1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu cải tạo đất than bùn hóa tại Kiên Giang và Hậu Giang bằng xi măng kết hợp với phụ gia trong phòng thí nghiệm

6 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 799,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất than bùn hóa (TBH) phân bố tại khu vực Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Kiên Giang, Hậu Giang, rừng U Minh… được hình thành từ trầm tích Holocen thượng có nguồn gốc sông - đầm lầy (abQ2 3 2) [1]. Đây là loại đất yếu có hàm lượng hữu cơ cao vì vậy việc cải tạo đất bằng xi măng nhằm xử lý nền đất yếu phục vụ xây dựng các công trình là không hiệu quả.

Trang 1

NGHIÊN CỨU CẢI TẠO ĐẤT THAN BÙN HÓA TẠI

KIÊN GIANG VÀ HẬU GIANG BẰNG XI MĂNG KẾT HỢP

VỚI PHỤ GIA TRONG PHÕNG THÍ NGHIỆM

VŨ NGỌC BÌNH * , NGUYỄN THÀNH CÔNG **

Reseach improve peat soil at Kien Giang and Hau Giang by cement with additives in laboratory

Abstracts: Peat soil is formed by chemical sediments lake – bog or aluvial

- bog, we distributed quite widely in areas Mekong Delta provinces such

as Dong Thap Muoi region, Kien Giang, Hau Giang, U Minh forest Experimental results improve soil distribution in the region Go Quao district Kien Giang province and Vi Thanh district Hau Giang province

by cement showed soil samples reinforced with increased compressive strength then reduced along time curing The addition of small amounts of additives have overcome this problem The optimum concentration of additive was defined as 4 % of Lime , Gypsum is 2% and 1% is ROVO compared weight of cement

Keyword: Peat, Additives, curing time, unconfined (q u ), Tensile strength (R k )

Đất than bùn hóa (TBH) phân bố tại khu

vực Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên,

Kiên Giang, Hậu Giang, rừng U Minh… được

hình thành từ trầm tích Holocen thượng có

loại đất yếu có hàm lượng hữu cơ cao vì vậy

việc cải tạo đất bằng xi măng nhằm xử lý nền

đất yếu phục vụ xây dựng các công trình là

không hiệu quả Kết quả nghiên cứu đất TBH

ở khu vực huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang và

một phần huyện Vị Thanh tỉnh Hậu Giang cho

thấy đây là loại đất yếu, có tính phèn mạnh

(pH<4.5), nhiễm muối dạng sunfat [3], [4]

Quá trình thí nghiệm và bảo dưỡng mẫu theo

thời gian cho thấy ban đầu cường độ kháng

nén của mẫu tăng tuy nhiên sau thời gian bảo

Viện Thủy Công - Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

* DĐ: 0973349666

Email: binhdkt@gmail.com,

** DĐ: 0914161775

Email: thanhcongvtc@gmail.com

dưỡng cho thấy cường độ mẫu bị suy giảm [2], [3] Chính vì vậy, việc nghiên cứu cải tạo loại đất than bùn hóa này nhằm tăng cường độ

và ổn định theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả trình bày giải pháp cải tạo đất TBH bằng xi măng kết hợp với phụ gia

2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NGHIÊN CỨU CẢI TẠO ĐẤT BẰNG XI MĂNG

2.1 Kết quả thí nghiệm thành phần hóa học của xi măng

Để đánh giá ảnh hưởng của xi măng đến chất lượng đất gia cố, chúng tôi đã tiến thí nghiệm mẫu đất TBH với các loại xi măng thông dụng tại khu vực ĐBSCL Tây Đô PCB30 (TĐ30); Tây Đô PCB40 (TĐ40) và Kiên Lương PCB40 (KL40), Nghi Sơn PCB40 (NS40) và Hà Tiên PCB 40 (HT40) Trước khi tiến hành thí nghiệm, mẫu xi măng được phân tích thành phần hóa học, kết quả thí nghiệm trình bày trong bảng 1

Trang 2

Bảng 1: Thành phần hóa học của xi măng nghiên cứu

Xi măng

TP

hóa học (%)

Tây đô PCB30

Tây đô PCB40

Kiên Lương PCB40

Hà Tiên PCB40

Nghi Sơn PCB40

Từ kết quả nghiên cứu hàm lượng các ô xít có

trong 3 loại xi măng nghiên cứu cho thấy: Các

và xi măng Hà Tiên (HT40) và TĐ40 đều cao hơn

xi măng KL40 và NS40 Lượng ôxit CaO trong xi

măng KL40 là lớn nhất (60,42%) trong khi đó xi

măng TĐ30 là nhỏ nhất (49,42) và xi măng

TĐ40, HT40, KL40 và Nghi Sơn PCP40 (NS40)

2.2 Kết quả thí nghiệm đất với xi măng

Mẫu đất trộn xi măng được bảo dưỡng và thí nghiệm tại các ngày tuổi là 7, 14, 28, 56, 91 và

180 ngày tuổi Công tác thí nghiệm nén một trục không hạn chế nở hông được tiến hành theo tiêu chuẩn (ASTM D2166) [7], công tác chế bị mẫu theo TCVN 9403: 2012 [5], ngoài ra có tham khảo các tiêu chuẩn JGS 0821-2000 [8] của Nhật Bản và DBJ08-40-94 [6] của Trung Quốc Kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 2

Bảng 2: Kết quả thí nghiệm cường độ kháng nén mẫu đất TBH với xi măng, hàm lượng và các ngày tuổi khác nhau

Trang 3

STT Hàm lượng

Biểu đồ quna hệ giữua cường độ kháng nén

theo thời gian bảo dưỡng của đất TBH với các

hàm lượng và xi măng khác nhau được trình bày trong hình 1

Hình 1 Quan hệ giữa cường độ kháng nén theo thời gian của đất TBH với xi măng

Từ kết quả thí nghiệm đất TBH với xi măng

cho thấy:

- Cường độ kháng nén của mẫu tăng theo

hàm lượng xi măng tuy nhiên cường độ này là

không lớn

- Mẫu thí nghiệm với xi măng Kiên Lương PCB40

- Quá trình bảo dưỡng theo thời gian ban đầu

cường độ mẫu tăng sau đó cường độ mẫu suy

giảm theo thời gian Nguyên nhân là do trong

đất có hàm lượng hữu cơ cao, pH nhỏ, đất có tính phèn, môi trường phèn mạnh, đất có chứa hàm lượng Pyrit, Pyrophyllit và Thạch Cao

hữu cơ thì không có các thành phần trên [2]

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CẢI TẠO ĐẤT TBH BẰNG XI MĂNG VỚI PHỤ GIA 3.1 Thí nghiệm cường độ kháng nén

Để nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia đến cường độ của đất gia cố, chúng tôi đã nghiên cứu

Trang 4

chế bị mẫu đất than bùn hóa được ký hiệu là (HC)

và so sánh với mẫu đất trộn cũng với HLXM trên và các phụ gia theo các

tỷ lệ khác nhau Các phụ gia lựa chọn là: Tinh thể

hiệu là Ca1, Ca2 và Ca3 [6]; Roadcem 1%, 1.5%

và 2%, ký hiệu là R1, R1.5 và R2 [9]; Vôi 1%; 2%;

3%; 4% và 6%, ký hiệu là V1, V2, V3, V4 và V6

[10], [11] Xi măng được lựa chọn là xi măng Hà Tiên PCB40 là loại xi măng khá phổ biến trên thị trường các tỉnh ĐBSCL, kết quả thí nghiệm thành phần hóa học của xi măng trình bày trong bảng 1 Kết quả thí nghiệm xác định cường độ kháng

các mẫu đất gia cố ở các ngày tuổi khác nhau được trình bày tại bảng 3

Bảng 3 Kết quả thí nghiệm cường độ kháng nén một trục của đất gia cố với hàm lượng 350 kg/m 3 và các phụ gia khác nhau:

Quan hệ giữa cường độ kháng nén một trục

lệ khác nhau (hình 2)

Hình 2: Quan hệ giữa CĐKN của đất TBH với HLXM 350kg/m 3 và phụ gia theo thời gian

Trang 5

3.1 Thí nghiệm cường độ kháng kéo

Mẫu thí nghiệm xác định cường độ kháng

kéo của xi măng kết hợp với phụ gia được tiến

hành chế bị và bảo dưỡng đồng thời với mẫu thí

cường độ kháng nén, tiêu chuẩn thí nghiệm áp dụng là TCVN 8862: 2011 Kết quả thí nghiệm xác định cường độ kháng kéo được trình bày trong bảng 4

Bảng 4: Kết quả thí nghiệm cường độ kháng kéo của đất TBH

gia cố với hàm lượng 350 kg/m 3 với các phụ gia

tỷ lệ khác nhau (hình 3)

Hình 3 Quan hệ giữa cường độ kháng kéo của đất TBH với HLXM 350 kg/m 3 và phụ gia theo thời gian

Nhận xét: Từ kết quả thí nghiệm cường độ

kháng nén và cường độ kháng kéo của các mẫu

đất gia cố cho thấy:

- Cường độ kháng nén và cường độ kháng kéo của mẫu có phụ gia tăng theo thời gian điều này có thể phụ gia đã làm thay đổi môi trường

Trang 6

hóa lý của đất gia cố dẫn đến phản ứng của xi

măng có tính tích cực hơn

- Cường độ kháng nén và kháng kéo với

lượng phụ gia tối ưu là: Vôi 4%, Thạch cao

đó với 1% Rovo cho giá trị lớn nhất

- Các mẫu đất thí nghiệm với phụ gia, sau

thời gian bảo dưỡng là 28 ngày đều có cường độ

kháng nén lớn hơn so với mẫu đất không có phụ

gia Tuy cường độ kháng nén của mẫu là không

cao (chỉ đạt khoảng 300 kPa) nhưng hiệu quả so

với đất không có phụ gia là khá lớn gấp 4,5 đến

6,5 lần

- Cường độ kháng kéo thì Ca 2% là cao nhất

tiếp đến là Rovo 1% và vôi 4%

4 KẾT LUẬN

1 Cường độ của đất TBH gia cố bằng xi

măng bị suy giảm theo thời gian bảo dưỡng

2 Phụ gia có vai trò quan trọng trong việc cải

tạo môi trường hóa lý giúp đất xi măng ổn định

theo thời gian bảo dưỡng

3 Nghiên cứu cải tạo đất TBH với xi măng

và phụ gia cho thấy lượng phụ gia tối ưu để đạt

cường độ kháng nén lớn nhất với các phụ gia

Vôi 4%, Thạch cao 2%; Rovo là 1,5% Với các

phụ gia này, cường độ mẫu tăng đáng kể so với

mẫu dất xi măng không có phụ gia

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam

tỷ lệ 1/200.000 tờ An Biên – Sóc Trăng, Cà

Mau – Bạc Liêu, Long Xuyên

[2] Vũ Ngọc Bình, Nguyễn Quốc Dũng, Vũ

Ngọc Hải, Đỗ Minh Toàn, Nghiên cứu trong

phòng cải tạo đất loại sét yếu tại đồng bằng

sông Cửu Long bằng xi măng địa phương, Tạp

chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi (ISSN

1859-4255) số 25 (2-2015), Tr 26-35

[3] Vũ Ngọc Bình, Đỗ Minh Toàn, Nghiên

cứu cường độ kháng nén một trục không hạn

chế nở hông của đất yếu gia cố bằng xi măng với mẫu chế bị và mẫu khoan lõi cọc tại Kiên Giang và Hậu Giang, Tuyển tập các báo cáo

khoa Địa chất tại Hội nghị khoa học lần thứ 21 trường Đại học Mỏ địa chất, tháng 11 năm

2014, Tr 262-269

[4] Nguyễn Quốc Dũng, Vũ Ngọc Bình, Nguyễn Văn Hòa, Đỗ Minh Toàn, Đỗ Minh

Toàn, Kết quả nghiên cứu đặc tính ĐCCT của

đất bùn sét pha phân bố ở Kiên Giang thuộc dự

án Ô Môn – Xà No, đánh giá khả năng cải tạo chúng bằng xi măng kết hợp với vôi nhằm tăng cường độ đất gia cố Tạp chí KH&CN Thủy lợi

(ISSN 1859-4255) số 18 (10-2013), Tr54-60 [5] TCVN 9403-2012 Gia cố nền đất yếu bằng trụ đất xi măng Hà Nội, 2012

[6] DBJ08-40-94 - Quy phạm kỹ thuật xử lý nền móng (bản dịch) Tiêu chuẩn TP Thượng Hải, năm 1994

[7] ASTM D2166: Standard Test Method

for Unconfined Compressive Strength of Cohesive Soil

[8] JGS 0821-2000 - Japanese Geotechnical

Society Standard “Practice for Making and

Curing Stabilized Soil Specimens Without Compaction”

[9] Roadcem Laboratory Guide, Power Cem

Determine the Fatigue Characteristics of Asphalt Concrete' W-DWW-94530

[10] N Z Mohd Yunus, D Wanatowski, and L R Stace Effect of Humic Acid on Physical and Engineering Properties of

Lime-Treated Organic Clay World Academy of

Science, Engineering and Technology 59 2011

[11] Rajani S.Chandran, Padmakumar G P College of Engineering Thiruvananthapuram, Kerala Stabilization of Clayey Soil Using Lime

Technological Trends (NCTT09) 6-7 Nov 2009 Người phản biện: PGS.TS ĐẶNG HỮU DIỆP

Ngày đăng: 10/02/2020, 07:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w