôn được làm mới, nâng cấp là
407 công trình với tổng chiều dài 275,48 km đường giao thông; Sửa chữa 2 công trình hồ đập, kiên cố hóa 25,045 km kênh mương; Xây dựng, lắp đặt 29 trạm biến áp; sửa chữa, nâng cấp 500,68 km đường dây hạ thế; Xây dựng mới 98 phòng học tại các trường; sửa chữa 6 trường học; Sửa chữa, cải tạo 2 Trạm Y tế; Xây dựng mới 2 trụ sở UBND xã và sửa chữa, cải tạo 6 trụ sở làm việc của UBND xã; Nhà văn hóa và khu thể thao xã, xóm: Xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp 90 công trình nhà văn hóa và khu thể thao; sửa chữa, cải tạo 5 chợ; duy tu, sửa chữa 14 nghĩa trang của 14 xã trên địa bàn; xây dựng 4 công trình cấp thoát nước tại các khu dân
cư tập chung và 11 điểm tập kết thu gom rác thải