1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Hiệu quả giảm chấn khi áp dụng gối con lắc một mặt trượt ma sát SFP cho nhà nhiều tầng chống động đất

5 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 617,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết giới thiệu một giải pháp cấu tạo những gối cách chấn đặt tại chân của các cột công trình nhà cao tầng với mục đích cách ly công trình với tải trọng do động đất gây ra. Gối con lắc một mặt trượt ma sát (SFP) được sử dụng trong nghiên cứu này.

Trang 1

18 Hoàng Phương Hoa, Hồ Quang Nam

HIỆU QUẢ GIẢM CHẤN KHI ÁP DỤNG GỐI CON LẮC MỘT MẶT TRƯỢT

MA SÁT SFP CHO NHÀ NHIỀU TẦNG CHỐNG ĐỘNG ĐẤT

THE DAMPING EFFECT OF APPLYING SINGLE FRICTION PENDULUM SFP BEARING

AGAINST EARTHQUAKE FOR HIGH-RISE BUILDINGS

Hoàng Phương Hoa 1 , Hồ Quang Nam 2

1 Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng; hphoa@dut.udn.vn

2 Trung tâm Tư vấn kỹ thuật xây dựng Đà Nẵng; quangnam86@gmail.com

Tóm tắt - Đối với các công trình xây dựng cao tầng, việc thiết kế

công trình chống chịu động đất đã được quy định trong Tiêu chuẩn

thiết kế Tuy nhiên, đã có nhiều giải pháp được áp dụng nhằm làm

giảm ảnh hưởng gia tốc nền của các trận động đất đối với công trình,

đặc biệt là các công trình xây dựng cao tầng và có khối lượng lớn

Bài báo giới thiệu một giải pháp cấu tạo những gối cách chấn đặt tại

chân của các cột công trình nhà cao tầng với mục đích cách ly công

trình với tải trọng do động đất gây ra Gối con lắc một mặt trượt ma

sát (SFP) được sử dụng trong nghiên cứu này Kết quả nghiên cứu

sẽ khảo sát về: cấu tạo kích thước của gối sao cho đảm bảo yếu tố

kiến trúc và hiệu quả giảm chấn đối với lực cắt, gia tốc và chuyển vị

của các tầng trong trường hợp có và không sử dụng gối SFP Ngôn

ngữ lập trình Matlab và phương pháp Runge-Kutta được áp dụng để

giải hệ phương trình vi phân chuyển động của hệ cho hiệu quả giảm

chấn của từng trường hợp nghiên cứu đối với mô hình nhà cao tầng

Abstract - For high-rise buildings, the design of earthquake

resistance works is specified in the Design Standard However, many solutions have been applied to reduce the earthquake background effects on buildings, especially high-rise buildings and large volumes The article will introduce a measure to construct isolation bearings placed at the foot of columns of buildings for the purpose of isolating works with the load caused by earthquakes Single Friction Pendulum (SFP) bearing is used in this study The study will investigate the size of the bearing to ensure the structural factor and the damping effect and the shear force, the acceleration and displacement of the floors with and without SFP bearings The Matlab programming language and the Runge-Kutta method are applied to solve the system's differential equation for the effective damping of each case of the high rise building model

Từ khóa - điều khiển bị động; gối con lắc ma sát một mặt trượt; gối

cao su lõi chì; cách chấn đáy; kết cấu chống động đất; nhà cao tầng

Key words - passitive control; SFP bearings; LRB bearings; base

isolation; earthquake resistant structure; high-rise building

1 Đặt vấn đề

Động đất là một hiện tượng thiên nhiên gây ra những

thảm họa kinh khủng nhất cho con người và các công trình

xây dựng Chỉ trong tháng 9 năm 2017, tại Mexico đã xảy

ra 3 trận động đất mạnh: trận động đất ngày 7/9 mạnh 8,2

độ Richter, trận ngày 19/9 mạnh 7,1 độ Richter và trận ngày

23/9 mạnh 6,4 độ Richter, đã làm thiệt mạng hàng trăm

người và rất nhiều công trình xây dựng bị sụp đổ:

http://www.baomoi.com/mexico-chao-dao-vi-tran-dong-dat-cuc-manh-lan-thu-3-trong-thang-9/c/23360085.epi

Hình 1 giới thiệu một trong những ngôi nhà tại thành phố

Mexico bị sập sau trận động đất ngày 19/9

Hình 1 Tòa nhà tại Mexico bị sập sau trận động đất

Việc thiết kế công trình chịu động đất là một nhiệm vụ,

một thử thách lớn cho các nhà thiết kế kết cấu xây dựng

Theo quan điểm thiết kế kháng chấn hiện đại [1, 2, 3, 4, 5 và

16], để thiết kế kháng chấn cho một công trình xây dựng cần

đảm bảo hai tiêu chí, đó là: bảo đảm kết cấu có khả năng

chịu lực lớn trong miền đàn hồi và bảo đảm cho kết cấu có

khả năng phân tán năng lượng do động đất truyền vào, thông

qua sự biến dạng dẻo trong giới hạn cho phép hoặc các thiết

bị hấp thu năng lượng Ngày nay, quan điểm thiết kế kháng

chấn hiện đại thường gắn với kỹ thuật điều khiển kết cấu Mục đích của kỹ thuật điều khiển kết cấu là để đáp ứng tiêu chí thứ 2 của thiết kế kháng chấn cho công trình Nói chung, kỹ thuật điều khiển kết cấu có 3 dạng chính, đó là: điều khiển kết cấu dạng chủ động (Active control), điều khiển kết cấu dạng bị động (Passive control) và kỹ thuật điều khiển kết cấu dạng bán chủ động (Semiactive control) Trong bài báo này, nhóm tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ thuật điều khiển kết cấu dạng bị động Kỹ thuật điều khiển kết cấu dạng này rất đơn giản, chi phí thấp và vẫn đạt được hiệu quả giảm chấn cao

Việc áp dụng gối con lắc một mặt trượt ma sát là kỹ thuật điều khiển kết cấu dạng bị động Ý tưởng chính của

kỹ thuật này là cách ly kết cấu bên trên với nền bằng cách

sử dụng các gối mềm, gọi là gối cách chấn Gối cách chấn

có độ cứng chuyển vị ngang nhỏ, thông thường sẽ được lắp vào giữa phần móng và kết cấu bên trên để cách ly kết cấu với chuyển động nền đất, ngắt bớt nguồn năng lượng động đất truyền vào kết cấu Kết cấu được gắn thiết bị này sẽ có chu kỳ cơ bản tăng lên, kết cấu được làm “mềm” đi Với chu kỳ dao động của kết cấu được cô lập tăng lên sẽ giúp cho kết cấu tránh xa các vùng chu kỳ trội của các trận động đất, làm lệch vùng có thể cộng hưởng dao động của kết cấu,

từ đó giảm tác động của tải trọng động đất vào kết cấu Gối con lắc ma sát một mặt trượt (Single Friction Pendulum- SFP) đã được Zayas, V A và cs đưa ra ý tưởng thiết

kế vào năm 1987 [2, 3, 4] Cho đến những năm 1990, Mokha,

A và cs đã thực hiện một loạt các nghiên cứu thực nghiệm cho loại gối này [5, 6, 7, 8, 9] Và Mosqueda, G., và cs [10] đã hoàn thiện thêm và đưa ra được phương trình chuyển động của loại gối ma sát một mặt trượt Ngày nay, gối con lắc một mặt trượt

Trang 2

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 5(126).2018, Quyển 2 19

max

k ef

F

f

P

RD S

ma sát đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước, đặc biệt là

những nước có phân vùng ảnh hưởng của gia tốc nền như nước

ta, một nước có phân vùng động đất mạnh không cao

2 Giới thiệu về gối cách chấn dạng trượt đơn - SFP

2.1 Đặc điểm cấu tạo

Thiết bị gồm có khớp trượt (1) với bề mặt được phủ một

lớp i-nox bóng (stainless-steel surfaces), có độ cong bám

theo bề mặt của một phần bán cầu lõm thuộc bản thép trên

khớp trượt (2) làm bằng thép không gỉ và được đặt trên một

bán cầu lõm (3), cũng được phủ bằng một loại vật liệu

composite có hệ số ma sát thấp

2.2 Nguyên lý làm việc của gối SFP

Khi khớp trượt (1) chuyển động trên mặt của bán cầu

lõm (3), nó đẩy khối lượng đỡ bên trên chuyển động đi lên

và do đó tạo ra được lực phục hồi (Hình 2) Ma sát giữa

khớp trượt và bề mặt bán cầu tạo ra độ giảm chấn của thiết

bị cách chấn này Độ cứng hiệu quả của thiết bị cách chấn,

chu kỳ dao động của kết cấu được khống chế và điều chỉnh

bằng bán kính cong bề mặt của bán cầu lõm

Hình 2 Cấu tạo và nguyên lý làm việc của gối SFP

a) Cấu tạo gối SFP; b) Sơ đồ cân bằng lực

2.3 Mô hình tính toán của gối SFP

2.3.1 Quan hệ giữa lực và chuyển vị ngang trong gối

Hình 3 Chuyển động ngang trong gối SFP

Phương trình cân bằng lực theo phương ngang và

phương đứng tại vị trí con lắc có chuyển vị ngang là u được

viết như sau:

F F n F f

W F n F f





(1)

Trong đó, F n là phản lực mặt cong lên con lắc Thành phần lực

ma sát F f và góc  là góc xoay của con lắc, được xác định:

R

Với chuyển vị u << R, gần đúng các giá trị:

sin =  và cos = Phương trình (1) viết lại như sau:

W

R

Độ cứng chuyển vị ngang k b của gối SFP được xác định như sau (theo lực phục hồi, thành phần thứ nhất của phương trình (4):

W

k b R

Chu kỳ chuyển động của gối SFP được xác định theo công thức:

T b

Khi gối có chuyển vị lớn nhất D, lực truyền vào gối F,

hệ số ma sát của gối µ, độ cứng hữu hiệu của gối được tính

như sau:

(7)

Trường hợp chuyển vị ngang u lớn hơn d, con lắc va

chạm vào vành, ứng xử của gối phải xét thêm thành phần

lực va chạm F r, được xác định như sau:

F r =k r ud sign u H ud (8)

Trong đó, H là giá trị hàm Heaviside, k r là độ cứng lúc va chạm có giá trị lớn

Phương trình tổng quát chuyển động của gối SFP thể hiện quan hệ giữa lực và chuyển vị ngang trong gối

W

F u WZ Fr R

Đường ứng xử trễ được thể hiện trên Hình 4

Hình 4 Đường ứng xử trễ trong gối SFP

2.3.2 Mô hình tính toán kết cấu cách chấn bằng gối SFP

Hình 5 Mô hình tính toán kết cấu gối SFP

Ý tưởng xem gối SFP là một phần tử ma sát có một bậc

tự do với các đặc trưng vật lý của gối là: khối lượng m, độ

F W

u

W R

Vành Con lắc

b)

Gioăng cao su

4

Khớp trượt 2

Khớp trượt 1

a)

Bán cầu lõm 3

Trang 3

20 Hoàng Phương Hoa, Hồ Quang Nam

cứng k b , hệ số ma sát , khả năng trượt d và các đặc trưng

chuyển động: chuyển vị ui , vận tốc u i , và gia tốc ui

hình tính toán sẽ có nhiều bậc tự do và được trình bày như

Hình 5

Phương trình chuyển động của toàn hệ kết cấu khi chịu

động đất (a ) được viết như sau: g

1 1 1 1 1 1 2 1 2 2 1 2

2 2 2 2 1 2 2 1 3 2 3 3 2 3

g

g

3 Phương pháp tính toán

Phương pháp số Runge - Kutta được áp dụng để giải

phương trình chuyển động Với phương trình vi phân

chuyển động cấp 2, ta có thể hạ bậc xuống phương trình vi

phân cấp 1 hoặc giải trực tiếp cấp 2 Sử dụng hàm ode15s

trong Matlab để giải một cách nhanh chóng hệ phương

trình vi phân chuyển động của gối SFP

4 Kết quả giải số khi áp dụng gối SPF cho nhà nhiều tầng

Để xem xét hiệu quả của việc áp dụng gối con lắc một

mặt trượt ma sát, trong phần này tiến hành khảo sát hai nội

dung, đó là: hiệu quả giảm chấn khi sử dụng gối con lắc

một mặt trượt ma sát SFP và thiết kế tối ưu cấu tạo gối để

đảm bảo yếu tố mỹ quan công trình

4.1 Hiệu quả giảm chấn khi sử dụng gối SFP

Tính toán hiệu quả giảm chấn cho nhà 1 tầng Thông số

kết cấu được giới thiệu trong Bảng 1

Bảng 1 Thông số kết cấu công trình

Khối lượng

m (kN.s2/m)

Độ cứng

k s (kN/mm)

Tỉ số cản

ξ(%) Chu kỳ T (s)

Thông số hiệu chỉnh biến trễ Z: A = 1; uy = 0,25; g = 0,9;

b = 0,1; h = 2

Thông số hiệu chỉnh hệ số ma sát phụ thuộc vận tốc

trượt: a = 0,02 s/mm

Thông số kỹ thuật gối: Bán kính mặt lõm thớt dưới

R = 1.000 mm, µ1 = 0,02 - 0,06, d = 250 mm Hình 6 giới

thiệu kích thước gối dùng trong tính toán

Hình 6. Cấu tạo gối SFP

Dữ liệu tính toán của trận động đất Northridge-01 xảy

ra ngày 17/1/1994, vị trí đo tại Sepulveda, Mỹ [15] Hình

7 giới thiệu đường ứng xử trễ của gối Ta thấy tổng chuyển

vị của gối vào khoảng 330 mm Đối với loại gối có kích

thước d = 250 mm hiện tượng va chạm của con lắc vào

vành gối không xảy ra

Hình 7. Ứng xử trễ gối

Lực cắt tầng 1 (lực cắt đáy) và hiệu quả giảm chấn ở trường hợp kết cấu ngàm cứng và sử dụng gối được giới thiệu trong Hình 8 Giá trị lực cắt lớn nhất của kết cấu khi ngàm cứng vào khoảng 1100 kN là tại giây thứ 6 của trận động đất Trong khi đó, giá trị lực cắt lớn nhất của kết cấu khi sử dụng gối chỉ ở vào khoảng 480 kN và tại giây thứ 9 của trận động đất Điều đó cho thấy hiệu quả của việc sử dụng gối SFP trong công trình, ngoài việc làm giảm độ lớn của nội lực kết cấu khi chịu tải trọng động đất, nó còn có nhiệm vụ tránh dao động kết cấu trùng với chu kỳ trội do động đất gây ra đối với công trình

Hình 8 Lực cắt tầng 1 kết cấu

Tương tự đối với gia tốc trên đỉnh công trình (gia tốc đỉnh) giới thiệu trong Hình 9 Thông thường gia tốc trên đỉnh công trình sẽ đạt giá trị lớn nhất và tại vị trí này bắt buộc chúng ta phải khảo sát để tìm ra giá trị gây bất lợi cho công trình Kết quả tính toán hiệu quả giảm chấn đối với gia tốc vào khoảng 30% trong trường hợp có sử dụng gối SFP cho kết cấu Hình 10 giới thiệu chuyển vị gối của kết cấu Chúng ta thấy chuyển vị của gối lớn hơn so với trường hợp kết cấu ngàm cứng Tuy nhiên, chính vì có chuyển vị của gối sẽ làm kết cấu cách ly với gia tốc đất nền của trận động đất gây ra,

do đó kết quả là chuyển vị tương đối giữa các tầng sẽ giảm

Hình 9. Gia tốc đỉnh tầng kết cấu

Hình 10. Chuyển vị của gối SFP

Vành Bán kính R

Dịch chuyển d

Con lắc

Trang 4

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 5(126).2018, Quyển 2 21

4.2 Thiết kế tối ưu cấu tạo gối

Mục 4.1 đã phân tích hiệu quả giảm chấn, hay nói cách

khác là hiệu quả cách ly dao động cho kết cấu nhà (trường

hợp với nhà một tầng) Tuy nhiên, trong thực tế xây dựng

công trình, khi thiết kế công trình chống động đất áp dụng

biện pháp sử dụng gối con lắc một mặt trượt ma sát đặt

tại chân cột công trình, vấn đề đảm bảo mỹ quan cho công

trình trong khi vẫn cách ly được với dao động do động đất

gây ra cần được đặt ra Ở đây chúng ta quan tâm đến 2

tham số cấu tạo gối SFP đó là: bán kính mặt lõm thớt trượt

dưới R và khoảng cách dịch chuyển d của con lắc (Hình

5) Đây là những tham số chính và quan trọng của cấu tạo

gối, bởi vì nếu chọn bán kính R lớn, gối sẽ dịch chuyển

dễ dàng, nhưng khả năng phục hồi về vị trí ban đầu lại

kém Đối với dịch chuyển d, để con lắc không va chạm

với vành gối, yêu cầu d phải lớn và nếu d lớn nghĩa là kích

thước gối sẽ lớn, kích thước gối lớn sẽ ảnh hưởng đến cấu

tạo kiến trúc công trình

Bằng chương trình đã xây dựng được, nhóm tác giả tiến

hành khảo sát kích thước của gối thông qua tham số cấu tạo

d Việc thay đổi d trong tính toán sẽ nhận được kết quả thể

hiện trong đường ứng xử trễ của kết cấu gối Trường hợp

chuyển vị u của gối lớn hơn d, hiện tượng va chạm sẽ xảy

ra, khi đó phương trình (8) sẽ hiện diện trong hệ phương

trình (1) Ngược lại, nếu chuyển vị u của gối nhỏ hơn d,

phương trình (8) sẽ không có trong hệ phương trình (1) Va

chạm xảy ra ở một bên hay hai bên vành gối phụ thuộc vào

thời gian kéo dài dao động mạnh của trận động đất và độ

lớn của d Bằng cách thử dần như vậy cho đến khi hiện

tượng va chạm không xảy ra sẽ thu được cấu tạo dịch

chuyển d của gối phù hợp (nhỏ nhất) với gia tốc nền trận

động đất giả định xảy ra tại công trình

Khảo sát số đối với công trình nhà 5 tầng (hệ gồm 6 bậc

tự do) chịu tác động của trận động đất Northridge-01 xảy ra

vào ngày 17/1/1994 sẽ cho diễn biến việc chọn khoảng cách

dịch chuyển d của gối con lắc một mặt trượt ma sát này:

+ Trường hợp tính toán gối SFP với R = 1.000 mm và

d = 90 mm Kết quả tính toán được giới thiệu trong các

Hình từ 11 đến 13

Hình 11. Đường ứng xử trễ của gối khi d = 90 mm

Hình 12 Lực cắt tầng 1 kết cấu, d = 90 mm

Hình 13 Đáp ứng gia tốc kết cấu tầng 5, d = 90 mm

Trong Hình 11, đường ứng xử trễ của kết cấu, nhận thấy hiện tượng va chạm đã xảy ra ở cả hai phía vành của gối

khi chọn d = 90 mm, nghĩa là dịch chuyển tổng cộng lớn

nhất của gối là 180 mm, trong khi đó, dịch chuyển cần thiết

u của gối đáp ứng cho trận động đất lớn hơn 180 mm Đối

với trận động đất Northridge-01, khi con lắc dịch chuyển

về một phía của mặt lõm và tiến đến vành gối, thời gian dao động mạnh vẫn duy trì và con lắc sẽ va vào vành gối, sau đó con lắc có xu hướng di chuyển ngược lại qua vị trí cân bằng ban đầu tiến đến phần vành gối đối diện, dao động mạnh của trận động đất vẫn duy trì và con lắc lại va chạm với vành gối Khi dao động mạnh của trận động đất giảm xuống, con lắc sẽ dịch chuyển quanh vị trí cân bằng (phần

trũng nhất của mặt lõm bán kính R) Khi con lắc va chạm

với vành gối, lực va chạm sẽ làm biểu đồ nội lực và biểu

đồ gia tốc kết cấu thay đổi đột ngột, được thể hiện trên các Hình 12 và 13 (phần khoanh tròn)

+ Trường hợp tính toán gối SFP với R = 1.000 mm và

d = 95 mm: Để hiện tượng va chạm của con lắc với vành gối không xảy ra, chúng ta tăng kích thước của gối d lên

đến 95 mm và tiến hành tính toán lại Kết quả tính toán được thể hiện trong các Hình từ 14 đến 16

Hình 14 Đường ứng xử trễ của gối khi d = 95 mm

Hình 15 Lực cắt tầng 1 kết cấu, d = 95 mm

Hình 16 Đáp ứng gia tốc kết cấu tầng 5, d = 95 mm

Trang 5

22 Hoàng Phương Hoa, Hồ Quang Nam

Khi d = 95 mm, dịch chuyển cho phép lớn nhất của gối

là 190 mm Tuy nhiên, trên Hình 14, đường ứng xử trễ kết

cấu cho thấy hiện tượng va chạm vẫn xảy ra, nhưng chỉ va

chạm ở một phía của vành gối (vùng khoanh tròn) Trong

các Hình 15 và 16 nhận thấy độ lớn của biểu đồ lực cắt tầng

1 và gia tốc tầng đỉnh trong trường hợp có sử dụng gối giảm

đáng kể so với tuần tự theo các Hình 12 và 13 Như vậy, độ

lớn của d vẫn chưa đủ để hiện tượng va chạm không xảy ra

+ Trường hợp tính toán gối SFP với R = 1.000 mm và

d = 102 mm, tiếp tục tăng kích thước d lên đến 102 mm Kết

quả tính toán lại được giới thiệu trong các Hình từ 17 đến 19

Khi kích thước d = 102 mm, Hình 17 cho thấy, đối với

kích thước d này, hiện tượng va chạm không xảy ra Đường

ứng xử trễ gối trong mô hình tính toán xây dựng được có

hình dạng giống đường ứng xử trễ lý thuyết của gối đã được

giới thiệu trong Hình 4 Với hình dạng đường ứng xử trễ

như trên Hình 17, coi như đã thiết kế xong gối có kích

thước d = 102 mm, đảm bảo cả yếu tố kỹ thuật và kiến trúc

công trình khi sử dụng gối chống động đất SFP

Hình 17 Đường ứng xử trễ của gối khi d = 102 mm

Hình 18 Lực cắt tầng 1 kết cấu, d = 102 mm

Hình 19 Đáp ứng gia tốc kết cấu tầng 5, d = 102 mm

Các Hình 18 và 19 cho thấy hiệu quả giảm chấn khi sử

dụng gối SFP cho kết cấu nhà 5 tầng chịu động đất Lực cắt

lớn nhất tại chân cột tầng 1 kết cấu giảm nhiều lần so với

trường hợp kết cấu ngàm cứng (khi không thiết kế giải pháp

giảm chấn) Tương tự như vậy, đối với đáp ứng gia tốc lớn

nhất nằm tại đỉnh công trình khi sử dụng gối (gia tốc đỉnh)

giảm đáng kểso với trường hợp không sử dụng gối cách

chấn Khi đó giá trị nội lực như mô-men, lực cắt và chuyển

vị tương đối giữa các tầng sẽ giảm, công trình sẽ an toàn

hơn khi không dùng đến biện pháp giảm chấn nào

5 Kết luận

Ứng xử của gối con lắc một mặt trượt ma sát và kết cấu nhà một và nhiều tầng đã được phân tích một cách chi tiết

về chuyển vị, nội lực theo thời gian để khảo sát sự làm việc thích hợp của loại gối này

Kết quả tính toán cho thấy, kết cấu có hệ cách chấn gối con lắc một mặt trượt ma sát sẽ “mềm” hơn, có nghĩa là kết cấu khung nhà sẽ phản ứng với nội lực phát sinh nhỏ hơn, chuyển vị tương đối giữa các tiết diện của từng tầng nhỏ,

số chu kỳ dao động ít hơn, tránh được hiện tượng cộng hưởng dao động Đây là ý nghĩa lớn của việc bố trí hệ cách chấn con lắc ma sát

Với việc bố trí hệ cách chấn con lắc ma sát và tính toán chọn thông số cấu tạo gối thì việc thiết kế kết cấu ở trạng thái giới hạn đặc biệt với các tổ hợp có sự tham gia của tải trọng động đất đem lại lợi ích kinh tế, kỹ thuật và mỹ thuật cho công trình, đây chính là hiệu quả của hệ cách chấn con lắc trượt ma sát mang lại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hoàng Phương Hoa, Nguyễn Văn Nam, Đặng Công Thuật, Động đất

và kỹ thuật điều khiển kết cấu chống động đất, NXB Xây dựng, 2017 [2] Zayas, V A., Low, S S., Bozzo, L., & Mahin, S., Feasibility and Performance Studies on Improving The Earthquake Resistance of New and Existing Buildings Using The Friction Pendulum System,

Rep No UCB/EERC-89/09, Earthquake Engineering Research Center, Berkeley, CA, US, 1989

[3] Zayas, V A., Low, S S., & Mahin, S A., The FPS Earthquake Resisting System, Rep No UCB/EERC-87/01, Earthquake Eng Res Center,

Univ of California at Berkeley, Berkeley, California, US, 1987 [4] Zayas, V A., Low, S S., & Mahin, S A., “A Simple Pendulum

Technique for Achieving Seismic Isolation”, Earthquake Spectra,

6(2), 1990, pp 317-333

[5] Mokha, A., Constantinou, M., & Reinhorn, A., “Teflon Bearings in

Base Isolation I: Testing”, ASCE Journal of Structural Engineering,

116(2), 1990, pp 438-454

[6] Mokha, A., Constantinou, M C., Reinhorn, A M., & Zayas, V A.,

“Experimental Study of Friction-Pendulum Isolation System”,

Journal of Structural Engineering, 117(4), 1991, pp 1201-1217

[7] Mokha, A S., Reinhorn, A M., & Constantinou, M C.,

Experimental Study and Analytical Prediction of Earthquake Response of A Sliding Isolation System with A Spherical Surface,

Technical Report NCEER-90-0020; State University of New York

at Buffalo: Buffalo, NY, USA, 1990

[8] Mokha, A S., Constantinou, M C., & Reinhorn, A M., “Verification

of Friction Model of Teflon Bearings Under Triaxial Load”, Journal

of Structural Engineering, 119(1), 1993, pp 240-261

[9] Mosqueda, G., Whittaker, A S., & Fenves, G L., “Characterization and Modeling of Friction Pendulum Bearings Subjected to Multiple

Components of Excitation”, ASCE Journal of Structural Engineering, 130(3), 2004, pp 433-442

[10] Hoàng Phương Hoa, Nguyễn Văn Nam, Phạm Duy Hòa, “Thiết kế tối ưu kích thước gối ma sát một mặt trượt cho nhà nhiều tầng chịu

động đất”, Tạp chí Xây dưng (Bộ Xây dựng), ISSN 0866-0762, Số

3, 2016, trang 106-109

[11] Nguyễn Văn Phúc, Ứng dụng gối cô lập trượt ma sát cho kết cấu chịu tải trọng động đất, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật, Đại học Đà Nẵng, 2015 [12] Lê Xuân Tùng, Thiết kế một số dạng gối cách chấn trong công trình chịu động đất, Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, 2012 [13] Nguyễn Văn Nam, Mô hình kết cấu gối cô lập trượt ma sát cho công trình chịu tải trọng động đất, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Đại học Đà

Nẵng, 2016

[14] http://peer.berkeley.edu/smcat/search.html

[15] Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9386:2012, Thiết kế công trình chống động đất, NXB Xây dựng, Hà Nội, 2013

(BBT nhận bài: 14/12/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 24/4/2018)

Ngày đăng: 10/02/2020, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w