1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đặc điểm mang gen Thalassemia và bệnh huyết sắc tố ở 5 dân tộc thuộc vùng Nam Trung Bộ

6 68 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 313,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tỷ lệ và kiểu đột biến gen thalassemia và bệnh huyết sắc tố ở 5 dân tộc sinh sống tại vùng Nam Trung Bộ. Tỷ lệ mang gen thalassemia và bệnh huyết sắc tố E là 48,9%, trong đó tỷ lệ người mang gen α-thal, β-thal và HbE lần lượt là 40%, 0,001% và 17,9%, phối hợp α-thal và HbE là 9%. Có 7 kiểu đột biến gen alpha thalassemia được phát hiện, trong đó kiểu gen -α3.7/αα và - αHbCs/αα chiếm tỷ lệ cao nhất (40,7% và 36%).

Trang 1

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM MANG GEN THALASSEMIA

VÀ BỆNH HUYẾT SẮC TỐ Ở 5 DÂN TỘC THUỘC VÙNG NAM TRUNG BỘ

Nguyễn Bá Chung * , Bạch Quốc Khánh * , Nguyễn Thị Thu Hà * , Ngô Mạnh Quân * , Nguyễn Triệu Vân * , Ngô Huy Minh * , Hoàng Kim Thành * , Dương Quốc Chính * , Nguyễn Ngọc Dũng * , Lê Xuân Hải * ,

Nguyễn Anh Trí *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và kiểu đột biến gen thalassemia và bệnh huyết sắc tố ở 5 dân tộc sinh sống tại

vùng Nam Trung Bộ

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 2.529 học sinh thuộc 5 dân tộc

(Raglai, Chăm, Co, H’Re, Cơ Tu) sinh sống ở 3 tỉnh vùng Nam Trung Bộ

Kết quả: tỷ lệ mang gen thalassemia và bệnh huyết sắc tố E là 48,9%, trong đó tỷ lệ người mang gen α-thal,

β-thal và HbE lần lượt là 40%, 0,001% và 17,9%, phối hợp α-thal và HbE là 9% Có 7 kiểu đột biến gen alpha thalassemia được phát hiện, trong đó kiểu gen -α 3.7 /αα và - α HbCs /αα chiếm tỷ lệ cao nhất (40,7% và 36%)

Kết luận: tỷ lệ mang gen thalassemia và bệnh huyết sắc tố ở 5 dân tộc vùng Nam Trung Bộ rất cao, trong

đó chủ yếu là các đột biến α + -thal và HbE Nghiên cứu cũng phát hiện có tỷ lệ không nhỏ người bị bệnh thalasemia và huyết sắc tố thể nhẹ trong cộng đồng

Từ khóa: dân tộc thiểu số ở Nam Trung Bộ, Raglai, Chăm, Co, H’Re, Cơ Tu

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF THALASSEMIA AND HEMOGLOBINOPATHIES CARRIERS

AMONG FIVE ETHNIC GROUPS IN THE SOUTH CENTRAL VIETNAM

Nguyen Ba Chung, Bach Quoc Khanh, Nguyen Thi Thu Ha, Ngo Manh Quan, Nguyen Trieu Van, Ngo Huy Minh, Hoang Kim Thanh, Duong Quoc Chinh, Nguyen Ngoc Dung, Le Xuan Hai,

Nguyen Anh Tri

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 280 - 285

Objectives: To determine the prevalence of thalassemia and hemoglobinopathies carriers among 5

ethnic groups living in the South Central Region

Methods: Cross-sectional description 2.529 students from 5 ethnic groups (Raglai, Cham, Co, H’Re, Co

Tu) living in 3 provinces of the South Central Coast

Results: The prevelance of gene carrying of thalassemia and hemoglobinopathies was 48.9%, of which

the percentage of α-thal, β-thal and HbE (CD26) genes was 40%, 0.001% and 17.9%, respectively α-thal and HbE combination was 9% There were 7 genotypes of alpha thalassemia, of which -α3.7/αα and - αHbCs/αα accounted for the highest proportion (40.7% and 36% respectively) Co and Cham ethnic groups had low rate αo-thal SEA mutation (2%)

Conclusion: The percentage of thalassemia and hemoglobinopathies carriers among 5 ethnic groups in

the South Central Coast was very high, of which almost were α+-thal and HbE (CD26) mutations

Keywords: minority in South Central Vietnam, Raglai, Chăm, Co, H’Re, Cơ Tu

*Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương

Tác giả liên lạc: TS.BS Nguyễn Thị Thu Hà ĐT: 0985 826 986 Email: nguyenthuhanihbt@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thalassemia và bệnh huyết sắc tố là bệnh lý

di truyền phổ biến trên ở châu Á cũng như ở

nước ta(2), do việc di truyền các gen đột biến tổng

hợp chuỗi alpha và/hoặc beta globin Bệnh có

nhiều mức độ khác nhau, từ thể nặng, trung

bình, nhẹ đến tình trạng mang gen bệnh, tùy vào

kiểu đột biến gen Vấn đề phòng bệnh cần được

đặt lên hàng đầu Theo liên đoàn Thalassemia

thế giới, phòng bệnh hướng tới việc kiểm soát

nguồn gen bệnh và khống chế, giảm tỷ lệ sinh ra

trẻ bị bệnh thể nặng

Bệnh liên quan đến nguồn gốc và dân tộc,

phân bố khắp toàn cầu song có tính địa dư rõ

rệt Việt Nam thuộc vùng có nguy cơ cao mắc

bệnh Thalassemia, đặc biệt Thalassemia có tỷ lệ

lưu hành cao trong nhóm dân tộc thiểu số Ở

vùng duyên hải Nam Trung Bộ là nơi sinh sống

của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó có 5 dân tộc

đặc trưng là Chăm, Raglai, H’Re, Co, Cơ Tu Các

dân tộc này có xu hướng kết hôn trong cùng dân

tộc, kết hôn cận huyết cao(7) Trong khi đó, chưa

có khảo sát đầy đủ về tình hình mang gen bệnh

Thalassemia, huyết sắc tố ở nhóm cộng đồng

này Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục

tiêu: “Xác định tỷ lệ và đặc điểm kiểu đột biến

gen Thalassemia và bệnh huyết sắc tố ở 5 dân tộc

sinh sống tại vùng Nam Trung Bộ”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

2.529 người, là học sinh các trường

THPT/THCS và dân tộc nội trú, thuộc 5 dân tộc:

Cơ Tu, Co, H’Re, Raglai, Chăm

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có cha và mẹ

cùng dân tộc, tại thời điểm nghiên cứu không có

các biểu hiện nhiễm trùng, sốt hoặc bị bệnh khác

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2017

(12 tháng)

Địa điểm lấy mẫu: 3 tỉnh Quảng Nam,

Quảng Ngãi, Ninh Thuận

Địa điểm thực hiện xét nghiệm: Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang có phân tích

Cỡ mẫu

Số mẫu cho từng dân tộc được tính theo công thức ước lượng cho 1 tỷ lệ:

n = Z21-α/2 p(1-p)

(p x Ɛ)2

Trong đó:

p là tỷ lệ mang gen Tất cả các dân tộc đều chưa biết tỷ lệ mang gen, ước tính tỉ lệ mang gen p = 0,20; Ɛ = 0,25, cỡ mẫu tối thiểu là 492 người Riêng dân tộc Cơ Tu có tỉ lệ kết hôn cận huyết ≥10%, lấy p = 0,25, Ɛ = 0,25, cỡ mẫu tối thiểu là 269

Tổng cỡ mẫu dự kiến là 2.337 người

Thực tế, số mẫu đạt tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu là 2.529 người, cụ thể như sau: Tại Quảng Ngãi, chọn được 567 mẫu người dân tộc H’Re, 474 người dân tộc Co; ở Ninh Thuận, chọn được 543 người dân tộc Chăm, 500 người dân tộc Raglai; ở Quảng Nam, chọn được 445 người dân tộc Cơ Tu

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu nhiều giai đoạn, tiến hành qua 3 bước:

Chọn tỉnh: chọn 3 tỉnh có chủ đích, nơi có nhiều người dân các dân tộc trong danh sách sinh sống, các tỉnh được chọn là: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Ninh Thuận

Chọn trường, lớp: lựa chọn toàn bộ các trường dân tộc nội trú, trong trường chọn tất cả các lớp có học sinh thuộc dân tộc nghiên cứu Chọn đối tượng nghiên cứu: trong lớp chọn toàn bộ học sinh thuộc dân tộc trong danh sách Lãnh đạo nhà trường và giáo viên chủ nhiệm tư vấn để các cháu tự nguyện tham gia nghiên cứu cho đến khi đủ cỡ mẫu

Trang 3

Phương pháp tiến hành

Học sinh được tập trung, tư vấn và tổ chức

thu thập thông tin cá nhân, lấy mẫu xét nghiệm,

bảo quản và gửi về Viện Huyết học – Truyền

máu Trung Ương để làm xét nghiệm

Mẫu được làm xét nghiệm tổng phân tích tế

bào máu bằng máy đếm tế bào tự động, sinh hóa

máu (sắt huyết thanh, ferritin), xét nghiệm thành

phần huyết sắc tố bằng kĩ thuật sắc ký lỏng hiệu

năng cao (HPLC), xác định đột biến gen bằng kĩ

thuật Multiplex PCR, Gap- PCR (khi MCV <85 fl;

MCH <28 pg, không thiếu sắt)

Tiêu chuẩn xác định có mang đột biến gen tổng hợp

chuỗi alpha, chuỗi beta globin

Mang gen đột biến alpha Thalassmia: có ≥1

đột biến; mang gen αo khi xác định có SEA,

THAI; α+ khi xác định có: 3.7, 4.2, C2delT,

HbCs, HbQs

Mang gen đột biến beta thalassemia: có ≥1

đột biến; mang gen βo khi xác định có đột biến:

CD17, CD41/42, CD71/72, CD95, 1,

IVS1-5, -90; mang gen β+ khi có đột biến -28, -88,

IVS2-654

Mang gen đột biến bệnh huyết sắc tố (HbE):

CD26 (GAG-AAG)

Phân tích và xử lý số liệu

Phần mềm Excel 2010 và SPSS 20.0

KẾT QUẢ

Tỷ lệ ĐTNC có thiếu máu khá cao (26,8%),

hồng cầu nhỏ là 65,8%, nhược sắc là 81,7%; tỷ lệ

ĐTNC có thiếu sắt là 9,6% (Bảng 1)

Tỷ lệ mang gen đột biến globin chung là 48,9%, tỷ lệ này rất cao ở dân tộc Raglai (88,6%)

Tỷ lệ mang gen beta Thalassemia rất thấp (0,1%) Trong các đột biến huyết sắc tố khác, chỉ gặp đột biến HbE (CD26) với tỷ lệ 17,9% và có 9% ĐTNC

mang gen alpha phối hợp với HbE (Bảng 2)

Tỷ lệ mang gen α0-thal thấp, trung bình là 0,8%, α+-thal cao (39,2%), rất cao ở dân tộc Raglai (85,2%) Tỷ lệ mang gen β-thal rất thấp (β0-thal là 0,1%; không có đột biến β+-thal) Tỷ lệ HbE là

17,9%, cao nhất ở dân tộc Raglai (31,2%) (Bảng 3)

Trong các đột biến gen Alpha globin, đột biến 3.7 chiếm tỷ lệ cao nhất 61,5%, tiếp đến là HbCs 43,6% Nhiều trường hợp có mang 2 gen

đột biến (Bảng 4)

Có 7 kiểu gen alpha Thalassemia được phát hiện, trong đó kiểu gen -α3.7/αα và -αHbCs/αα chiếm tỷ lệ cao nhất; kiểu gen -α3.7/αα chiếm ưu thế ở dân tộc Raglai, Chăm; kiểu gen -αHbCs/αα chiếm ưu thế ở dân tộc Cơ Tu, H’Rê; kiểu gen

-α3.7/αα và -αHbCs/αα tương đương nhau ở dân tộc

Co (Bảng 5)

Có 5 allen đột biến gen beta globin được phát hiện: CD41/42, IVS1-5, IVS2-654 và CD26 Đồng thời có 5 kiểu gen đột biến chuỗi beta globin, phổ biến nhất là kiểu gen β/βCd26 (95%)

(Bảng 6)

Bảng 1 Đặc điểm một số chỉ số huyết học, sinh hóa ở ĐTNC

Cỡ mẫu (n) Hb<120g/l (n,%) MCV<85fl (n,%) MCH<28pg (n,%) Ferritin<30 ng/ml (n,%)

Bảng 2 Tỷ lệ mang gen bệnh thalassemia và huyết sắc tố

Dân tộc Cỡ mẫu (n) Chung (n, %) α-globin (n, %) β-globin α-globin và HbE (n, %)

Beta (n, %) HbE (n, %)

Trang 4

Dân tộc Cỡ mẫu (n) Chung (n, %) α-globin (n, %) β-globin α-globin và HbE (n, %)

Beta (n, %) HbE (n, %)

Bảng 3 Tỷ lệ các kiểu đột biến gen

o

Bảng 4 Tỷ lệ các alen đột biến alpha globin theo từng dân tộc

Bảng 5 Tỷ lệ các kiểu đột biến gen alpha globin ở từng dân tộc

Dân tộc Tần số chung -α 3.7 /αα (n, %) -α 4.2 /αα α Cs α/αα -α 3.7 /-α 3.7 -α 3.7 / α Cs α - - SEA /αα - - SEA / -α 3.7

Bảng 6 Tỷ lệ các kiểu đột biến gen beta golbin ở từng dân tộc

Dân tộc Tần số chung (n) β/β Cd41/42 (n,%) β/β IVS1-5 β IVS2-654 / β Cd26 β/β Cd26 β Cd26 / β Cd26

BÀN LUẬN

Khảo sát những chỉ số huyết học cơ bản của

ĐTNC chúng tôi nhận thấy, có tỷ lệ khá cao học

sinh bị thiếu máu (26,8%), trong khi đó tỷ lệ có

thiếu sắt là 9,6% Số liệu này cho thấy, tình trạng

thiếu máu và thiếu máu dinh dưỡng ở học sinh

còn rất cần được quan tâm(1) Cùng với tỷ lệ rất

cao ĐTNC có hồng cầu nhỏ (65,8%), nhược sắc

(81,7%) (Bảng 1) Điều này cho thấy, có thể sử

dụng các xét nghiệm này để bước đầu sàng lọc

đối tượng có nguy cơ mang gen thalassemia/huyết sắc tố

Kết quả tại Bảng 2 cho thấy, tỷ lệ mang gen

đột biến globin ở ĐTNC khá cao, 48,9%; tỷ lệ này rất cao ở dân tộc Raglai (88,6%), dân tộc H’re (48%); trong đó chủ yếu là đột biến alpha Thalassemia với tỷ lệ chung trong nhóm ĐTNC

là 40% Về đột biến của chuỗi beta, chúng tôi chỉ gặp 3 trường hợp mang gen beta Thalassemia, 17,9% mang đột biến HbE, không gặp các đột biến huyết sắc tố khác Do tỷ lệ khá cao của

Trang 5

alpha và HbE nên gặp tới 9% ĐTNC mang cả

đột biến của chuỗi alpha phối hợp với HbE

Những kết quả này phù hợp với các mô tả

về đặc điểm của người mang gen Thalassemia,

huyết sắc tố, đó là bề ngoài có thể bình

thường, không có biểu hiện thiếu máu cũng

như các biểu hiện bất thường khác; và một xét

nghiệm rất phổ biến là Tổng phân tích tế bào

máu, nếu không chú ý cũng sẽ rất dễ bỏ

qua(1,5) Điều này, cũng phù hợp với khuyến

cáo của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2016), nên

sử dụng ngưỡng MCV là 85fL và MCH là 28pg

để tăng độ nhạy của sàng lọc(6)

Dân tộc Raglai là một bộ phận của dân tộc

Chăm đã tách ra, hiện có khoảng 122.245

người sinh sống chủ yếu tại Ninh Thuận Tuy

nhiên, tỷ lệ mang gen Thalassemia ở hai dân

tộc trong nghiên cứu này khá rõ rệt: ở dân tộc

Raglai (88,6%), ở dân tộc Chăm là (38,1%)

Như vậy, tỷ lệ mang gen bệnh

Thalassemia/HST có thể không hoàn toàn phụ

thuộc vào nguồn gốc dân tộc, hệ ngôn ngữ,

cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào địa lý

Khảo sát đặc điểm mang gen đột biến chuỗi

alpha globin chúng tôi nhận thấy, hai đột biến có

tỷ lệ cao và rất phổ biến là 3.7 và Constant

Spring, chiểm tỷ lệ 61,5% và 43,6% trong tổng số

allen đột biến gen alpha phát hiện được Trong

khi đó, tỷ lệ mang đột biến nặng là SEA chỉ gặp

với tỷ lệ rất thấp, có 20 trường hợp (Bảng 4) Bảng

3 cho kết quả tương đồng, ở 5 dân tộc này, chủ

yếu là mang đột biến α+ (39,2%), chỉ có 0,8%

ĐTNC mang gen đột biến nặng

Theo Liên đoàn thalassemia thế giới, người

mang 1 gen bệnh là người mang gen, mang 2

gen đột biết gọi là người bị bệnh, tùy gen gì mà

sẽ có mức độ bệnh khác nhau Bảng 5 cho thấy,

có 13% số người mang gen có đồng hợp tử 3.7

(-α3.7/-α3.7,nhiềunhất ở dân tộc Raglai), 7,6% có

kiểu gen -α3.7/αCsα tương đương với alpha

thalassemia thể nhẹ, và 1 trường hợp - - SEA/-α3.7

tương đương với thể trung bình Như vậy, trong

cộng đồng không chỉ có người mang gen, mà có

người bệnh thể nhẹ, thể trung bình có thể bị bỏ

qua mà không được quan tâm

Cũng tại Bảng 5 cho thấy trong số các kiểu

gen alpha thalassemia, kiểu gen -α3.7/αα và

-αHbCs/αα chiếm tỷ lệ cao nhất; kiểu gen -α3.7/αα chiếm ưu thế ở dân tộc Raglai, Chăm (chủ yếu tại Ninh Thuận); kiểu gen -αHbCs/αα chiếm ưu thế ở dân tộc Cơ Tu, H’Rê (chủ yếu tại Quảng Nam, Quảng Ngãi); kiểu gen -α3.7/αα và

-αHbCs/αα tương đương nhau ở dân tộc Co Kết quả này cũng phù hợp nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa ở 298 phụ nữ người Cơ Tu thấy tỷ lệ HbCs là cao nhất (26,2%), 3.7 là 10,7%, α0-thal là 0%(4) Điều này cho thấy tỷ lệ mang gen thalassemia và bệnh huyết sắc tố có tính địa dư khá rõ

Khảo sát về kiểu đột biến gen beta globin, chúng tôi nhận thấy nhóm 5 dân tộc nghiên cứu,

tỷ lệ mang đột biến beta rất thấp Bảng 2 và 6 cho

thấy, chỉ có 3 trường hợp được phát hiện mang allen đột biến gen beta globin, với kiểu gen là β/βCd41/42, β/βIVS1-5, βIVS2-654/ βCd26 Có 432 trường hợp mang gen bệnh huyết sắc tố E (kiểu gen β/βCd26),

có9 trường hợp bị bệnh huyết sắc tố E, kiểu gen đồng hợp tử βCd26/βCd26 Như vậy HbE có gặp ở tất cả các dân tộc, cao nhất là Raglai (31,2%), Cơ

tu (19,4%) Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của S O'Riordan, tỷ lệ HbE ở dân tộc Raglai là 14,4% và beta thalassemia là 0,1%(8), tác giả Nguyễn Văn Hòa nghiên cứu trên dân tộc Cơ

Tu, tỷ lệ HbE là 13,8%, beta Thalassemia là 0,67%(4)

Vùng Nam Trung Bộ tiếp giáp với Campuchia, nên kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu của một số nước trong khu vực Đông Nam Á như báo cáo của Suthat Fucharoen and Pranee Winichagoon (1992), tỷ lệ mang gen alpha thalassemia là 30 - 40% ở miền Bắc Thái Lan và Lào, tỷ lệ mang gen beta thalassemia từ 1 – 9% và tỷ lệ HbE khoảng

50 – 60% ở khu vực giữa 3 nước Thái Lan, Lào và Campuchia Nghiên cứu của Savongsy O, Fucharoen S (2008) về tỷ lệ mang gen bệnh Thalassemia/HST của phụ nữ ở Lào cho thấy tỷ

lệ mang gen alpha, beta và HbE là 12,7%, 3,6%

Trang 6

và 30,2%(9) Tỷ lệ người mang gen bệnh

α-thalassemia ở miền Bắc Thái Lan và Lào là 30 -

40%(8) Tỷ lệ người mang gen alpha ở miền bắc

Thái Lan là 35,8%, trong đó tỷ lệ người mang

gen 3.7 là 18,1% và SEA là 13,9%(3)

Như vậy, qua phân tích các kiểu đột biến

gen và tỷ lệ các thể bệnh Thalassemia/huyết sắc

tố ở 5 dân tộc vùng Nam Trung Bộ cho thấy có

đặc điểm mang các kiểu gen bệnh giống các dân

tộc trong khu vực, với đặc điểm tỷ lệ α+

-thalassemia và HbE cao Như vậy, tỷ lệ mang

gen Thalassemia/ huyết sắc tố của các dân tộc

vùng Nam Trung Bộ có thể liên quan đến các

yếu tố như: địa lý, nguồn gốc dân tộc, hệ ngôn ngữ

KẾT LUẬN

Qua khảo sát tỷ lệ mang gen bệnh

thalassemia/HST ở 5 dân tộc (Raglai, Chăm, Co,

Cơ Tu, H’Rê) đang sinh sống ở 3 tỉnh vùng Nam

Trung Bộ cho thấy tình trạng mang gen bệnh

Thalassemia/HST gặp ở tất cả các dân tộc với tỷ

lệ gặp rất cao (48,9%) Rất may, chủ yếu gặp

những đột biến nhẹ như 3.7, HbCs, CD26;

những đột biến nặng như SEA, CD 41/42, IVS1-1

gặp với tỷ lệ rất nhỏ Nghiên cứu cũng phát hiện

có tỷ lệ không nhỏ người bị bệnh Thalasemia và

huyết sắc tố trong cộng đồng

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Dự án

“Nghiên cứu sản xuất chip sinh học trên nền DNA microarray để chẩn đoán một số bệnh ở người” mã số 01/2017/CNC – HDKHCN đã tài trợ kinh phí để chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Department of Nutrition for Health and Development WHO

(2015) The global prevalence of anaemia in 2011 WHO, pp.3-4

2 Fucharoen S, Winichagoon P (2011) Haemoglobinopathies in

Southeast Asia Indian J Med Res, 134(4):498–506

3 Lemmens-Zygulska M, Eigel A (1996) Prevalence of

alpha-thalassemias in northern Thailand Hum Genet, 98(3):345-7

4 Ng Van Hoa, Sanchaisuriya K, Wongprachum K, et al (2013) Hemoglobin constant spring is markedly high in women of an

ethnic minority group in Vietnam: A community-based survey and hematologic features Blood cells Molecules and Diseases,

52(4):161-165

5 Nguyễn Anh Trí (2013) Hỏi đáp về bệnh tan máu bẩm sinh

Nhà xuất bản Y học Hà Nội, pp.8-9

6 Nguyễn Thị Thu Hà (2016) Đặc điểm một số chỉ số huyết học ở người mang gen bệnh thalassemia đến tư vấn tại Viện Huyết

học Truyền máu TW Y học Việt Nam, 448:169–176

7 Phùng Đức Tùng, Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số Ủy ban Dân tộc Hà Nội, pp.26-27

8 Savongsy O, Fucharoen S, et al (2008) Thalassemia and hemoglobinopathies in pregnant Lao women: carrier screening,

prevalence and molecular basis Ann Hematol, 87(8):647-54

9 Winichagoon P, Svasti S, Munkongdee T, Chaiya W, Boonmongkol P, Chantrakul N, et al (2008) Rapid diagnosis of thalassemias and other hemoglobinopathies by capillary

electrophoresis system Transl Res,152:178–84

Ngày nhận bài báo: 15/08/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w