1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Luận chứng hệ thống quan trắc phục vụ cảnh báo tai biến trượt đất cho khu vực Tây Nam tỉnh Hà Giang

12 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 569,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của các yếu tố phát sinh, phát triển tai biến trượt đất ở mỗi khu vực rất khác nhau, do vậy chỉ có quan trắc mới có thể đánh giá đúng tầm quan trọng của các yếu tố, phục vụ cho cảnh báo, dự báo nguy cơ tai biến trên diện rộng, cũng như đảm bảo các số liệu tính toán thiết kế phòng chống trượt đất tại các khu vực trọng điểm và các khối trượt cụ thể.

Trang 1

LUẬN CHỨNG HỆ THỐNG QUAN TRẮC PHỤC VỤ

CẢNH BÁO TAI BIẾN TRƯỢT ĐẤT CHO KHU VỰC TÂY NAM TỈNH HÀ GIANG

NGUYỄN QUANG HUY *

Discussion about geotechnical monitoring system for predicting landslide risk in the southern west of Ha Giang province

Abstract: Landslide is widespread in the southern west of Ha Giang

province For the purpose of predicting exactly landslide risk it is necessary to collect enter-data of natural condition in the region The paper presents the theoretical basis for developing the geotechnical monitoring system and technical requirements of the system for sustainable exploiting the studied region

Vai trò của các yếu tố phát sinh, phát triển tai

biến trượt đất ở mỗi khu vực rất khác nhau, do

vậy chỉ có quan trắc mới có thể đánh giá đúng

tầm quan trọng của các yếu tố, phục vụ cho

cảnh báo, dự báo nguy cơ tai biến trên diện

rộng, cũng như đảm bảo các số liệu tính toán

thiết kế phòng chống trượt đất tại các khu vực

trọng điểm và các khối trượt cụ thể

Ở các nước phát triển, quan trắc tai biến trượt

đất là một phần trong hệ thống Monitoring quốc

gia về các quá trình địa chất, là cấu thành của

Monitoring môi trường quốc gia Để xác định rõ

mục tiêu, nội dung của hệ thống quan trắc, cần

đưa ra khái niệm về đối tượng quan trắc Đối

tượng quan trắc là một phần của môi trường địa

chất hoặc vùng lãnh thổ với các chỉ tiêu đồng

nhất, đặc trưng cho sự phát triển của tai biến

trượt đất Ở Việt Nam, hệ thống quan trắc tai

biến (trong đó có trượt đất) có thể xây dựng ở

các cấp sau đây:

- Cấp quốc gia: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

- Cấp vùng lãnh thổ: Đông Bắc, Tây Bắc,

Tây Nguyên, Trung Bộ

- Cấp khu vực: giới hạn bởi những khu vực

*

Viện Khoa học và Công nghệ Xây dựng

đặc thù có cùng một số đặc điểm về địa hình, cấu trúc địa chất, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội; đồng nhất về yếu tố phát sinh phát triển tai biến và cơ chế biến đổi

- Cấp cục bộ: Các đô thị, khu kinh tế, khu vực đông dân cư

- Cấp chi tiết: Cho từng khối trượt cụ thể Khu vực miền núi tỉnh Hà Giang, đặc biệt là khu vực Tây Nam, trượt đất xảy ra trên diện rộng với nhiều khối trượt có quy mô lớn và rất lớn Tai biến trượt đất thường xuyên xảy ra gây thiệt hại không nhỏ về người và tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, xã hội của người dân trong khu vực Luận chứng hệ thống quan trắc phục vụ cảnh báo tai biến trượt đất khu vực Tây Nam tỉnh Hà Giang (cấp khu vực) làm cơ sở để chính quyền tỉnh Hà Giang triển khai thực tiễn, phục vụ quy hoạch và khai thác hợp lý lãnh thổ theo hướng bền vững, giảm thiệu thiệt hại do trượt đất gây ra

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁC

HỆ THỐNG QUAN TRẮC CẤP KHU VỰC

a Mục tiêu tổng quát:

Phục vụ chiến lược tổng thể phát triển kinh tế

xã hội và bảo vệ môi trường quốc gia và vùng lãnh thổ

b Mục tiêu cụ thể:

Trang 2

- Cung cấp thông tin cho chính quyền, cơ

quan chức năng về quy mô trượt đất trong

phạm vi địa giới hành chính của khu vực

nghiên cứu, từ đó đưa các giải pháp phòng

tránh và giảm nhẹ thiệt hại do trượt đất gây ra,

quy hoạch, phát triển, quản lý khai thác lãnh

thổ theo hướng bền vững

- Mặt khác, hệ thống quan trắc cũng kiểm

chứng lại kết quả đánh giá nguy cơ trượt đất, điều

chỉnh phương pháp tính toán, nhằm tăng tính

chính xác trong việc dự báo nguy cơ trượt đất

c Nhiệm vụ

- Triển khai quan trắc một cách hệ thống theo

các mạng lưới quan trắc để có được thông tin

đặc trưng cho các yếu tố có tỷ trọng cao tác

động đến quá trình tai biến trượt đất cũng như

cơ chế phát triển của quá trình trượt đất

- Phân tích cường độ và hoạt tính của trượt

đất trong khu vực nghiên cứu (quy mô, bao

nhiêu khối, thời điểm trượt,…)

- Xây dựng và kiểm tra các dự báo định kỳ

ngắn, dài hạn về hoạt tính của tai biến

- Thành lập sự biến động theo chuỗi thời gian

của các yếu tố biến động nhanh quyết định đến

hoạt tính của quá trình trượt đất(Lượng mưa, mực nước ngầm, độ ẩm,…)

- Xác định quy luật biến đổi không gian của tai biến và các yếu tố tác động

- Hoàn thiện và phát triển hệ thống quan trắc

d Thông số quan trắc

Đối với khu vực quan trắc, các thông số quan trắc là: hiện trạng phân bố khối trượt (số lượng các khối trượt xuất hiện mới, khối trượt hoạt hóa, khối trượt cũ trong giai đoạn quan trắc; đặc điểm khối trượt (diện tích, thể tích trượt) và các yếu tố điều kiện gây trượt chủ yếu (địa hình, địa mạo, cấu trúc địa chất, thành phần thạch học, chiều dày vỏ phong hóa, độ đốc, hướng dốc, phân cắt ngang, phân cắt sâu, đô cao, ); Các yếu tố tác động biến đổi nhanh: lượng mưa; biến động cơ cấu sử dụng đất; mực nước ngầm; mức

độ cắt xén taluy,

Phương pháp quan trắc thông qua giải đoán ảnh chụp bằng máy bay, vệ tinh kết hợp kiểm chứng thực địa trên mặt đất Bản đồ thể hiện với

tỉ lệ 1/50.000 hoặc 1/100.000

3 SƠ ĐỒ NGUYÊN TẮC VÀ TỔ CHỨC

HỆ THỐNG QUAN TRẮC TRƯỢT ĐẤT

Hình 1: Sơ đồ nguyên tắc và tổ chức hệ thống quan trắc trượt đất

Trang 3

Tính chính xác của dự báo nguy cơ trượt đất

theo phương pháp chỉ số thống kê tích hợp đa

biến phụ thuộc vào độ xác thực của bản đồ hiện

trạng trượt đất, tính hợp lý của sự phân chia các

lớp của từng yếu tố, hiện trạng dữ liệu đầu vào

của các yếu tố điều kiện và nguyên nhân gây

trượt vì vậy kết quả dự báo nguy cơ trượt đất

cho khu vực nghiên cứu càng rộng thì tính chính

xác của dự báo càng giảm Do việc đánh giá

nguy cơ trượt đất chỉ là cơ sở ban đầu để xây

dựng hệ thống quan trắc tai biến trượt đất nên

tính chính xác về thời gian, không gian không

phải là yếu tố quyết định Kết quả quan trắc sẽ

là dữ liệu thực tiễn, thuyết phục để chính xác

hóa lại kết quả đánh giá nguy cơ trượt đất

Toàn bộ các dữ liệu quan trắc được tổng hợp,

thống kê theo từng yếu tố, phân theo từng lớp

Căn cứ các dữ liệu thông số quan trắc được từ

hiện trường, bản đồ hiện trạng trượt đất được thiết

lập lại Chồng chập bản đồ hiện trạng trượt đất

mới quan trắc được vào bản đồ phân bố cường độ

của các yếu tố ta được trọng số của từng lớp của

mỗi yếu tố Tích hợp các bản đồ phân bố trọng số

theo lớp của từng yếu tố, trọng số của các yếu tố

để hiệu chỉnh bản đồ phân vùng nguy cơ trượt đất

Vị trí tuyến quan trắc, trạm quan trắc cũng được

điều chỉnh cho phù hợp với giá trị trọng số các

yếu tố và bản đồ phân vùng nguy cơ trượt đất

Như vậy, dữ liệu quan trắc của các thông số

đã được đưa vào tính toán nhằm hiệu chỉnh lại

trọng số của các yếu tố cho phù hợp với thực tế

Quá trình này liên tục được lặp lại sẽ cho kết

quả phân vùng nguy cơ trượt đất cũng như việc

xác định trọng số yếu tố một cách chính xác

Kết quả dữ liệu quan trắc cũng cho ta biết quan

hệ hàm số giữa cường độ của các yếu tố tác

động, đặc biệt là các yếu tố tác động biến đổi

nhanh với hệ số ổn định trượt, từ đó đưa ra cảnh

báo tai biến trượt đất, giúp chính quyền địa

phương có những biện pháp phòng tránh kịp

thời nhằm giảm thiểu nguy cơ thiệt hại Quy

trình tổ chức hệ thống quan trắc tổng thể được

thể hiện ở hình 5.2

4 NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC

4.1 Tuyến quan trắc

- Nguyên tắc định hướng tuyến quan trắc là các điểm quan trắc trên tuyến phải theo hướng biến đổi chính và mạnh nhất của các yếu tố đặc trưng, nằm trên khu vực có nguy cơ tai biến trượt đất cao

- Chiều dài tuyến, số điểm quan trắc trên tuyến, khối lượng quan trắc của bất cứ hệ thống quan trắc nào cũng cần được tính toán tối ưu tức

là cần thiết và vừa đủ để có thể nắm bắt được quy luật biến đổi chính của các thông số cần quan trắc

- Mạng lưới quan trắc gồm nhiều tuyến quan trắc, mỗi tuyến quan trắc sự biến đổi của một hoặc nhiều yếu tố có vai trò quyết định đến tai biến trượt đất hoặc thể hiện quy mô, quy luật diễn biến của trượt đất Mạng lưới quan trắc của

hệ thống quan trắc cấp 1 được tích hợp các lớp tuyến của hệ thống quan trắc cấp 2, 3, có quy

mô, đặc điểm khác nhau; đảm bảo tính đại diện,

sự phân bố tập trung tại các khu vực có nguy cơ trượt đất cao và quan trắc theo đúng trình tự quy định để tuyến này không ảnh hưởng hoặc trùng lắp với tuyến khác

- Tuyến khảo sát của hệ thống quan trắc cấp

2, 3 phải vuông góc với thế nằm của đất đá, vuông góc với trục ngắn của các thể địa chất, đới phá hủy kiến tạo, đới nứt nẻ, các hướng biến đổi chính của các yếu tố phát sinh, phát triển trượt đất

- Trong môi trường địa chất, thường có 3 hướng chính: một hướng theo chiều sâu, còn 2 hướng trên mặt phẳng, trong đó có hướng biến đổi mạnh nhất và hướng biến đổi ít nhất Các điểm quan trắc được thiết kế thành các tuyến theo hướng biến đổi mạnh nhất của trường các thông số đặc trưng Theo hướng biến động mạnh nhất, cho phép trong phạm vi tuyến ngắn

có thể quan trắc được toàn bộ phạm vi biến động của tham số, xây dựng đầy đủ các quan hệ liên quan

Trang 4

4.2 Các trạm quan trắc

Số lượng trạm quan trắc sẽ được thiết kế tập

trung nhiều ở các khu vực có nguy cơ tai biến

trượt đất cao và ít hơn ở các khu vực có nguy cơ

thấp hơn Tại các khu vực trượt đất phát triển

mạnh, các số liệu quan trắc, phản ánh hiện thực

nhất các mối quan hệ giữa các thông số gây

trượt với sự phát triển của tai biến trượt đất (số

lượng, quy mô, cường độ ) Trên cơ sở đó xác

định vai trò của từng yếu tố trong tổ hợp các yếu

tố phát sinh, phát triển tai biến phục vụ cho xây

dựng các mô hình dự báo, cảnh báo tai biến

trượt đất và điều chỉnh các mô hình dự báo đã

có cho phù hợp với thực tế

Số lượng trạm quan trắc đảm bảo phân bố trên

toàn bộ khu vực nghiên cứu; nằm trên các tuyến

quan trắc; mật độ phân bố phù hợp với mật độ điểm trượt; tất cả các phân lớp của các yếu tố điều kiện và nguyên nhân đều có trạm quan trắc

5 ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG QUAN TRẮC CHO KHU VỰC NGHIÊN CỨU

5.1 Mạng lưới tuyến, trạm quan trắc

Căn cứ nguyên tắc thiết kế mạng lưới quan trắc và bản đồ phân vùng nguy cơ trượt đất khu vực Tây Nam tỉnh Hà Giang, mạng lưới quan trắc được chia làm chia làm 12 tuyến, trong đó gồm 7 tuyến theo hướng Tây Nam - Đông Bắc

và 5 tuyến theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Số lượng trạm quan trắc là 86 trạm (bằng số phân lớp của 11 yếu tố được phân chia thep phương pháp Natural Break để đảm bảo mỗi phân lớp có

ít nhất 01 trạm quan trắc)

Hình 2: Bản đồ phân bố các tuyến và trạm quan trắc

Trang 5

5.2 Nội dung và khối lượng quan trắc

5.2.1.Quan trắc phân bố không gian các

khối trượt

Các thông số quan trắc là số lượng các điểm

trượt, khối trượt cũ hoạt động trở lại, khối trượt

mới (03 thông số) Quan trắc theo diện thông

qua giải đoán ảnh vệ tinh để xác định các yếu

tố Kiểm chứng kết quả thông qua thị sát thực

địa tại các trạm quan trắc

Số lượng thông số quan trắc là 3 Chu kỳ

quan trắc 1 quí/01 lần vào mùa khô và 24h/01

lần vào mùa mưa

5.2.2 Quan trắc đặc điểm khối trượt và các

yếu tố điều kiện gây trượt chủ yếu

- Quan trắc đặc điểm khối trượt: thể tích khối

trượt Quan trắc thông qua đo vẽ khối trượt tại

thực địa

Số lượng thông số quan trắc là 01 Số trạm

quan trắc là 86 Chu kỳ quan trắc là 01 năm/01

lần đo vào tháng 8 hàng năm

- Quan trắc các yếu tố điều kiện gây trượt: độ

cao địa hình, phân cắt ngang, phân cắt sâu, độ

dốc, hướng dốc, khoảng cách đến đứt gãy,

khoảng cách đến đường giao thông, thành phần

thạch học, chiều dày vỏ phong hóa Quan trắc

thông qua giải đoán ảnh vệ tinh, bản đồ địa

hình, địa chất, đo, vẽ, quan sát và ghi chép tại

hiện trường

Số lượng thông số quan trắc là 09 Số trạm

quan trắc là 86 Chu kỳ quan trắc là 1 năm/1 lần

đo vào tháng 8, thời điểm trong năm có số lượng, quy mô khối trượt hoạt động tăng mạnh

5.2.3 Quan trắc các yếu tố tác động biến đổi nhanh (nguyên nhân gây trượt)

Yếu tố tác động biến đổi nhanh trên phạm vi toàn bộ khu vực nghiên cứu cần quan trắc là lượng mưa và biến đổi cơ cấu sử dụng đất

a Quan trắc lượng mưa

- Quan trắc theo diện thông qua việc khai thác dữ liệu các trạm quan trắc khí tượng hiện

có trong và lân cận khu vực nghiên cứu, đó là các trạm Bắc Quang, Hoàng Su Phì và Bắc Mê

- Quan trắc theo điểm thông qua thiết bị đo đặt tại mỗi trạm quan trắc, kết nối với hệ thống ghi và truyền dữ liệu tự động

Chu kỳ quan trắc 24 giờ/1 lần vào mùa khô,

30 phút/1 lần đo vào mùa mưa, số trạm quan trắc là 13 (mỗi phân lớp của yếu tố lượng mưa đều có trạm quan trắc, 13 phân lớp – 13 trạm)

b Quan trắc biến động cơ cấu sử dụng đất

- Quan trắc theo diện thông qua việc khai thác dữ liệu ảnh vệ tinh

- Quan trắc trên thực địa theo tuyến để kiểm chứng, chuẩn hóa lại kết quả dữ liệu quan trắc do ảnh vệ tinh cung cấp Thiết bị quan trắc là UAV Chu kỳ quan trắc 01 tháng/01 lần, số lượng thông số quan trắc là 7 (diện tích đất: chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây, rừng trồng, rừng tự nhiên, trồng cây lâu năm, trồng lúa nước, ở và công trình)

Bảng 1: Tổng hợp khối lượng quan trắc

quan trắc

Số trạm, tuyến quan trắc

Số thông

số cần quan trắc

Ghi chú

I Phân bố không gian khối trượt

1 Tổng số lượng khối trượt, vị trí

khối trượt cũ hoạt động trở lại,

vị trí khối trượt mới

01 quý/ 01 lần vào mùa khô và 24h/01 lần đo vào mùa mưa

03 Phân tích ảnh chụp vệ

tinh và UAV, kết hợp kiểm chứng thực địa

Trang 6

STT Thông số quan trắc Chu kỳ

quan trắc

Số trạm, tuyến quan trắc

Số thông

số cần quan trắc

Ghi chú

II Đặc điểm các yếu tố điều kiện

gây trượt

9 thông số (độ cao địa hình,

phân cắt ngang, phân cắt sâu, độ

dốc, hướng dốc, khoảng cách

đến đứt gãy, thành phần thạch

học, chiều dày vỏ phong hóa,

Khoảng cách đến đường giao

thông)

01 năm/ 01 lần 66 trạm 09 Số trạm quan trắc bằng

tổng số phân lớp của 9 yếu tố điều kiện gây trượt (theo phương pháp Natural break)

III Đặc điểm các yếu tố tác động

biến đổi nhanh (nguyên nhân

gây trượt)

1 Lượng mưa 24 giờ/ 01 lần vào

mùa khô

30 phút/ 01 lần vào mùa mưa

13 trạm 01 Số trạm quan trắc

lượng mưa bằng số phân lớp lượng mưa (theo phương pháp Natural break)

2 Cơ cấu sử dụng đất 01 tháng/ 01 lần Phân tích

ảnh chụp

vệ tinh và UAV

07 Lập 7 trạm quan trắc

tương ứng với 7 phân lớp để kiểm chứng thực địa

III Quan trắc đặc điểm khối trượt

1 Thể tích khối trượt 01 năm/ 01 lần 86 trạm 01 Số trạm quan trắc bằng

tổng số phân lớp của các yếu tố điều kiện, nguyên nhân (theo phương pháp Natural break)

6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT

BỊ QUAN TRẮC ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG

6.1 Quan trắc phân bố không gian các

khối trượt

Phương pháp kết hợp giữa thu thập tài liệu,

phân tích ảnh vệ tinh, lắp đặt thiết bị công nghệ

đo ghi tự động và khảo sát thực địa là phương

pháp được nhiều nhà khoa học sử dụng hiện

nay Với phương pháp này mọi hạn chế của

từng phương pháp riêng lẻ được khắc phục tối

đa Ngoài ra sản phẩm dữ liệu thu được từ phương pháp quan trắc này cũng phản ánh được đầy đủ nhất hiện trạng về cường độ tác động của các yếu tố quyết định trượt đất, sự thay đổi của chúng theo thời gian, mối quan hệ phụ thuộc giữa các yếu tố với nhau và giữa các yếu tố với đặc điểm trượt đất (mức độ dịch trượt, thể tích khối trượt, đặc điểm trượt, cơ chế trượt, ) giúp việc đánh giá nguy cơ trượt đất, công tác cảnh báo tai biến trượt đất được chính xác

Trang 7

Hiện nay một số loại ảnh viễn thám có độ

phân giải cao hay được sử dụng vào việc xác

định vị trí và khoảng không gian của các điểm

trượt đất đó là ảnh SPOT, IKONOS,

QUICKBIRD, ASTER, LANDSAT TM,

LANDSAT ETM, MERIS Để xác định trượt

đất trong khu vực quan trắc với việc áp dụng

kỹ thuật giao thoa radar In SAR, việc sử dụng

các ảnh SAR chụp trên kênh L có thể đạt được

kết quả tối ưu Các ảnh này được cung cấp từ

đầu thu PALSAR2 (Phased arrays type L-band

Synthetic Aperture rada) lắp đặt trên vệ tinh

ALOS-2 (Advanced Land Observing

Satellite-2 or DAICHI-Satellite-2) bởi hãng JAXA (The Japan

Aerospace Exploration Agency) Phiên bản này

là sự nâng cấp từ đầu thu PALSAR – đầu thu

đầu tiên trên kênh L ở bước sóng 23,6m, lắp

trên vệ tinh ALOS với quỹ đạo bay và thời

gian rất chính xác để theo dõi biến dạng chậm

của bề mặt trái đất ALOS đã đóng góp vào

việc đo vẽ, quan sát khu vực, theo dõi tai biến

trượt đất và khảo sát tài nguyên từ khi phóng

lên trời năm 2006

Quá trình phân tích các vị trí trượt đất của

khu vực nghiên cứu bằng ảnh viễn thám cũng

song song tiến hành Với số liệu ảnh viễn

thám được sử dụng là ảnh vệ tinh với độ phân

giải 3m và bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 Bản

đồ địa hình được số hóa với khoảng cách các

đường đồng mức là 10m Sau đó trên cơ sở

bản đồ địa hình được gán giá trị độ cao của

đường đồng mức, các thuật toán nội suy đã

được sử dụng để nội suy và tạo ra mô hình số

độ cao (DEM) của khu vực nghiên cứu Để

hiển thị và phân tích ảnh hàng không như dưới

kính lập thể (Stereo), ảnh hàng không của khu

vực nghiên cứu đã được nắn chỉnh rồi chồng

chập lên DEM để tạo ra một ảnh hàng không

của khu vực nghiên cứu giống như đang được

quan sát trong không gian 3 chiều Trên cơ sở

ảnh hàng không 3D tất cả các vị trí trượt đất

đã được đánh dấu thông qua quá trình phân

tích, giải đoán ảnh hàng không bằng mắt

thường trong không gian 3 chiều thông qua các yếu tố địa hình, dạng và kiến trúc các dòng chảy, xói mòn bề mặt, tông ảnh, thảm phủ và hiện trạng sử dụng đất

6.2 Quan trắc đặc điểm khối trượt và các yếu tố điều kiện gây trượt chủ yếu

Các yếu tố thể tích khối trượt (đặc điểm khối trượt), khoảng cách đến đường giao thông, khoảng cách đến đứt gãy, độ cao địa hình, độ dốc, hướng dốc, phân cắt ngang, phân cắt sâu, thành phần thạch học, chiều dày vỏ phong hóa (các yếu tố điều kiện gây trượt chủ yếu) sẽ được quan trắc thông qua giải đoán ảnh vệ tinh, bản đồ địa chất, địa hình tỷ lệ 1/50.000 khu vực nghiên cứu, đo bằng các thiết bị đo và quan sát, ghi chép tại thực địa Tại điểm khảo sát, tiến hành định vị tọa độ địa

lý điểm khảo sát và độ cao địa hình bằng thiết

bị GPS Garmin 62 (độ chính xác ± 3m) và GPS 72 (độ chính xác ± 5m) Đo thể tích khối trượt, chiều dày vỏ phong hóa xuất lộ tại mặt trượt bằng ống ngắm đo khoảng cách Nikon Laser 550A S Khoảng cách đo tối đa 1000m

và góc đo tối đa là 89o và độ phóng đại lên tới

6 lần Với chiều dài dưới 30m thì dùng thước dây để đo

Quan trắc mái dốc, độ dốc, hương dốc bằng địa bàn và máy đo Nikon Laser 550A S Quan trắc mức độ phân cắt ngang, phân cắt sâu, khoảng cách đến đứt gãy, đến đường giao thông bằng giải đoán ảnh vệ tinh độ phân giải cao, bản

đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 kết hợp máy đo Nikon Laser 550A S Quan trắc chiều dày vỏ phong hóa thông qua giải đoán bản đồ địa chất

tỷ lệ 1/50.000

Mô tả thành phần vật chất khối trượt, đặc điểm, cơ chế trượt đất ngoài thực tế kết hợp phỏng vấn người dân để biết thêm các thông tin xung quanh khối trượt, đưa ra bảng thông tin các khối trượt lân cận trong khu vực quan trắc Nhận định khối trượt theo bảng phân loại trượt đất của Lomtazde (1979) để xếp loại và phân cấp các khối trượt

Trang 8

6.3 Hệ thống quan trắc tự động và các

thiết bị điều khiển - liên lạc từ xa

Hệ thống quan trắc tự động bao gồm các cấu

phần thiết bị chính sau đây:

1 Các cảm biến ghi đo các thông số dịch

trượt và các yếu tố tác động trong và trên phạm

vi mái dốc cần quan trắc

2 Một bộ ghi đo tự động đặt trên hiện trường

để ghi đo các cảm biến theo chương trình định

sẵn Bộ ghi đo có khả năng liên lạc, giao tiếp

với một máy tính PC trực tiếp hoặc quan trắc từ

xa Bộ ghi đo tự động có chứa nguồn điện phục

vụ cho việc kích hoạt các cảm biến và ghi đo

lưu trữ, truyền số liệu Ngoài ra bộ ghi đo tự

đông cần có khả năng kích hoạt một thiết bị báo

động khi một (hoặc nhiều) các thông số đo được

vượt quá ngưỡng an toàn theo tính toán

3 Một máy tính PC với phần mềm quản lý

để điều khiển bộ ghi đo tự động, thu số liệu, tính

toán và hiển thị các số liệu từ hiện trường

Liên lạc giữa máy tính và bộ ghi đo tại hiện

trường được thực hiện qua một đường truyền vô

tuyến (sóng radio, mạng điện thoại di dộng, điện

thoại vệ tinh) hoặc hữu tuyến (liên lạc trực tiếp

qua cáp máy tính trên hiện trường, bằng

mô-đem điện thoại, bằng các mô-mô-đem hữu tuyến

đường ngắn)

Việc đo ghi đo tự động được thực hiện bởi

một thiết bị CR1000 cùng các thiết bị ngoại vi

do hãng Campbell Scientific Inc chế tạo tại Mỹ

Đây là một thiết bị tích hợp bởi các mô-đun đo

với độ chính xác cao các cảm biến hoạt động

theo nguyên lý điện thế - dòng điện - xung điện

- tần số (thông qua một adaptor dây rung)- nhiệt

độ… và một bộ vi xử lý để điều khiển việc ghi

đo và lưu số liệu từ các cảm biến Bộ ghi đo và

vi xử lý CR1000 tương thích với hầu hết các

thiết bị quan trắc địa kỹ thuật, thủy văn, môi

trường hiện có trên thế giới Hệ thống ghi đo tự

động có thể ghi đo và quản lý thêm một loạt các

cảm biến khác như: áp suất khí quyển, nhiệt độ,

độ ẩm không khí, số giờ nắng trong ngày, bức

xạ mặt trời, độ bay hơi bề mặt, tốc độ gió,

hướng gió, nhiệt đô - độ ẩm của đất, độ đục của dòng chảy, chuyển vị kế, giãn kế, các ten-sơ đo ứng suất, áp lực trong đất… tổng số các cảm biến mà bộ ghi đo tự động CR1000 có thể quản

lý lên đến 96 với sự trợ giúp của các bảng mở rộng kênh đo 16/32 kênh

6.4 Quan trắc các yếu tố tác động, biến đổi nhanh

Các yếu tố tác động, biến đổi nhanh trên phạm vi rộng lớn toàn bộ khu vực nghiên cứu

Vì vậy, phương pháp quan trắc chủ yếu thông qua đo vẽ, giải đoán ảnh viễn thám kết hợp với việc sử dụng thiết bị quan trắc tại mặt đất

6.4.1 Thiết bị đo lượng mưa

Tại trạm quan trắc, một máy đo mưa được lắp đặt cùng hệ thống ghi đo tự động và mô-đem điện thoại kết nối giữa máy tính PC đặt từ xa với hệ thống ghi đo tự động Máy đo mưa TE525 MM do hãng Texas Electronics chế tao tại Mỹ là loại máy đo mưa hoạt động theo nguyên lý cốc lật điện từ Nước mưa được hứng qua phễu có đường kính 25.4 mm xuống một cốc chứa được hiệu chuẩn tương ứng với lượng mưa 0.1 mm Khi nước mưa được hứng qua phễu chảy xuống đầy cốc, chiếc cốc sẽ lật, làm bật công tắc điện từ, gây ra một xung điện, xung điện này sẽ được ghi đo bởi máy ghi đo tự động

6.4.2 Thiết bị đo sự thay đổi của cơ cấu sử dụng đất

Việc kết hợp ảnh vệ tinh độ phân giải cao với công nghệ laser scanner có thể tăng độ phân giải

cả không gian và thời gian của các ảnh chụp bề mặt khu vực nghiên cứu Công nghệ này có tính linh hoạt cao, tốc độ thu thập và xử lý số liệu nhanh chóng hơn so với các phương pháp viễn thám truyền thống Với công nghệ này, tốc độ dịch chuyển bề mặt được xác định trên cơ sở so sánh các số liệu mô hình số bề mặt được xác định từ ảnh chụp ghi nhận ở các thời điểm khác nhau Các công tác này có thể tiến hành tự động hoặc thủ công Công nghệ sử dụng UAV (Thiết

bị bay chụp điều khiển từ xa) hiện nay cho phép các phân tích chi tiết hình ảnh bề mặt trên phạm

Trang 9

vi từng vùng nghiên cứu nhỏ hơn (cấp xã,thị

trấn) trong đó cho ta biết đặc điểm đất từng

loại đất và diện tích các loại đất, từ đó tích hợp

hình ảnh cho phép thành lập bản đồ hiện trạng

cơ cấu sử dụng đất trên phạm vi toàn khu vực

nghiên cứu

7 ĐỊNH HƯỚNG CÁC MÔ HÌNH CẢNH

BÁO TRƯỢT ĐẤT KHU VỰC NGHIÊN

CỨU TỪ DỮ LIỆU QUAN TRẮC

7.1 Điều chỉnh trọng số trong mô hình chỉ

số thống kê tích hợp đa biến

Để tính toán định lượng trọng số của các yếu

tố điều kiện, nguyên nhân gây trượt, luận án sử

dụng công thức là kết quả nghiên cứu của Trung

tâm Nghiên cứu đô thị - Đại học Quốc gia Hà

Nội, cụ thể

(1)

n: Số lượng yếu tố gây trượt đất của khu vực

nghiên cứu

MaxDij: Mật độ trượt lớn nhất của các phân

lớp i trong yếu tố j

Hệ thống quan trắc cung cấp dữ liệu quan

trắc thay đổi theo chu kỳ quan trắc Đối với mỗi

dữ liệu thuộc 01 chu kỳ quan trắc sẽ có được 01

giá trị và Wj

Tùy kết quả quan trắc thực tế, giá trị trọng số

của các yếu tố thay đổi sẽ có thể dẫn đến việc

điều chỉnh mạng lưới quan trắc cho phù hợp, cụ

thể: phân bố lại tuyến quan trắc cho phù hợp với

bản đồ phân vùng cường độ tác động của yếu tố

chiếm tỷ trọng lớn, phân bố lại trạm quan trắc

cho phù hợp với bản đồ phân vùng nguy cơ

trượt đất được xác định lại sau khi sử dụng kết

quả dữ liệu quan trắc

7.2 Sử dụng mô hình định lượng chỉ tiêu

tích hợp các yếu tố điều kiện, nguyên nhân

gây trượt đất để dự báo phân vùng nguy cơ

trượt đất

Khu vực nghiên cứu được chia làm các ô lưới

cơ sở với kích thước 20x20m (01 pixel) Chỉ

tiêu tích hợp các yếu tố phát sinh, phát triển

trượt đất được tính toán cho tất cả các ô lưới cơ

sở trên mạng tính toán, sau đó xây dựng mô hình trường biến đổi của nó dưới dạng các đường đẳng trị chỉ tiêu tích hợp Đó là cơ sở

để tiến hành phân vùng lãnh thổ khả năng phát triển trượt đất

Chỉ tiêu tích hợp các yếu tố điều kiện, nguyên nhân gây trượt đất trượt đất được tính toán theo công thức sau:

(2) Trong đó: gi là tỷ trọng của yếu tố điều kiện, nguyên nhân gây trượt đất thứ i, là tham số định lượng của yếu tố điều kiện, nguyên nhân gây trượt đất thứ i đã được quan trắc

Tỷ trọng (g i ) của yếu tố điều kiện, nguyên nhân

gây trượt đất được xác định trên cơ sở mối tương quan giữa các yếu tố điều kiện, nguyên nhân gây trượt vói nhau và với đặc điểm trượt đất khu vực nghiên cứu (thông qua dữ liệu quan trắc)

Tham số định lượng của yếu tố ( ), cũng được điều chỉnh thông qua dữ liệu quan trắc về cường độ tác động của các yếu tố điều kiện, nguyên nhân gây trượt Như vậy, dựa vào dữ liệu quan trắc ta có thể xây dựng bản đồ dự báo nguy cơ trượt đất dưới dạng các đường đẳng trị chỉ tiêu tích hợp

7.3 Cảnh báo nhanh quy mô, cường độ (thể tích) của các khối trượt có thể xuất hiện thông qua quan trắc yếu tố gây trượt chủ yếu bằng các hàm hồi quy

Xây dựng hàm hồi quy liên hệ giữa thể tích khối trượt với các yếu tố gây trượt chủ yếu Xác định các yếu tố gây trượt chủ yếu dựa trên việc xác định định lượng tỷ trọng tham gia của các yếu tố gây trượt trên cơ sở thống kê các số liệu

đo vẽ về thể tích khối trượt và các yếu tố gây trượt tương ứng

- Tính toán hệ số tương quan cặp đôi giữa tất

cả các yếu tố gây trượt được xem xét (rij) và giữa các yếu tố gây trượt với thể tích khối trượt, xây dựng ma trận của chúng

Trang 10

1 r21 r31 …… rp1

r12 1 r32……… rp 2

∆ = r13 r23 1……… rp 3

… ………

r1p r2p………… 1

- Lập hệ phương trình:

r1y 1 2r21 p r p1

2 2

12 1

p p

p

r 1 1 2 2  

- Tính toán các hệ số tiêu chuẩn β i

Với

i

 , Hệ số i được xác định từ

ma trận trên bằng cách thay thế các cột

tương ứng i bằng hệ số tự do của phương

trình trên

rij là hệ số tương quan giữa yếu tố điều kiện

tai biến thứ i và j, riy là hệ số tương quan giữa

yếu tố điều kiện thứ i và hàm mục tiêu FTB (thể

tích khối trượt)

- Tính toán hệ số tương quan nhiều chiều R

R2=

p

1

i

yi

ir (3)

Hệ số tương quan nhiều chiều cho phép xem

xét các tham số phát triển tai biến tham gia phân

vùng có hợp lý hay không Thực tế hệ số tương

quan nhiều chiều R >0.7 thì các tham số lựa

chon là đủ, nếu hệ số tương quan nhiều chiều

nhỏ thì chắc chắn trong việc xác định các tham

số phát triển tai biến còn thiếu một số các tham

số quan trọng nào đó

- Tính toán tỷ trọng của các tham số phát

triển tai biến theo công thức sau:

p

i

iy i

iy

i

i

r

r

g

1

(4)

Mức độ quan trọng của các yếu tố xác định

theo tỷ trọng của chúng, tỷ trọng càng lớn, các

yếu tố càng quan trọng Phụ thuộc vào giá trị tỷ

trọng của các yếu tố gây trượt được tính toán trên khu vực nghiên cứu, có thể xây dựng hàm hồi quy liên hệ giữa thể tích khối trượt và yếu tố chiếm tỷ trọng lớn nhất Hàm hồi quy sẽ đưa ra

số liệu cảnh báo nhanh quy mô thể tích khối trượt có thể xuất hiện theo yếu tố chiếm tỷ trọng gây trượt lớn nhất

7.4 Mô hình cảnh báo, dự báo ngưỡng phát triển trượt đất theo các yếu tố có tỷ trọng gây trượt lớn, biến đổi nhanh bằng các hàm hồi quy

Căn cứ bảng trọng số của các yếu tố quyết định trượt đất sẽ lựa chọn ra yếu tố chiếm tỷ trọng gây trượt lớn và biến động nhanh và thất thường qua các năm và có tác động trực tiếp đến tai biến trượt đất trong khu vực nghiên cứu Mô hình cảnh báo nhanh tai biến trượt đất sẽ được xây dựng căn cứ số liệu quan trắc

về sự biến đổi của yếu tố này theo thời gian và tần suất xuất hiện trượt đất trong khu vực nghiên cứu

Đồ thị phân tán giữa tần suất xuất hiện khối trượt và sự biến đổi của yếu tố quan trắc cho ta một phương trình hồi quy tuyến tính Phương trình này sẽ được sử dụng để cảnh báo về ngưỡng giá trị của cường độ tác động của yếu tố

có thể gây trượt cho khu vực và ngưỡng biến đổi có thể gây trượt ồ ạt, quy mô lớn trên toàn

bộ khu vực nghiên cứu Từ đó, đưa ra khuyến cáo để chính quyền địa phương có giải pháp chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại do trượt đất gây ra

KẾT LUẬN

Trên cơ sở nghiên cứu luận chứng hệ thống quan trắc phục vụ cảnh báo tai biến trượt đất cho cấp khu vực có thể rút ra một số kết luận sau:

1 Hệ thống quan trắc phục vụ cảnh báo tai biến trượt đất khu vực được luận chứng trên cơ

sở của bản đồ dự báo nguy cơ trượt đất khu vực Tây Nam tỉnh Hà Giang và các bản đồ thành phần phân bố cường độ tác động của các yếu tố phát sinh, phát triển trượt đất, bao gồm: 12

Ngày đăng: 10/02/2020, 06:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w