1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cập nhật các phương pháp điều trị bệnh u Lympho không Hodgkin não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa

10 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 316,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

U lympho không Hodgkin (ULKH) não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa là một biến thể hiếm gặp của u lympho không Hodgkin ngoài hạch. Nguy cơ gây bệnh thường gặp do suy giảm miễn dịch và tình trạng này có thể đóng vai trò sinh bệnh học của bệnh. Mặc dù bệnh nhạy với cả hóa trị và xạ trị, tuy nhiên tiên lượng bệnh xấu hơn nhiều so với u lympho không Hodgkin tế bào B lớn lan tỏa chung. Phương pháp điều trị cơ bản ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa bao gồm hóa trị nền tảng có MTX liều cao phối hợp các tác nhân khác và rituximab. Ghép tế bào gốc tự thân mang lại hiệu quả cao. Xạ trị là phương pháp điều trị hỗ trợ và thay thế khi bệnh nhân không có khả năng hóa trị.

Trang 1

CẬP NHẬT CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH U LYMPHO KHÔNG

HODGKIN NÃO NGUYÊN PHÁT TẾ BÀO B LỚN LAN TỎA

Hoàng Thị Thuý Hà * , Trần Thanh Tùng * , Nguyễn Trường Sơn * , Phạm Quang Vinh **

TÓM TẮT

U lympho không Hodgkin (ULKH) não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa là một biến thể hiếm gặp của u lympho không Hodgkin ngoài hạch Nguy cơ gây bệnh thường gặp do suy giảm miễn dịch và tình trạng này có thể đóng vai trò sinh bệnh học của bệnh Mặc dù bệnh nhạy với cả hóa trị và xạ trị, tuy nhiên tiên lượng bệnh xấu hơn nhiều so với u lympho không Hodgkin tế bào B lớn lan tỏa chung Phương pháp điều trị cơ bản ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa bao gồm hóa trị nền tảng có MTX liều cao phối hợp các tác nhân khác và rituximab Ghép tế bào gốc tự thân mang lại hiệu quả cao Xạ trị là phương pháp điều trị hỗ trợ và thay thế khi bệnh nhân không có khả năng hóa trị

Từ khóa: u lympho không Hodgkin não nguyên phát

ABSTRACT

UPDATE ON THERAPIES FOR PRIMARY CEREBRAL DIFFUSE LARGE B CELL NON-HODGKIN’S LYMPHOMA

Hoang Thi Thuy Ha, Tran Thanh Tung, Nguyen Truong Son, Pham Quang Vinh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 63 – 72

Primary cerebral diffuse large B cell non Hodgkin’s lymphoma is an uncommon variant of extranodal non – Hodgkin lymphoma The most notable risk factor for the development of disease is immunodeficiency and this may play a role in the pathogenesis of primary cerebral lymphoma (PCL) PCL has long been associated with inferior prongosis compared to other aggressive no Hodgkin’s lymphoma even though this disease is sensitive to chemo-radiation therapy The most effective treatment of PCL at this time is high dose methotrexate base therapy in combination with other chemotherapeutic agents and rituximab Autologous stem cell transplantation is an effective treatment Whole brain radiation therapy is an palliative and alternative treatment for chemotherapy- ineligible patients

Key words: primary cerebral diffuse large B cell non-Hodgkin’s lymphoma

ĐẶT VẤN ĐỀ

U lympho không Hodgkin (ULKH) là nhóm

bệnh lý ác tính của tế bào lympho dòng B, T hoặc

NK, có nguồn gốc từ hạch bạch huyết hoặc bất

kỳ cơ quan nào của cơ thể Bệnh xuất hiện ở các

nơi trên thế giới, chiếm khoảng 4% các trường

hợp bệnh lý ung thư ULKH ngoài hạch chiếm tỷ

lệ khoảng 20-40% tổng số bệnh ULKH, thường

gặp nhất ở ống tiêu hoá, gan, đường mật, hệ

thần kinh trung ương, da, vú, tinh hoàn, xương

ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương

là ULKH ngoài hạch xuất phát từ hệ thần kinh trung ương (não, màng não, tuỷ sống, mắt, thần kinh sọ) và không có bất kỳ tổn thương khác ngoài hệ thần kinh ở thời điểm chẩn đoán Trong

đó ULKH não nguyên phát là thể thường gặp nhất, chiếm đến 80% tổng số bệnh ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương

ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương được xem là một bệnh khá hiếm, chiếm 0,007-0,7% tất cả các trường hợp ULKH và khoảng 0,01% ULKH ngoài hạch theo nghiên

*Bệnh viện Chợ Rẫy **Đại học Y Hà Nội

Trang 2

cứu Aozasa và cộng sự năm 1996(2) Tỷ lệ mới

mắc trong dân số chung tăng trong thập niên

1960-1990, đạt đỉnh khoảng giữa những năm

1990 và sau đó giảm dần Có sự biến đổi như

vậy là do có sự thay đổi trong tỷ lệ mới mắc

của HIV-AIDS(12)

Tuổi trung bình khởi phát bệnh khoảng từ

60-70 tuổi Dựa theo nghiên cứu 693 trường hợp

ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương

của Murray, tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 64

tuổi, với hầu hết bệnh nhân (BN) tuổi từ 40-75

tuổi Ngược lại, ở nhóm BN suy giảm hệ miễn

dịch, tuổi trung bình khởi phát thấp hơn nhiều ở

nhóm BN có hệ miễn dịch bảo toàn Tương tự

đặc điểm ULKH chung, tỷ lệ mắc bệnh nam trội

hơn nữ, dao động từ 1.5:1 đến 2:1 tuỳ nghiên

cứu Yếu tố nguy cơ của bệnh được chứng minh

là tình trạng suy giảm miễn dịch (bẩm sinh hoặc

mắc phải, ghép tạng, dùng thuốc ức chế miễn

dịch, nhiễm Epstein Barr virus…)(10)

Tiên lượng bệnh ULKH nguyên phát hệ thần

kinh trung ương rất kém khi so sánh với tiên

lượng của ULKH hệ thống Theo nghiên cứu của

Krogh- Jensen và cộng sự 1995 (Đan Mạch), tỷ lệ

sống còn tại thời điểm 1, 2 và 5 năm sau chẩn

đoán chỉ có lần lượt 53%, 38% và 26% trong thời

kì 1971-1990 Nghiên cứu của Villano 2011 thống

kê nhóm BN tại Mỹ chẩn đoán từ 2000- 2008, tỷ

lệ sống còn tại thời điểm 1, 2 và 5 năm khoảng

51,4%, 42,6% và 31,2%(18,28)

Hầu hết các nghiên cứu đều đánh giá tiên

lượng bệnh dựa vào chỉ số tiên lượng IELSG

(International Extranodal Lymphoma Study

Group) và cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa

giữa chỉ số tiên lượng IELSG với kết quả điều trị

Nó còn giúp cho các bác sĩ lựa chọn phác đồ điều

trị phù hợp với từng cá nhân cụ thể Theo nghiên

cứu của Ferreri 2003, nghiên cứu 105 BN tại

trung tâm Memorial Sloan-Kettering Cancer

Center, BN được chia 3 nhóm: nhóm 1 gồm 33

BN tuổi <50; nhóm 2 gồm 21 BN <50 tuổi và

Karnofsky ≥70; nhóm 3 gồm 51 BN >50 tuổi và

Karnofsky <70 Theo dõi OS tại thời điểm 3 năm

của 3 nhóm trên, kết quả cho thấy: Nhóm 2 tỷ lệ

sống còn 91% ở BN có yếu tố tiên lượng thấp vs 29% ở BN có yếu tố tiên lượng trung bình (p=0,008); Nhóm 3 tỷ lệ sống còn 39% ở BN có yếu tố tiên lượng trung bình và 0% ở BN có yếu

tố tiên lượng cao (p=0,02)(6)

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ ULKH NÃO NGUYÊN PHÁT TẾ BÀO B LỚN LAN TỎA

ULKH não có xu hướng nhạy với cả xạ trị và hóa trị lựa chọn, đặc điểm này khác biệt so với hầu hết các bệnh ác tính hệ thần kinh Vai trò của phẫu thuật rất hạn chế, chủ yếu có giá trị trong chẩn đoán nhất là trong những trường hợp tổn

thương không khu trú (Hình 1)

Những thiếu sót thần kinh và tình trạng giảm chức năng liên quan đến khối u có thể cải thiện rất nhanh chóng nếu đáp ứng điều trị (trong vòng 1-2 chu kì hóa trị hoặc trong khi xạ trị) Bệnh có thể nhạy với corticoid tuy nhiên đáp ứng không kéo dài Vì những lý do trên, những

BN có tình trạng chức năng kém có thể tham gia điều trị thử nghiệm, nhất là những trường hợp đáp ứng sớm với corticoid

Methotrexate (MTX) có thể qua hàng rào máu não, cho đến nay là tác nhân đơn trị có tác dụng nhiều nhất trong ULKH não Do vậy điều trị MTX liều cao là phác đồ điều trị tấn công chủ lực đối với hầu hết các BN

Mục tiêu của điều trị tấn công là đạt được đáp ứng hoàn toàn trên hình ảnh học, hơn một nửa BN có thể đạt đáp ứng trên và những BN này có dư hậu lâu dài cũng tốt hơn những BN chỉ đạt đáp ứng một phần hoặc bệnh ổn định sau hóa tấn công Hầu hết các BN, thậm chí cả BN đạt đáp ứng hoàn toàn, không đạt được sống còn tối ưu chỉ với điều trị hóa tấn công Phác đồ hóa trị duy trì tối ưu chưa được xây dựng vì mọi chiến lược điều trị cũng đều có khả năng làm tăng độc tính Ba phác đồ điều trị duy trì được nghiên cứu và áp dụng bao gồm hóa trị liều cao phối hợp ghép tế bào gốc tự thân, hóa trị không diệt tủy và xạ trị toàn bộ não (whole brain radiotherapy- WBRT) giảm liều Hiện tại cũng chưa có phác đồ điều trị duy trì tối ưu cho BN

Trang 3

lớn tuổi

MTX liều cao là phác đồ khá an toàn cho

BN lớn tuổi và BN suy thận mức độ nhẹ đến

trung bình Liều điều trị được điều chỉnh cho

phù hợp với từng trường hợp cụ thể BN suy

thận nặng (độ thanh thải < 30 ml/phút) không

phù hợp với điều trị MTX, và có thể thay thế

bằng phác đồ khác như cytarabin liều cao,

etoposide, temozolomide và xạ trị WBRT

không được áp dụng trên BN lớn tuổi vì nguy

cơ cao và độc thần kinh, trừ trường hợp đó là

sự lựa chọn cứu vớt

BN có tổn thương mắt và màng não ở thời

điểm chẩn đoán (có triệu chứng hay không), cần

được điều trị đồng thời với tổn thương ở nhu mô

não nhưng được xem như điều trị thêm tại các vị

trí đặc biệt (ví dụ xạ mắt hoặc tiêm MTX nội

nhãn, tiêm kênh tủy với trường hợp thâm nhiễm

màng não)

Phác đồ điều trị tấn công với nền tảng có MTX

liều cao

Lựa chọn phác đồ

Tác dụng của MTX dùng đường toàn thân

đơn độc hay phối hợp với thuốc khác được

chứng minh qua nhiều nghiên cứu hồi cứu và

tiến cứu Đáp ứng hoàn toàn đạt được từ 30-60%

BN điều trị MTX đơn độc hoặc phối hợp Phác

đồ tối ưu có MTX liều cao vẫn còn chưa được

hiểu biết đầy đủ, thực tế có rất nhiều thực hành

lâm sàng khác nhau Trong khi phác đồ MTX

đơn trị đã được chứng minh rõ ràng là có hiệu

quả, một số số liệu liệt kê dưới đây cũng như

kinh nghiệm điều trị bệnh lý huyết học ác tính

khác chứng tỏ phối hợp hóa trị có hiệu quả cao

hơn MTX đơn độc Tuy nhiên phối hợp MTX với

hóa trị cũng làm tăng độc tính(3,11)

Với BN có tổng trạng tốt (ECOG ≤3), khuyến

cáo sử dụng phác đồ MTX liều cao phối hợp hóa

trị: cytarabin, temozolomide, procarbazin và

vincristin BN lớn tuổi với tổng trạng kém nên

điều trị phác đồ MTX đơn độc Rituximab được

khuyến cáo trong tất cả các trường hợp bệnh có

CD 20 dương tính

Phác đồ MTX phối hợp temozolomide

Tác dụng của MTX với temozolomide đã được chứng minh trong nghiên cứu lâm sàng pha II đa trung tâm, nghiên cứu 44 BN mới chẩn đoán(15) BN điều trị tấn công với MTX liều cao toàn thân (8 g/m2) thêm temozolomide và rituximab (MTR) Nếu BN đáp ứng hoàn toàn (complete response-CR) sẽ điều trị duy trì với cytarabin + etoposide Thời gian theo dõi trung bình 4,9 năm, với những kết qủa như sau: 66% đạt CR; thời gian sống còn không tiến triển (progression-free survival- PFS) bệnh trung bình 2,4 năm với tỷ lệ PFS ước tính là 64, 57 và 47% tại thời điểm 1, 2 và 4 năm; tỷ lệ sống còn toàn bộ (overal survival- OS) ước tính 75, 70 và 65% tại thời điểm 1, 2 và 4 năm; 1 trường hợp tử vong trong quá trình điều trị duy trì (do nhiễm khuẩn huyết), do đó tác giả nghiên cứu khuyến cáo cần theo dõi nội trú BN trong và sau điều trị duy trì tích cực khi bạch cầu và tiểu cầu giảm

MTX phối hợp procarbazine và vincristin (MPV)

MPV là phác đồ điều trị tấn công trong một

số thử nghiệm lâm sàng tiến cứu, đối tượng là

BN lớn tuổi

Nghiên cứu đa trung tâm pha II thử nghiệm điều trị rituximab phối hợp MPV (R-MPV), sau

đó hóa duy trì với cytarabin liều cao, WBRT giảm liều (23.4Gy) đối với những BN đạt CR sau hóa R-MPV (60%, n=31); 21 BN còn lại WBRT với liều chuẩn (45Gy)(20) Sau thời gian theo dõi trung bình 5,6 năm, kết quả cho thấy thời gian PFS và

OS là 3,3 và 6,6 năm Không có BN tử vong do độc tính Phác đồ R-MPV phối hợp WBRT giảm liều hoặc không phối hợp xạ cho đến thời điểm hiện tại là nhóm đối chứng trong nghiên cứu NCT01399372

Nghiên cứu đơn trung tâm 52 BN điều trị với phác đồ MPV (MTX liều 3,5 g/m2) sau đó WBRT

và điều trị aracytin liều cao, 87% BN đạt CR, OS trung bình 60 tháng) Ở nhóm BN >60 tuổi, OS của BN có xạ trị và không xạ trị lần lượt là 32 và

33 tháng; độc tính thần kinh muộn gặp ở BN lớn tuổi có xạ trị cao hơn có ý nghĩa thống kê Khi

Trang 4

BN lớn tuổi có WBRT, OS không giảm tuy nhiên

phương pháp này ít được sử dụng do độc tính

liên quan đến điều trị cao

Hình 1 Lưu đồ điều trị ULKH não nguyên phát (4)

HD-MTX: high-dose Methotrexate R: Rituximab WBRT: whole brain radiotherapy (xạ trị não toàn bộ)

HD/HCT: high dose chemotherapy with autologous hemapoetic cell transplantation (hoá trị liều cao và ghép tế bào gốc tự

thân) TMZ: temozolomide

MTX phối hợp cytarabine

Căn cứ của phác đồ MTX phối hợp cytarabin

là một phác đồ cơ bản dựa trên kết quả nghiên

cứu lâm sàng đa quốc gia pha II, trong đó 79 BN

tuổi từ 18-75 tuổi, được phân phối ngẫu nhiên

vào 2 nhóm: nhóm điều trị 4 chu kì MTX liều

3.5g.m2 và nhóm điều trị MTX liều tương tự phối

hợp cytarabine (2g/m2 2 lần /ngày ngày 2,3), chu

kì 3 tuần và tiếp theo là WBRT(8) Kết quả so sánh

với nhóm BN điều trị MTX đơn độc, BN điều trị

MTX phối hợp cytarabine có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê: tỷ lệ đạt CR (46 vs 16%), đáp ứng

toàn bộ ORR cao hơn (69 vs 40%); độc tính huyết

học nặng (độ ¾) cao hơn (92 vs 15%) Sau khi

phân tích bước đầu, xác định biến chứng nhiễm

trùng 32% trong số BN điều trị MTX phối hợp

cytarabine, việc bổ sung yếu tố kích thích tăng

trưởng bạch cầu hạt GCSF và kháng sinh dự phòng được khuyến cáo ở tất cả các BN điều trị

phác đồ phối hợp

MTX, cytarabine và thiotepa phối hợp Rituximab (MATRix)

3 phác đồ phối hợp MTX – cytarabin được phân phối ngẫu nhiên trong thử nghiệm lâm sàng được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu quốc

tế u lympho ngoài hạch(7) Nghiên cứu có 227 BN mới chẩn đoán, phân phối ngẫu nhiên 3 nhóm: nhóm 1 điều trị MTX (3,5 g/m2) phối hợp cytarabine (2 g/m2 2 lần/ ngày x 2 ngày); nhóm 2 điều trị MTX, cytarabin và rituximab; nhóm 3 điều trị MTX, cytarabine, thiotepa (30 mg/m2) và rituximab (MATRix) Kết quả như sau: phác đồ MATRix có tỷ lệ CR cao nhất (49%) và cũng có độc tính huyết học độ 4 cao nhất; kết quả nghiên

Trang 5

cứu sau khi phân phối ngẫu nhiên lần 2 vào

nhóm điều trị củng cố bằng WBRT hoặc hóa trị

liều cao vẫn chưa được báo cáo

MTX đơn trị

Nghiên cứu lâm sàng pha II (New

Approaches for Brain Tumor Therapy

NABATT 96-07) với đối tượng BN mới chẩn

đoán PCNSL được điều trị MTX liều 8 g/m2

tĩnh mạch, trung hòa bằng leucovorin, điều trị

mỗi 14 ngày đến khi đạt CR hoặc tối đa đến 8

chu kì Nếu BN đạt PR hoặc CR đánh giá trên

MRI, BN sẽ điều trị duy trì MTX 8 g/m2 mỗi

tháng liên tục 11 chu kì hoặc đến khi xuất hiện

độc tính hoặc bệnh tiến triển Báo cáo trên 23

BN điều trị với phác đồ trên, kết quả như sau:

tỷ lệ ORR 74% với 12 BN đạt CR và 5 BN đạt

PR; trung bình PFS và OS là 12,8 và 23 tháng;

5/12 BN (40%) đạt CR không có bệnh tiến triển

sau thời gian theo dõi trung bình 6,8 năm

Liều MTX

Khi so sánh kết quả với điều trị MTX liều

thấp, MTX liều cao cho tỷ lệ đáp ứng và sống

còn cao hơn Khoảng liều được khuyến cáo trong

điều trị tấn công từ 3.5 đến 8 g/m2 Điều trị MTX

liều cao cần được tiến hành tại cơ sở có kinh

nghiệm và có phòng xét nghiệm định lượng

được nồng độ MTX Bên cạnh đó, cần chỉnh liều

thuốc theo chức năng thận

Một số nghiên cứu về đáp ứng điều trị phụ

thuộc liều MTX

Nghiên cứu hồi cứu 357 BN, kết quả cho

thấy BN điều trị MTX liều ≥3 g/m2 có OS trung

bình dài hơn có ý nghĩa so với BN điều trị liều <3

64% và cao hơn so với 38% của nhóm BN điều trị

liều thấp MTX

Một vài kết quả tương tự ghi nhận trong báo

cáo nghiên cứu đa trung tâm về sống còn của

370 BN điều trị tại 23 trung tâm khác nhau(9) BN

điều trị xạ trị đơn độc có tỷ lệ sống còn tại thời

điểm 2 năm thấp nhất (23%), trong khi BN điều

trị MTX liều cao phối hợp cytarabin có tỷ lệ sống

còn cao nhất (64%)

Rituximab

Mặc dù kháng thể đơn dòng kháng CD 20 (rituximab) cải thiện sống còn trên BN ULKH

hệ thống và phần lớn ULKH não nguyên phát

có biểu hiện CD 20, hiệu quả điều trị của rituximab trong điều trị ULKH não nguyên phát chưa được khẳng định vững chắc và rộng

vì tỷ lệ bệnh hiếm và thực hiện một thử nghiệm lâm sàng phân phối ngẫu nhiên cũng rất khó khăn Khả năng vượt qua hàng rào máu não của rituximab cũng còn nhiều tranh cãi Dựa trên những chứng cứ tin cậy, sử dụng rituximab thường qui trong điều trị lymphoma hệ thống, hầu hết các trung tâm ung thư tại Mỹ đồng thuận sử dụng rituximab trong điều trị ban đầu Ngược lại, hướng dẫn điều trị của hội ung thư thần kinh châu Âu khuyến cáo chỉ sử dụng rituximab trong các thử nghiệm lâm sàng Liệu trình điều trị rituximab phối hợp hóa trị là mỗi tuần một lần trong 6 chu kì đầu tiên của hóa trị tấn công, hoặc điều trị rituximab vào ngày 1 và ngày 15 của chu kì 28 ngày và điều trị đến 8 chu kì Các nghiên cứu hồi cứu và nghiên cứu tiến cứu đối tượng BN tái phát chứng minh rituximab có hiệu quả trong điều trị ULKH não nguyên phát, mặc dù khả năng thâm nhập vào

hệ thần kinh trung ương không chắc chắn Hơn nữa, một vài nghiên cứu hồi cứu chứng minh hóa trị MTX liều cao phối hợp rituximab dung nạp tốt và cải thiện đáp ứng so với phác đồ không có rituximab

Nghiên cứu của Holdhoff M và cộng sự (2014), trong số 81 BN (nhóm 1 điều trị MTX liều cao đơn độc, nhóm 2 điều trị phối hợp MTX+ Rituximab) cho kết quả: tỷ lệ CR nhóm 1 là 36%

so với 73% nhóm BN số 2 (p=0,01); thời gian PFS

1 là 4.5 tháng so với 26,7 tháng ở nhóm 2 (p=0,003)(13)

Số chu kì hóa trị trung bình của MTX để đạt được CR trung bình từ 6-8 chu kì ở đa số các trường hợp Một vài ca bệnh, không đạt CR do hóa trị không đủ số chu kì hóa tấn công và CR có thể đạt được sau khi thêm vài chu kì hóa trị nữa

Trang 6

Để đạt được đáp ứng tối ưu, có thể hóa trị từ

10-12 chu kì MTX liều cao

Điều trị củng cố

Trong khi điều trị MTX liều cao tấn công có

thể kéo dài OS so với WBRT đơn độc, có ít nhất

một nửa BN đạt CR sẽ tái phát trong vòng 5

năm Một giả thuyết đó là tái phát muộn do phát

triển từ những tế bào ác tính tồn lưu trong cơ thể

mà ở mức thấp không phát hiện được bằng kỹ

thuật đếm tế bào dòng chảy máu ngoại vi và

phối hợp PET-CT

Hóa trị không diệt tủy và hóa trị liều cao

được củng cố bởi ghép tế bào gốc tạo máu tự

thân là hai biện pháp chính được nghiên cứu

nhằm loại bỏ bệnh tồn lưu tối thiểu Phương

pháp này hướng đến đối tượng bệnh nhân trẻ,

có tổng trạng tốt và đạt CR sau hóa tấn công

WBRT là điều trị củng cố thay thế ở BN trẻ,

nhất là những BN có chống chỉ định hóa trị liều

cao, xạ trị cũng cải thiện PFS tuy nhiên không cải

thiện về OS so với nhóm BN chỉ hóa trị tấn công

Điều trị củng cố tối ưu ở BN lớn tuổi thường

không được nghiên cứu vì lý do tăng nguy cơ tái

phát và độc tính của hóa trị liều cao và xạ trị

Một số nghiên cứu về hóa trị liều cao và

ghép tế bào gốc ở BN mới chẩn đoán ULKH não

nguyên phát đã gợi ý rằng phương pháp điều trị

này khả thi và có thể kiểm soát bệnh tốt hơn:

- Nghiên cứu của Kasenda B và CS (2012),

báo cáo 43 BN được điều trị hóa tấn công với

MTX liều cao và củng cố carmustin/thiotepa liều

cao sau đó ghép tế bào gốc có hoặc không có

WBRT(16) Sau điều trị tấn công, 34 BN đạt CR

Sau thời gian theo dõi 10 năm, OS ước tính ở thời

điểm 2 và 5 năm là 81 và 70%, thời gian sống

trung bình 8,5 năm

- Nghiên cứu đa trung tâm của Illerhaus G

và CS (2012), có 79 BN dưới 65 tuổi mới chẩn

đoán bệnh điều trị tấn công với MTX (8g/m2),

cytarabin, thiotepa và rituximab, tiếp theo hóa

liều cao carmustin/thiotepa và ghép tế bào gốc tự

thân(14) Chỉ những BN không đạt CR sau ghép tế

bào gốc (n=10) được WBRT Đánh giá 76 BN cho

kết quả: 27% đạt CR sau hóa tấn công, 77% sau ghép tế bào gốc Sau thời gian theo dõi 29 tháng,

tỷ lệ OS tại 1 năm và 2 năm là 92 và 87% Có 5 trường hợp tử vong liên quan đến điều trị

Tái phát muộn có thể xảy ra ở trên những

BN hóa trị liều cao củng cố, do vậy phác đồ điều kiện hóa tối ưu cho đến nay cũng chưa xác định được Độc tính của hóa trị diệt tủy bao gồm giảm bạch cầu hạt trung tính và giảm tiểu cầu độ 3-4, sốt giảm bạch cầu hạt xảy ra ở gần một nửa số

BN, tỷ lệ tử vong liên quan đến điều trị từ 2-5% Tác dụng phụ trên cũng không cao hơn BN ULKH ngoài hệ thần kinh trung ương hóa liều cao và ghép tế bào gốc tự thân

- Nghiên cứu của Schorb E và cộng sự (2013), hồi cứu 105 BN ghép tế bào gốc trong thời gian 1997-2011, thời gian PFS và thời gian OS là 85 và

121 tháng, OS tại thời điểm 2 năm và 5 năm là 82% và 79%(25)

ULKH não nguyên phát rất nhạy với xạ trị, nhưng sử dụng phương pháp này trong điều trị ban đầu đã được cảnh báo theo thời gian vì hóa trị tấn công đã được tối ưu hóa và các nghiên cứu đã không chứng tỏ được hiệu quả của WBRT củng cố vì nó làm tăng nguy cơ độc tính Nghiên cứu pha III của Korfel A và CS (2015) gồm 551 BN mới chẩn đoán, được phân nhóm ngẫu nhiên: nhóm điều trị 6 chu kì hóa trị (MTX4g/m2 có hoặc không có ifosfamide), nhóm

2 hóa tương tự phối hợp WBRT (45Gy/liều; 1,5Gy/liều) 66 BN (13%) BN tử vong trong khi hóa trị ban đầu 410 BN hoàn thành hóa trị bước

1, kết quả như sau(17): thời gian theo dõi 81 tháng,

BN nhận WBRT cải thiện PFS không có ý nghĩa thống kê (18,2 vs 11,9 tháng; HR 0,83; p=0,14), không có sự khác biệt OS (35,6 vs 37,1 tháng) khi

so sánh với BN không xạ trị; tỷ lệ BN xạ trị trì hoãn điều trị do độc tính cao hơn nhóm BN không xạ (71 vs 46%) Bên cạnh đó BN xạ trị có tổng trạng, chức năng nhận thức kém hơn và tác dụng phụ nhiều hơn nhóm BN không xạ (sa sút trí tuệ, tổn thương chất trắng, suy giảm chức năng nhận thức, mất điều hòa và vận động

Trang 7

không tự chủ)

Thêm nữa, xạ trị cũng là phương pháp điều

trị thay thế liệu pháp bước 2 trên BN không đạt

được đáp ứng hoàn toàn sau hóa tấn công, và

cũng là phương pháp điều trị cứu vớt BN có

chống chỉ định hóa trị hoặc tái phát, kháng trị

Điều trị hỗ trợ

Glucocorticoid

Đáp ứng ban đầu của BN ULKH có thể cao

đến 70% tuy nhiên những cải thiện triệu chứng

và hình ảnh thường thoáng qua, bệnh thường

xuất hiện trở lại trong vòng vài tháng sau khi

ngưng thuốc Điều trị corticoid có thể làm chậm

hoặc gây sai lệch chẩn đoán và biến đổi hình thái

mô bệnh học khối u, nên tuyệt đối không được

sử dụng thuốc trước khi làm xét nghiệm giải

phẫu bệnh Nếu thực sự cần thiết, BN có triệu

chứng phù não hoặc tăng áp lực nội sọ, có thể sử

dụng mannitol Dexamethasone là thuốc thường

được sử dụng khi chuẩn bị điều trị, với liều 4 mg

uống 4 lần/ngày Nếu dự định xạ trị, corticoid

cần sử dụng liên tục đủ liều đến khi xạ trị kết

thúc, sau đó có thể giảm liều dần Sử dụng

glucocorticoid kéo dài có thể dẫn đến suy giảm

miễn dịch và làm tăng nguy cơ nhiễm trùng Cần

lưu ý ở những BN đang hóa trị vì làm tăng nguy

cơ vì BN có thể giảm bạch cầu hạt do hóa trị kèm

theo BN điều trị dexamethasone liều cao trong

thời gian dài hơn 2-3 tuần cần được dùng kháng

sinh dự phòng chống viêm phổi do

pneumocystis carini;

trimethoprim-sulfamethasone cần tránh sử dụng khi phối hợp

MTX vì cả hai thuốc trên ảnh hưởng đến chuyển

hóa folate

Chống co giật

BN ULKH não có nguy cơ co giật, nhưng

điều trị chống co giât dự phòng không có tác

dụng giảm tần số và mức độ co giật, và còn có

phản ứng tương tác có hại với các thuốc độc tế

bào và corticoid, chỉ điều trị chống co giật cho

những bệnh nhân có triệu chứng

Điều trị những trường hợp đặc biệt

Bệnh nhân suy thận

MTX liều cao khá an toàn trên BN suy thận nhẹ đến trung bình nếu như được giảm liều một các thích hợp MTX không được sử dụng trên

BN có độ lọc cầu thận (CrCL) <30 ml/phút Một nghiên cứu hồi cứu khảo sát cách sử dụng MTX liều cao (3,5 g đến 8 g/m2) trên 31 BN lớn tuổi (trung bình 74 tuổi), có nhiều BN suy thận(30) Tổng số có 88 chu kì sử dụng MTX giảm liều vì CrCL thấp Tỷ lệ đáp ứng là 97% (60% đáp ứng hoàn toàn) Độc tính mức độ nặng (độ 3-4) thấp, bao gồm độc tính huyết học (7%), rối loạn tiêu hóa (3%), biến chứng tim (3%) và không có độc tính trên thận độ 3-4

Đối với BN suy thận nặng không phù hợp hóa trị MTX liều cao vì có khả năng làm giảm chức năng thận hơn, thường chỉ định hóa trị thay thế như temozolomide và rituximab, cytarabine liều cao, hoặc thuốc kháng folate khác ngoài MTX hoặc hóa trị liều cao và ghép tế bào gốc Trường hợp BN có tiên lượng xấu, có thể điều trị giảm nhẹ bằng WBRT hoặc glucocorticoid đơn trị

Bệnh nhân nhiễm HIV

ULKH não nguyên phát là bệnh lý ác tính liên quan đến suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), đặc biệt ở BN có CD 4 <50 tế bào/microL BN có HIV thường điều trị với hóa trị có MTX phối hợp kháng virus, có thể

có hoặc không có WBRT

Tổn thương phối hợp u lympho màng não

Phương pháp điều trị phổ biến nhất là tiêm MTX kênh tủy liều 12,5 mg2 lần/tuần đến khi tế bào ác tính trong dịch não tủy âm tính, sau đó tiêm ít nhất 2 lần nữa MTX liều cao toàn thân được điều trị song song, nồng độ duy trì trong dịch não tủy thường phải đạt từ 10-5 đến 10-6

phân tử trong 36 giờ

Liệu pháp điều trị thay thế gồm tiêm kênh tủy cytarabine phóng thích chậm, 4 hydroxyperoxycyclophosphamide hoặc hóa trị toàn thân (carmustine, vincristine, MTX liều cao,

Trang 8

etoposide và methylprednisolon) Xạ trị thường

sử dụng để điều trị cứu vớt bệnh tái phát hoặc

điều trị ổ di căn của u lympho hệ thống Tiêm

nội tủy rituximab đang được nghiên cứu ở BN

ULKH não tế bào B có tổn thương màng não

Điều trị bệnh tái phát hoặc kháng trị

Xạ trị não được chỉ định ở BN không đáp

ứng với MTX hoặc trong trường hợp bệnh tái

phát không đáp ứng với điều trị lại MTX hoặc

hóa trị thay thế

Điều trị ULKH não nguyên phát tái phát

kháng trị rất hạn chế Sau đây là một số

phương pháp:

Điều trị lại MTX (liều 3-8 g/m2) hoặc hóa trị

phối hợp MTX nếu BN trước đó đã đạt đáp ứng

với phác đồ trên, thông thường BN có đáp ứng

thứ phát cao với MTX

Hóa trị thay thế (cytarabine liều cao có hoặc

không có etoposide, temozolomide, thiotepa) và

hóa trị liều cao kết hợp ghép tế bào gốc tự thân

WBRT ở BN trước đó chưa xạ trị Xạ phẫu là

một lựa chọn ở BN đã có WBRT trước đó

Thay đổi phác đồ với MTX

Những BN đã điều trị MTX đơn độc, lặp lại

điều trị MTX liều cao có thể đạt được lui bệnh

hoàn toàn trên 50% trường hợp

Nghiên cứu của Plotkin SR và CS (2004) báo

cáo BN đạt CR sau hóa trị lại MTX liều cao ở

16/22 BN tái phát lần đầu, 2/4 BN tái phát lần 2

OS trung bình 62 tháng sau tái phát lần 1 Độc

tính huyết học gặp nhiều nhất, 10 chu kì độ 3-4

trong tổng số 566 chu kì MTX(21)

Phác đồ hóa trị cứu vớt khác

Cytarabine liều cao

Đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc độc

tế bào khác đạt CR ở 40-70% BN tái phát

kháng trị Cytarabin liều cao phối hợp

etoposide đạt tỷ lệ đáp ứng 47% trong tổng số

43 BN tái phát kháng trị, 15 BN trong số đó

điều trị hóa trị liều cao phối hợp ghép tế bào

gốc trong nghiên cứu của Soussain C và CS

(2008) OS trung bình là 18,3 tháng(27)

Temozolomide phối hợp rituximab

Một số ca lâm sàng đánh giá tác dụng của temozolomide phối hợp rituximab:

Báo cáo của Enting RH (2004), điều trị 15 BN tái phát kháng trị với rituximab và temozolomide, kết quả: ORR đạt 53%, OS đạt 14 tháng, PFS 7,7 tháng(5)

Báo cáo của Wong ET (2004), điều trị 7 BN tái phát kháng trị với rituximab và temozolomide Kết quả có 5 BN đạt CR, 2 BN PR OS trung bình

8 tháng (3-12 tháng), thời gian đáp ứng trung bình 6 tháng(29)

Pemetrexed

Pemetrexed là một thuốc kháng folate nhắm nhiều đích với phổ tác dụng rộng hơn MTX Sử

dụng pemetrexed còn đang trong thực nghiệm

Một nghiên cứu nhỏ tiến cứu đánh giá sử dụng Pemetrexed trên 11 BN tái phát kháng trị, có 6

BN (55%) có đáp ứng trong đó 4 BN (36%) đạt

CR PFS và OS trung bình 5,7 và 10,1 tháng(22)

Thuốc khác

Một số tác nhân khác đang được điều trị thử nghiệm trên BN ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương tái phát kháng trị như lenalodimide, ibrutinib, temsirolimus và một số

thuốc ức chế chốt miễn dịch

Ghép tế bào gốc

Dữ liệu nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc

ở BN tái phát kháng trị rất hạn chế Một số báo cáo về kết quả của phương pháp điều trị trên:

- Nghiên cứu pilot 22 BN, hóa trị liều cao (thiotepa, busulfan, cyclophosphamide) và ghép

tế bào gốc tự thân, kết quả OS 3 năm là 60%(26)

- Nghiên cứu của Soussain C và CS (2008), 43

BN điều trị 2 chu kì cytarabine liều cao phối hợp etoposide, sau đó hóa trị thiotepa, busulfan, cyclophosphamide và ghép tế bào gốc tự thân Kết quả có 3 BN tử vong do sốc nhiễm trùng hoặc hoại tử mạc treo Thời gian theo dõi trung bình 36 tháng, OS trung bình là 18,3 tháng Tỷ lệ

OS và PFS 2 năm là 45 và 43%(26)

Trang 9

Xạ trị

WBRT vẫn còn là biện pháp điều trị cứu vớt

hợp lý ở BN không đạt được đáp ứng tốt sau hóa

tấn công WBRT phối hợp corticoid có thể dùng

như một phương pháp điều trị thay thế ở những

BN không có khả năng hóa trị

Đáp ứng hoàn toàn trên hình ảnh và lâm

sàng có thể đạt được khi BN xạ trị với liều chuẩn

20-40 Gy Dù đạt được đáp ứng khá nhanh

nhưng bệnh có nguy cơ tái phát trên 90% BN

trong vòng 1 năm, OS trung bình ở BN dưới 60

tuổi và trên 60 tuổi là 23 vs 6-8 tháng(19) Độc tính

thần kinh thường xuất hiện trên BN xạ trị với

liều tổng >36Gy

Tiên lượng

ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương

nếu không điều trị sẽ tử vong nhanh chóng,

trung bình 1,5 tháng kể từ sau khi chẩn đoán Xạ

trị toàn bộ não giúp kéo dài thời gian sống

khoảng 10 – 18 tháng, kèm theo đó là những biến

chứng trễ đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi,

do đó gây giảm chất lượng cuộc sống Hóa trị có

thể đạt được OS trung bình đến 44 tháng, sống

còn tại thời điểm 5 năm gặp ở 30% Mặc dù

những phương pháp điều trị hiện tại có thể kéo

dài thời gian sống của BN, đa số BN không được

chữa khỏi Sống còn kéo dài có thể đạt được

15-20% BN điều trị với hóa trị có MTX đơn độc hoặc

phối hợp xạ trị Kháng trị với MTX cũng là một

yếu tố tiên lượng bệnh xấu Những BN kháng

MTX thường có bất thường gen methylat hóa

folate, và những BN này thường sống không quá

3 năm

KẾT LUẬN

ULKH não nguyên phát là bệnh hiếm gặp

của ULKH ngoài hạch Nguy cơ gây bệnh

thường gặp do suy giảm miễn dịch và tình

trạng này có thể đóng vai trò sinh bệnh học

của bệnh Cần đánh giá tuổi, tổng trạng, chức

năng thận của BN để lựa chọn phương pháp

điều trị thích hợp

Phương pháp điều trị cơ bản ULKH não

nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa bao gồm hóa trị

nền tảng có MTX liều cao phối hợp các tác nhân khác và rituximab Ghép tế bào gốc tự thân mang lại hiệu quả cao Xạ trị là phương pháp điều trị hỗ trợ và thay thế khi BN không có khả năng hóa trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abrey LE, Yahalom J, DeAngelis LM (2000), Treatment for

primary CNS lymphoma: the next step J Clin Oncol, 18:3144-

3160

lymphoma of the central nervous system in Japan: histologic

and immunohistologic studies, Int J Cancer, 45:632-636

3 Batchelor T, Carson K, O'Neill A, et al (2003) Treatment of primary CNS lymphoma with Methotrexate and Deferred

Radiotherapy: A report of NABTT J Clin Oncol, 21:1044-1049

4 Batchelor T, et al (2018) Treatment and prognosis of primary

http://www.uptodate.com/contents/ treatment- and- prognosis- of- primary- central- nervous- system- lymphoma

Salvage therapy for primary CNS lymphoma with a

combination of rituximab and temozolomide Neurology,

63:901-906

6 Ferreri AJ, Blay JY, Reni M, et al (2003) Prognostic scoring system for primary CNS lymphomas: The International

Extranodal Lymphoma Study Group experience J Clin Oncol,

21(2):266 - 272

thiotepa, and rituximab (MATRix regimen) in patients with primary CNS lymphoma: results of the first randomisation of the International Extranodal Lymphoma Study Group-32

(IELSG32) phase 2 trial Lancet Haematol, 3(5):e217-27

8 Ferreri AJ, Reni M, Foppoli M, et al (2009) High-dose cytarabine plus high-dose methotrexate versus high-dose methotrexate alone in patients with primary CNS lymphoma: a

randomised phase 2 trial Lancet, 374(9700):1512-1520

9 Ferreri AJ, Reni M, Pasini F, et al (2002) A multicenter study of

treatment of primary CNS lymphoma, Neurology, 58:1513-1522

10 Fine HA, Mayer RJ (1993) Primary central nervous system

lymphoma Ann Intern Med, 119:1093-1102

11 Herrlinger U, Küker W, Uhl M, et al (2005) NOA-03 trial of high-dose methotrexate in primary central nervous system

lymphoma: final report Ann Neurol, 57:843-848

12 Hoffman S, Propp JM, Mc Carthy BJ (2006) Temporal trends in incidence of primary brain tumor in the United States

1985-1999 Neuro Oncol: 8-27

13 Holdhoff M, Ambady P, Abdelaziz A (2014) High dose Methotrexate with or without Rituximab in Newly diagnosed

primary CNS lymphoma Neurology, 83:235 - 239

14 Illerhaus G, Fritsch K, Egerer G, et al (2012) Sequential high

peripheral blood stem cell transplantation for patients with untreated primary central nervous system lymphoma - a multicentre study by the colloaborative PCNSL study group

Freiburg (abstract #302) Blood, pp.120-140

15 James LR, Eric DH, Jeffrey LG et al (2013) Intensive Chemotherapy and Immunotherapy in Patients with Newly

Trang 10

Diagnosed Primary CNS Lymphoma: CALGB 50202 (Alliance

50202) Journal of Clinical Oncology, 31(25):3061-3068

16 Kasenda B, Schorb E, Fritsch K, et al (2012) Prognosis after

high-dose chemotherapy followed by autologous stem-cell

transplantation as first-line treatment in primary CNS

lymphoma a long-term follow-up study Ann Oncol,

23:2670-2679

17 Korfel A, Thiel E, Martus P et al (2015) Randomized phase III

study of whole-brain radiotherapy for primary CNS

lymphoma Neurology, 84:1242-8

18 Krogh-Jensen M, D’Amore F, Jensen MK, et al (1995)

Clinicopathological features, survival and prognostic factors of

primary central nervous system lymphomas: trends in

incidence of primary central nervous system lymphomas and

primary malignant brain tumors in a well-defined

geographical area Leuk Lymphoma, 19:223–233

19 Laack NN, Ballman KV, Brown PB, et al (2006) Whole-brain

radiotherapy and high-dose methylprednisolone for elderly

patients with primary central nervous system lymphoma:

Results of North Central Cancer Treatment Group (NCCTG Int

J Radiat Oncol Biol Phys, 65:1429-1433

20 Morris PG, Correa DD, Yahalom J, et al (2013) Rituximab,

methotrexate, procarbazine, and vincristine followed by

consolidation reduced-dose whole-brain radiotherapy and

cytarabine in newly diagnosed primary CNS lymphoma: final

results and long-term outcome J Clin Oncol, 31:3971-4001

21 Plotkin SR, Betensky RA, Hochberg FH, et al (2004) Treatment

of relapsed central nervous system lymphoma with high-dose

methotrexate Clin Cancer Res, 10:5643-5659

22 Raizer JJ, Rademaker A, Evens AM, et al (2012) Pemetrexed in

the treatment of relapsed/refractory primary central nervous

system lymphoma Cancer, 118:3743-3757

23 Reni M, Ferreri AJ, Guha-Thakurta N, et al (2001) Clinical

relevance of consolidation radiotherapy and other main

therapeutic issues in primary central nervous system

lymphomas treated with upfront high-dose methotrexate Int J

Radiat Oncol Biol Phys, 51:419-420

24 Rock JP, Cher L, Hochberg FH, et al (1996) Primary CNS lymphoma In: Neurological surgery, 4th ed, Yomans JR (Ed)

WB Saunders, Philadelphia

25 Schorb E, Kasenda B, Atta J, et al (2013) Prognosis of patient with primary CNS lymphoma after high- dose chemotherapy

Heamatologica, 98:765-770

26 Soussain C, Suzan F, et al (2001) Results of intensive chemotherapy followed by hematopoietic stem-cell rescue in 22 patients with refractory or recurrent primary CNS lymphoma

or intraocular lymphoma J Clin Oncol, 19:742-745

27 Soussain C, Taillandier L, et al (2008) Intensive chemotherapy followed by hematopoietic stem-cell rescue for refractory and recurrent primary CNS and intraocular lymphoma: SociétéFrançaise de Greffe de Moëlle Osseuse-Thérapie

Cellulaire J Clin Oncol, 26:2512-2526

28 Villano JK, et al (2011) Age: gendre, and radical differences in

incidence and survival in primary CNS lymphoma, Br J Cancer,

105(9):1414-1418

Immunochemotherapy with rituximab and temozolomide for

central nervous system lymphomas Cancer, 101(1):139

30 Zhu JJ, Gerstner ER, Engler DA, et al (2009) High-dose methotrexate for elderly patients with primary CNS

lymphoma Neuro Oncol, 11, 211-212

Ngày đăng: 09/02/2020, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w