1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thử tìm kiếm một thuật toán thiết kế các mặt cong

6 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 317,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết đặt vấn đề tìm kiếm một thuật toán dùng vào mục đích thiết kế các mặt cong có thể cần thiết trong ứng dụng công nghệ cao CNC. Các kết quả bước đầu nhận được trên cơ sở phát triển nghiên cứu ứng dụng về hàm hoá bề mặt lý thuyết vỏ tàu thuỷ của chính Tác giả. Các ý kiến thảo luận làm rõ triển vọng áp dụng của ý tưởng đặt ra.

Trang 1

VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI

THỬ TÌM KIẾM MỘT THUẬT TOÁN THIẾT KẾ CÁC MẶT CONG

PGS.TS Nguyễn Quang Minh

Khoa Cơ khí - Trường ĐH Nha Trang

Trong bài báo đặt vấn đề tìm kiếm một thuật toán dùng vào mục đích thiết kế các mặt cong có thể cần thiết trong ứng dụng công nghệ cao CNC Các kết quả bước đầu nhận được trên cơ sở phát triển nghiên cứu ứng dụng về hàm hoá bề mặt lý thuyết vỏ tàu thuỷ của chính Tác giả Các ý kiến thảo luận làm rõ triển vọng áp dụng của ý tưởng đặt ra

1 TỔNG QUAN

Bài toán thiết kế, thay vì xấp xỉ trong nghĩa

trực tiếp một mặt cong đặt ra ở đây có ý nghĩa

thực tế và cần thiết, thậm chí trong nhiều

trường hợp cần đến như phương tiện quan

trọng, chẳng hạn trong các lĩnh vực công nghệ

cao CNC

Một mặt cong, một cách chung nhất, có thể

xem như tập hợp các đường cong phẳng - tiết

diện của chính mặt cong đó với các mặt phẳng

(P) được lựa chọn phù hợp Nếu vậy, một cách

tự nhiên có thể nghĩ rằng thuật toán thiết kế

mặt cong tốt nhất nên đưa từ mô hình toán

không gian về mô hình biểu diễn toán học

chính xác các đường cong phẳng Đơn giản là

vì một khi bài toán thiết kế một đường cong cho

trên mặt phẳng (P) bất kỳ đã được giải quyết,

toàn bộ mặt cong cho trước đương nhiên có

thể nhận được bằng cách tịnh tiến hoặc quay

hợp lý các mặt phẳng (P) đó

Theo cách tiếp cận trực tiếp như vậy, bài

toán đặt ra về thuật toán thiết kế một mặt cong

có thể giải quyết không mấy khó khăn, ứng

dụng mô hình toán xấp xỉ quen thuộc, đó là mô

hình bài toán điều kiện biên, cách giải quyết

được thể hiện qua các bước gồm:

- Chọn dạng hàm cơ sở

- Áp dụng mọi điều kiện biên và xác lập số lượng thích hợp các phương trình căn cứ theo các điều kiện đó

- Giải hệ phương trình điều kiện biên và biện luận các kết quả

Để có thể đạt các kết quả xấp xỉ mong muốn cần có số các điểm thuộc đường cong giữ vai trò các điều kiện biên đủ lớn

Hàm cơ sở thông thường được chọn dưới dạng đa thức luỹ thừa bậc n viết tổng quát như dưới đây:

∑=

=

=k n

k

k

ky a x

0 (1)

và dạng chi tiết hoá:

n n

n

n Y a Y a

Y a Y a Y a Y a a

− 1 1 4

4 3 3 2 2 1

Với X,Y- là các toạ độ của các điểm cho trong hệ toạ độ lựa chọn XOY, k = 0, 1, 2, 3…, n-1, n

Dễ nhận xét rằng biểu thức (2) cùng lắm chỉ có thể dùng để tính toán gần đúng một hình cong mà ít hiệu quả trong các mục đích thiết kế đường cong đó

Phương pháp spline do Alberg J đề nghị nửa thế kỷ trước đây, được nghiên cứu áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới nhằm khắc phục một phần nhược điểm của đa thức luỹ thừa (2) Tuân theo nguyên tắc cơ bản đó là

Trang 2

đường cong hàm hoá được chia làm nhiều

đoạn ngắn, mỗi đoạn có thể xấp xỉ theo các

hàm đơn giản, phổ biến nhất thường chọn

parabol bậc 3 viết tổng quát như dưới đây:

= ' 3

0

'

' 1 ' '

,' ( )

k

k

k j j k

j

x

với j = (j'-1), j', (j'+1)

J' = 1, 2, 3,…, k-1

Nhờ những lợi thế cơ bản của nó trong lập

trình, phương pháp spline đang được ứng dụng

trong nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ và

đem lại những thành tựu quan trọng Mặc dù

vậy, phương pháp spline xấp xỉ toán học các

đường cong phẳng cũng không thể được đánh

giá như một công cụ hiệu quả nhất trong các

mục đích thiết kế nghiêm túc

Trong bài báo này chúng tôi giới thiệu một

số kết quả phát triển từ nghiên cứu biểu diễn toán học bề mặt tàu thuỷ, vốn cũng là một vật thể có những đặc điểm riêng, hy vọng có thể

áp dụng như giải thuật lập trình thiết kế và chế tạo chính xác một mặt cong theo từng mục đích cụ thể

2 MỘT SỐ KẾT QUẢ MỚI NGHIÊN CỨU XẤP

XỈ CÁC ĐƯỜNG CONG PHẲNG

Trên hình 1 minh hoạ mô hình toán lớp các đường cong phẳng 1a, 1b, 1c nằm trên mặt phẳng P trong quan hệ khác nhau đối với hệ toạ độ lựa chọn XOY Tất cả các đường cong như vậy được cho bằng tập hợp các điểm rời rạc (Xi , Yi), i = 0, 1, 2, 3, 4, 5, …, n-1, n

O

Hình 1 Sơ đồ các đường cong phẳng - đối tượng xấp xỉ toán học

Về phương pháp, yêu cầu thiết kế các

đường cong khác với chỉ đơn giản vẽ lại một

đường cong cho trước là ở chỗ đòi hỏi, không

chỉ áp dụng các điều kiện biên trong nghĩa

thông thường, mà quan trọng hơn phải khai

thác và áp dụng các điều kiện biên một cách

hợp lý nhất, đảm bảo không chỉ tính phù hợp

đối với từng trường hợp cụ thể, mà phải tiện lợi

áp dụng đối với mọi đường cong thuộc lớp đang xét - đối tượng của bài toán xấp xỉ Yêu cầu nói trên chỉ có thể là hiện thực nhờ việc sử dụng được các đặc điểm hình học quan trọng nhất được gọi là các yếu tố điều khiển

Trang 3

Có thể chứng tỏ rằng tồn tại 4 yếu tố có

chức năng điều khiển như vậy, được xem như

tập hợp các điều kiện cần để thông qua đó thiết

kế chính xác các đường cong, căn cứ vào các

yêu cầu thiết kế khác nhau Các yếu tố như vậy

gồm có:

• Toạ độ điểm đầu (X0, Y0)

• Toạ độ điểm cuối (Xt, Yt)

• Diện tích hình cong Dt được tạo bởi

đường cong cho trước với trục

Toạ độ X = 0, X = 0, và các đường thẳng

Y = Yt, và X = Xt

• Momen tĩnh Mox của diện tích nói trên ứng

với trục hoành

Thật vậy, giả sử kết quả xấp xỉ toán học

chính xác một đường cong cho tương ứng

như trên hình 1 tìm được dưới dạng một hàm

liên tục:

)

(Y

f

X =

Khi đó các biểu thức viết theo các điều kiện

biên như mô tả ở trên có thể viết dễ dàng như

dưới đây:

f ( Y0) = X0 (5.1)

f ( Xt) = Yt (5.2)

Xdy f Y dy Dt (5.3)

yt

y

yt

y

=

0 0

) (

yt

y

yt

y

M Ydy Y f

0 0

) (

Hiển nhiên các điều kiện (5.1) và (5.2) phải

được đảm bảo đầu tiên

Điều kiện (5.3) đảm bảo để các đường

cong hàm hoá được, tương ứng với các điểm

đầu và cuối đã cho, tạo thành với trục tọa độ

các hình cong có cùng một diện tích Dt

Điều kiện cuối cùng (5.4) chứa một ưu thế

thiết kế đặc biệt rất cần được khai thác đó là

cho phép chọn ra từ tập hợp các đường cong, nhận được trên cơ sở 3 điều kiện biên đầu tiên, chính xác đường cong phải tìm như một nghiệm duy nhất của bài toán thiết kế

Trên cơ sở các biểu thức (3), (5.1) ÷ (5.4)

có thể dễ dàng thiết lập hệ 4 phương trình mô

tả 4 điều kiện biên giữ vai trò như các yếu tố điều khiển, nghiệm của hệ các phương trình đó cho các hệ số ai thuộc biểu thức luỹ thừa bậc 3:

3 2 2 1

0 a Y a Y a Y X

được xác định theo các biểu thức sau đây:

( 32 )

7

1

h

a = t + (7)

) 15

8 ( 7

4

2

h

7

20

3

h

trong đó :

0 2

2 0 0

; 2 /

h

h y Mx Mx h

h y D

Biểu thức (6) cùng với các biểu thức (7) ÷ (10) tỏ ra rất đơn giản, có thể áp dụng để thiết

kế các đường cong với các điều kiện được cho theo (4) Tuy nhiên những gì nói ở trên mới chỉ bao gồm các điều kiện cần tối thiểu Để cho bổ sung các điều kiện “đủ”, đòi hỏi phải xác định các đặc điểm của hình cong giới hạn bởi đường cong - đối tượng hàm hoá, cho phép phân biệt nó với mọi đương cong cùng lớp còn lại, chẳng hạn đó là tính liên tục, tính biến thiên, góc tạo bởi các tiếp tuyến với đường cong vẽ tại nhiều điểm khác nhau, đặc biệt tại hai điểm đầu và cuối Sau cùng và có lẽ cũng

là quan trọng nhất đó là đường cong có bao nhiêu điểm uốn trong miền xác định [y0,yt]

Chẳng hạn có thể nhận xét ngay rằng biểu thức (6) chỉ làm việc khi đường cong đối tượng hàm hoá cho trước chỉ có 1 điểm uốn, vì đạo

Trang 4

hàm bậc 2 chỉ nhận giá trị bằng 0 tại một điểm

duy nhất tại y∗ = − a2/ a 3 3

Trong một số nghiên cứu ứng dụng có thể

rất có lợi chọn hàm cơ sở dưới dạng hàm (1)

mở rộng, trong đó thay vì các giá trị nguyên các luỹ thừa có thể nhận các số thực dương bất kỳ, viết dưới dạng tổng quát:

n k

m y a

x k n

k

mk

k ; 0 ; 1 , 2 , 3 , 4 , ,

0

=

>

= ∑=

=

(11)

hoặc chi tiết:

X = X + a Ym + a Y m+ a Y m + a Y m + + ak Yk− + akYk (12)

− 1 1 4

4 3 3 2 2 1

Áp dụng chính các điều kiện biên đã xét ở

trên theo (4), sau đó tiếp tục thực hiện các

bước tính toán như đã trình bày, có thể dẫn

đến đa thức luỹ thừa bậc 2m với m thực dương

như dưới đây:

m

m a Y Y

a X

2 1

0 + +

Thừa số luỹ thừa m và các hệ số có mặt trong biểu thức được ai cóthể xác định theo các biểu thức

) ( 2

) 4

)(

( 2 ) 2 ( 25 , 2 ) 2 ( 5 ,

B A

Xt B A B A B

A B

A m

+

±

m

t

mh

X X A m m

1

) 1 2 ( ) 1 (

m

m t

h

h a X X

2

trong đó, ngoài các ký hiệu đã được chú thích ở trên các ký hiệu mới được dùng gồm:

h

h X

(17)

2

2

0 / 2

h

h X m

(18)

Biểu thức (13) cùng với các biểu thức

(14)÷(18) có thể sử dụng tiện lợi và hiệu quả

hơn rất nhiều so với biểu thức (6), đặc biệt

khi cần thiết giải ngược phương trình, tính Y

theo X Trong các trường hợp như vậy chỉ

cần qua một vài phép biến đổi dẫn về dạng

phương trình bậc 2 sử dụng các nghiệm giải

sẵn quen thuộc

Vì cố gắng tìm kiếm lời giải trên cơ sở các nghiệm của phương trình bậc 2, hiển nhiên rằng biểu thức xấp xỉ (13) chỉ làm việc khi m có nghiệm thực, điều đó có nghĩa biểu thức dưới dấu căn, viết ở vế phải của biểu thức (14) không âm, thực chất được hiểu như bộ phận đặc biệt trong số những gì được gọi là điều kiện đủ để xấp xỉ toán học các đường cong thuộc lớp đang xét, được viết như sau:

Trang 5

2 , 25 ( A − 2 B )2 − 2 ( AB )( A − 4 B + X t) >= 0 (19)

Biểu thức (19) cho phép nhận đựơc các điều kiện đủ để xấp xỉ toán các đường cong như minh

hoạ trên hình 1 bằng biểu thức dưới dạng đa thức luỹ thừa bậc 2m bao gồm:

nếu: B > 2xt/ 3 (20)

hoặc nếu:

5 , 0

6 4 ) 2 (

; 3

A

X

<

< (20')

và:

5 , 0

6 4 ) 2 (

; 3

A

X

>

< (20'')

Giả sử bây giờ nâng bậc đa thức luỹ thừa (13) lên bậc 3m bằng cách áp dụng thêm một điều kiện

biên, chẳng hạn đó là hệ số góc tạo bởi tiếp tuyến với đường cong hàm hoá tại điểm cuối Y = Yt , Khi

đó biểu thức xấp xỉ đối tượng tìm kiếm sẽ viết được dưới dạng:

X X a ym a y m a y3m (21)

3 2 2 1

=

Trong đó thừa số luỹ thừa m có thể xác định như nghiệm của phương trình bậc 3 đủ:

0 )

(

) 3

3 8 ( 1667 , 0 )

(

) 4

( )

(

) 2 (

8333

,

− +

− +

+

− +

− +

B A

kh x X B A m

B A

X X B A m B A

B A

Các hệ số ai có mặt trong biểu thức (21) được xác định như sau:

m

t t

m

t t

h m

X X B m m

m X

X m

kh m

m

h m

X X A m m

m X

X m

kh m

m

a

3 2

0 0

3 2

0 0

3

2

) 2 ( ) 2 3 )(

2 2 ( ) )(

2 3

(

2

) 1 ( ) 1 3 )(

1 2 ( ) )(

1 3 (

− + + +

+ +

− + +

=

− + + +

+ +

− +

+

=

(23)

m

m t

m m

m

t m

m t

h m m

h a m m X

X A m m

m h

m

m

h a m

m

h m m

X X B m m

m h

h a X X m

kh

a

2

3 3 0

3

3 3

2

0 2

3 3 0

2

) 1 3 (

) 1 2 ( 2 )

1 ( ) 1 3 )(

1 2 ( )

2 3

(

) 2 2

(

2

) 2 3 (

) 2 ( ) 2 3 )(

2 2 ( 2

+

+ +

− + + +

+

= +

+

+ +

− + + +

+

=

+

=

(24)

m m

t

h

h a h a X X

a

3 3 2 2 0 1

Hệ số góc tạo bởi tiếp tuyến tại điểm cuối

(Xt,Yt) viết trong các biểu thức (22)÷(25) cũng

mang ý nghĩa của các điều kiện “đủ” viết trong

các biểu thức (20), (20') và (20'') áp dụng cho biểu thức (13)

Trang 6

3 THAY LỜI KẾT LUẬN

- Các kết quả đạt được qua phân tích lý

thuyết, đặc biệt qua chạy thử đoạn chương

trình viết trên ngôn ngữ V.B cho phép

khẳng định rằng khi các điều kiện biên

được đảm bảo chính xác, các biểu thức

xấp xỉ (13) và (21) cùng cho một kết quả

- Điều nhận xét trên đây khẳng định rằng

hàm cơ sở mở rộng viết dưới dạng đa

thức luỹ thừa bậc số thực bất kỳ (13) cùng

với ý tưởng khai thác hợp lý các điều kiện

biên, phân biệt gồm các điều kiện cần và

các điều kiện “đủ” là có cơ sở lý thuyết

đúng, có thể áp dụng rộng rãi và cho hiệu

quả cao

- Các điều kiện được gọi là đủ (20), (20') và

(20'') một mặt khẳng định tính không thể

xấp xỉ toán học theo biểu thức (13) nếu

đường cong được cho không thoả mãn

chúng, mặt khác chính các điều kiện như

vậy lại có thể đựơc lợi dụng, như cộng cụ

chính, để đưa đường cong từ chỗ không

đến có thể xấp xỉ được nhờ một vài phép

biến đổi cần thiết Chính vì vậy biểu thức

(13) cuối cùng tỏ ra tiện lợi, vạn năng, đồng

thời hiệu quả hơn trong xấp xỉ các đường

cong so với biểu thức (21) Các đường

cong cho trên hình 1 là sản phẩm trực tiếp của một đoạn chương trình máy tính viết trên cơ sở thuật toán đang trình bày có thể coi là một minh chứng sinh động

- Trong nhiều trường hợp các điều kiện (5)

có thể và nên được coi như chìa khóa thiết kế, hoặc gọi cách khác như các yếu tố điều khiển

đề cập ở trên, cho phép thiết kế trên cơ sở biểu thức (6) khi đường cong thiết kế có trong miền xác định một điểm uốn duy nhất, hoặc trên cơ

sở các biểu thức (13), (21)-khi đường cong thiết kế có từ hai điểm uốn trở lên

Rất đáng chú ý rằng những kết quả thông báo trên đây đều nhận được từ các phép biến đổi toán học chính xác và trong điều kiện ứng dụng tin học sâu rộng, hiệu quả như hiện nay đảm bảo chính xác các tham số điều khiển đối với đường cong cho trước là hiện thực Những nhận xét như vậy khiến ý nghĩa của phép xấp

xỉ các đường cong, trên thực tế, có thể được thay thế bằng ý nghĩa của phép hàm hoá - mô

tả toán học chính xác các đường cong đó Tất cả những gì đã trình bày có thể đánh giá như cơ sở lý thuyết và thực tiễn vững chắc khẳng định triển vọng cuả một thuật toán lập trình thiết kế chính xác lớp các mặt cong kỹ thuật được đề cập trong bài viết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phan Văn Hạp – Lê Đình Thịnh, Phương pháp tính và các thuật toán, Nhà xuất bản Giáo dục

2 Nguyễn Quang Minh, Kết quả nghiên cứu hàm hoá bề mặt lý thuyết vỏ tàu thuỷ, Tuyển tập các công trình khoa học công nghệ, Trường Đại học Nha Trang, 1999

3 E.W Cheney, Introduction to appoximation theory, University of Texas, 1966

4 Robert Sedgewick, Algorithms, Princeton University (USA), 2nd Edition Addison-Wesley Publishing

Co Người dịch: Trần Đan Thư, Vũ Mạnh Tưởng, Dương Vũ Diệu Trà, Nguyễn Tiến Huy, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 1994

5 Zeldôvich Ya B., Yaglom I.M., " Higher Math for beginner" Mir Publisher Moscow, 1987

ABSTRACT

In the paper will be introduced the problem of researching an algorythm for designing the curve surfaces, that may be needed somewhere in the field of CNC application The beginning results that will be represented are based on the reseaches of the ship theorical surfaces approximation, acheaved

by the Author The discussions clarify the aplyed abilities of the rised idea

Ngày đăng: 10/02/2020, 07:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w