1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biến cố bất lợi trên bệnh nhân u lympho không Hodgkin não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa điều trị với Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab tại bệnh viện Chợ Rẫy

9 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 348,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

U lympho không Hodgkin (ULKH) não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa là một biến thể hiếm gặp của ULKH ngoài hạch. Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab là phương pháp điều trị có hiệu quả và an toàn.

Trang 1

BIẾN CỐ BẤT LỢI TRÊN BỆNH NHÂN U LYMPHO KHÔNG HODGKIN

NÃO NGUYÊN PHÁT TẾ BÀO B LỚN LAN TỎA ĐIỀU TRỊ VỚI METHOTREXATE LIỀU CAO PHỐI HỢP RITUXIMAB

TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Hoàng Thị Thuý Hà * , Trần Thanh Tùng * , Nguyễn Trường Sơn ** , Phạm Quang Vinh ***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: U lympho không Hodgkin (ULKH) não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa là một biến thể

hiếm gặp của ULKH ngoài hạch Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab là phương pháp điều trị có hiệu

quả và an toàn

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng gồm 73 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán ULKH não

nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa, đồng ý hóa trị phác đồ Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab Nghiên cứu

mô tả tiến cứu

Kết quả: Trong 3 năm 2015-2017, chúng tôi điều trị 73 bệnh nhân ULKH não nguyên phát bằng phác đồ

Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab ghi nhận kết quả như sau: tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn và đáp ứng toàn bộ sau hóa trị là 60,3% và 79,5% Biến cố bất lợi thường gặp ở mức độ 1-2 và kiểm soát được như tổn thương niêm mạc, tác dụng phụ toàn thân ( nôn/ buồn nôn, mệt mỏi), tăng men gan chủ yếu mức độ 1 - 2 Tổn thương thận cấp gặp ở 4,1% BN và hồi phục hoàn toàn sau ngưng thuốc Nhiễm trùng gặp tỷ lệ khá cao đặc biệt là nhiễm trùng hầu họng, nhiễm trùng đường tiểu dưới, viêm phổi (36,8%)

Kết luận: Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab là phác đồ có hiệu quả và dung nạp tốt

Từ khóa: u Lympho không Hodgkin não nguyên phát, biến cố bất lợi

ABSTRACT

ADVERSE EVENTS OF HIGH DOSE METHOTREXATE IN COMBINATION WITH RITUXIMAB FOR TREATMENTE OF NEWLY DIAGNOSED PRIMARY CEREBRAL DIFUSE LARGE B CELL

LYMPHOMA AT HEMATOLOGY DEPARTMENT IN CHO RAY HOSPITAL

Hoang Thi Thuy Ha, Tran Thanh Tung, Nguyen Trunog Son, Pham Quang Vinh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 489 - 496

Background: Primary cerebral diffuse large B cell lymphoma is an uncommon variant of extranodal non – Hodgkin lymphoma High – dose Methotrexate combined with Rituximab is a safe and effective therapy

Method: Subject: 73 Patients who have been diagnosed to be affected by primary cerebral lymphoma, agreed

to use chemotherapy by high – dose Methotrexate with Rituximab regimen Research method: prospective

descriptive study

Results: From 2015 to 2017, we have researched 73 patients of primary cerebral lymphoma, treated by high – dose Methotrexate with Rituximab regimen, with following result: the rate of complete and overall response was

60,3 % and 79.5% respectly The major adverse events were grade 1-2 and controllable including mucitis, general disordes (nausea/ vomiting, fatigue), liver toxicities grade 1-2 Acute kidney injury were identified in 4.1% and completely recovered High prevalance of infection were observed including mucosal, urinary tract infection and

pneumonia (36.8%)

*Bệnh viện Chợ Rẫy **Bộ Y tế ***Đại học Y Hà Nội

Tác giả liên lạc: ThS.BS Hoàng Thị Thúy Hà ĐT: 0908456307 Email: thuyhado@yahoo.com.vn

Trang 2

Conclusion: High – dose Methotrexate combined with Rituximab showed a good efficacy and safety profile

in management of primary cerebral diffuse large B cell lymphoma

Keywords: primary cerebral diffuse large B cell Lymphoma, adverse event

ĐẶT VẤN ĐỀ

U lympho không Hodgkin (ULKH) nguyên

phát hệ thần kinh trung ương là một biến thể

không phổ biến của ULKH ngoài hạch, biểu hiện

ở não, màng não mềm, mắt hay tủy sống mà

không có bất kỳ dấu hiệu nào của ULKH hệ

thống và được xem là một bệnh khá hiếm,

khoảng 0,01% ULKH ngoài hạch theo nghiên

cứu Aozasa và cộng sự năm 1996 Theo thống kê

hàng năm có khoảng 2,5 – 30 trường hợp mới

mắc/10 triệu người

ULKH nguyên phát hệ thần kinh trung ương

nếu không điều trị sẽ tử vong nhanh chóng,

trung bình 1,5 tháng kể từ sau khi chẩn đoán Xạ

trị toàn bộ não giúp kéo dài thời gian sống

khoảng 10 – 18 tháng, kèm theo đó là những

biến chứng trễ đặc biệt ở những bệnh nhân (BN)

lớn tuổi, do đó gây giảm chất lượng cuộc sống

Tuy nhiên thời gian sống trung bình sẽ tăng lên

42 tháng nếu được hóa trị kết hợp hoặc hóa trị

đơn thuần Mặc dù có nhiều phác đồ hóa trị giúp

kéo dài thời gian sống nhưng bệnh vẫn không

chữa khỏi, có khuynh hướng tái phát và thậm

chí gây tử vong Methotrexate (MTX) có thể qua

hàng rào máu não, cho đến nay là tác nhân đơn

trị có tác dụng nhiều nhất trong ULKH hệ thần

kinh trung ương Ferreri AJ, Shibamoto Y chứng

minh rằng nhiều phác đồ hóa trị phối hợp với

MTX liều cao (≥500 mg/m2) hoặc MTX liều cao

đơn thuần có hiệu quả hơn trong việc kéo dài

thời gian sống và chất lượng cuộc sống của BN

so với những phác đồ không có MTX

Rituximab- liệu pháp điều trị nhắm đích với

mục tiêu là kháng nguyên CD20 có mặt ở BN

ULKH tế bào B Kết quả điều trị của ULKH đã

được cải thiện đáng kể trong những năm gần

đây kể từ kỷ nguyên Rituximab Nhiều nghiên

cứu cho thấy điều trị ULKH nguyên phát hệ

thần kinh trung ương với MTX liều cao phối hợp

Rituximab mang lại hiệu quả cao hơn so với điều

trị MTX đơn độc(4,10)

ULKH não nguyên phát chiếm đến 80% ULKH nguyên phát hệ thần kinh với đặc điểm

mô bệnh học chủ yếu là tế bào B lớn lan toả Số

BN mới hàng năm chẩn đoán ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa tại Khoa Huyết học- bệnh viện Chợ Rẫy chiếm khoảng 4% tổng

số BN ULKH mới Tỷ lệ này có xu hướng tăng dần và đây cũng là tỷ lệ khá cao so với dịch tễ chung (0,4% ULKH) Từ năm 2008, Khoa Huyết học Bệnh viện Chợ Rẫy đã bắt đầu áp dụng phác

đồ hoá trị MTX liều cao điều trị bệnh từ một vài trường hợp/năm Đến nay, phác đồ hoá trị MTX liều cao phối hợp với Rituximab đã là một phương pháp điều trị thường qui ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa và đã mang lại hiệu quả cao hơn những phương pháp điều trị trước đây

MTX liều cao là phác đồ khá an toàn, tuy nhiên MTX liều cao cũng có một số biến cố bất lợi, đặc biệt là gây độc thận, loét niêm mạc, suy tủy, viêm gan và độc tính thần kinh Tổn thương thận cấp do hoại tử ống thận gây ra bởi MTX liều cao thường hiếm gặp, tỷ lệ khoảng 2-4% nhưng là biến chứng nghiêm trọng đe dọa tính mạng Do vậy lựa chọn liều thuốc phù hợp trên mỗi trường hợp bệnh, đặc biệt là bệnh nhân lớn tuổi, chức năng thận giảm, đòi hỏi các bác sĩ lâm sàng cần có kiến thức và kinh nghiệm Bên cạnh

đó, việc theo dõi sát những tác dụng không mong muốn rất quan trọng có ý nghĩa trong quyết định giảm liều hoặc ngưng thuốc Ngoài

ra khi chỉ định MTX liều cao cho bệnh nhân, cần phải bù đủ nước- điện giải, kiềm hóa nước tiểu, trung hòa MTX bằng leucovorin để giảm thiểu tác dụng phụ của thuốc(8)

Rituximab đơn trị được chứng minh an toàn trên bệnh nhân, ngoài tỷ lệ nhỏ gây ra những biến cố sớm liên quan đến tiêm truyền, cần lưu ý thuốc có thể gây tái hoạt viêm gan B ở những

BN có HBsAg hoặc anti- HBc dương tính

Trang 3

Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài này với mục tiêu “Đánh giá

những biến cố bất lợi trên bệnh nhân ULKH não

nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa điều trị với

Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab tại

bệnh viện Chợ Rẫy”

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

BN đến điều trị tại khoa Huyết học BV Chợ

Rẫy với chẩn đoán ULKH não nguyên phát tế

bào B lớn lan tỏa, đồng ý hóa trị phác đồ

Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab

Tiêu chuẩn loại trừ

Độ lọc cầu thận < 60ml/phút BN chống chỉ

định đa dịch truyền

Tràn dịch màng phổi, màng bụng, màng tim

hoặc phù chi

AST, Alkaline Phosphatase hoặc bilirubin > 2

lần giới hạn trên bình thường

Anti – HIV (+)

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Tiến cứu mô tả cắt ngang Thời gian từ tháng

1/2015 đến tháng 12/2017

Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu:

Trong đó:

n số BN tham gia vào NC, chọn p = 95%

Z( 1- α/2): hệ số giới hạn độ tin cậy 95%, tra

bảng Z( 1- α/2) = 1,96(α = 0,05)

p: tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trung bình là

p=50%; d: độ chính xác tuyệt đối của p, chấp

nhận d = 10%

Từ công thức trên tính được: n = 49 Vậy cỡ

mẫu tối thiểu là 49

Phương pháp thực hiện

Chẩn đoán xác định bệnh

Sinh thiết (mổ lấy trọn khối u, bán phần,

khung định vị 3 chiều) khảo sát giải phẫu bệnh

lý, hóa mô miễn dịch tế bào

Khảo sát loại trừ vị trí tổn thương nguyên phát: CT - Scan, MRI, PET- CT, tủy đồ, chọc dịch não tủy (khảo sát tế bào, đạm)

Đánh giá độ lọc cầu thận (CrCl): theo chỉ số Cockcroft - Gault

Đánh giá chỉ số tiên lượng bệnh: theo International Extranodal Lymphoma Study Group (IELSG)

Đánh giá đáp ứng điều trị: CT scan (hoặc MRI, PET-CT), chọc dịch não tủy

Tiêu chuẩn đáp ứng điều trị theo International Consensus Group

Đáp ứng hoàn toàn: Biến mất hoàn toàn các khối u trước đó và bệnh nhân không dùng bất

kỳ liều corticosteroid tối thiểu 2 tuần trước đó;

và không tổn thương ở mắt; và dịch não tủy bình thường

Đáp ứng hoàn toàn không xác định: đáp ứng hoàn toàn nhưng vẫn còn lệ thuộc corticosteroid Đáp ứng một phần: Giảm kích thước khối u

≥50%; và/hoặc giảm sự tổn thương ở mắt; và/hoặc dịch não tủy còn tồn tại tế bào ác tính; và/hoặc bệnh nhân còn lệ thuộc corticosteroid Bệnh tiến triển: Tăng kích thước khối u

>25%; hoặc tăng tổn thương ở mắt; hoặc xuất hiện khối u mới

Đánh giá biến cố bất lợi gặp trong quá trình điều trị: theo tiêu chuẩn CTCAE (Common Terminology Criteria for Adverse Events) phiên bản 4.03 Đối với những biến cố không được liệt kê trong CTCAE, sẽ được tính theo thang điểm sau:

- Độ 1: nhẹ

- Độ 2: trung bình

- Độ 3: nặng

- Độ 4: đe dọa tính mạng

- Độ 5: tử vong

Phác đồ: theo BCCA (BC Cancer Agency: Chemotherapy Protocols) Cách kiềm hóa nước tiểu:

Trang 4

+ Đa dịch truyền (3 lít/m2 da): 2/3 Glucose 5%

+ 1/3 Natriclorua 9‰

+ Natribicarbonate: 100 mEq cho mỗi lít

dịch truyền

+ Kalichlorua: 20mEq cho mỗi lít dịch truyền

+ Truyền tĩnh mạch tốc độ 125ml/giờ x 4 giờ

trước và duy trì 48 giờ sau khi hóa trị

+ Nếu pH < 7,0 tiếp tục kiềm hóa đến khi pH

>7,0 tiến hành dùng Methotrexate liều cao

- Liều dùng Methotrexate: 8000 mg/m2

truyền tĩnh mạch

- Leucovorine 25 mg (TMC)/6 giờ (sau hóa trị Methotrexate 24 giờ và duy trì 48 giờ sau hóa trị)

- Cách giảm liều Methotrexate theo độ lọc cầu thận:

+ CrCl ≥ 100ml/phút: 8000mg/m2 + CrCl ≥ 85ml/phút: 6800mg/m2 + CrCl ≥ 60ml/phút: 4800mg/m2

Hình 1 Liệu trình điều trị

Phác đồ điều trị Methotrexate liều cao phối hợp

Rituximab

- Rituximab liều 375 mg/m2, ngày 1 hoặc

ngày 2 hoặc bất kì lúc nào nhưng không trễ hơn

72 giờ sau khi điều trị Methotrexate Rituximab

mỗi 2 tuần x 4 liều

Xử lý số liệu

nhập số liệu trên phần mềm excel, biến

định tính được thống kê theo tần suất, tỷ lệ

phần trăm Các số liệu phân tích trình bày

dưới dạng bảng

KẾT QUẢ

Qua 3 năm 2015- 2017, chúng tôi có 73 BN

ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa

được hóa trị phác đồ Methotrexate liều cao phối

hợp Rituximab với kết quả như sau:

Đặc điểm chung nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân

nghiên cứu

Đặc điểm Số bệnh nhân (n=73) (Tỷ lệ %)

Tuổi: trung bình 53,4± 12,7 (15-77)

Giới

Chỉ số ECOG

Chỉ số IELSG

Tuổi trung bình của BN là 53 với 57% dưới

60 tuổi Đa số BN có tổng trạng tốt (ECOG 0-1

chiếm 48%) và yếu tố tiên lượng bệnh trung bình

(Bảng 1)

Bảng 2 Số chu kì hóa trị Methotrexate

Đặc điểm Kết quả

Tổng số chu kì hóa trị (chu kì) 426

Số chu kì hóa trị trung bình/bệnh nhân (chu

Số bệnh nhân hóa ≤ 4 chu kì (bệnh nhân) 15

Số bệnh nhân hóa trị >4 chu kì (bệnh

73 BN được hóa trị tổng số 426 chu kì hóa trị

Số chu kì hóa trị trung bình/BN là 5,85 58 BN

hoàn thành trên 4 chu kì (Bảng 2)

Đáp ứng bệnh sau 4 và 6-8 chu kì điều trị

15 BN chỉ điều trị được dưới 4 chu kì (trong

đó 8 BN tử vong, 4 BN không đáp ứng/tiến triển,

Kiềm hóa nước tiểu

Methotrexate

Kiềm hóa nước tiểu Leucovorine

Kiềm hóa nước tiểu Leucovorine

Hóa tiếp đợt 2

Trang 5

1 BN đáp ứng một phần bỏ điều trị, 2 BN phải

ngưng điều trị do chức năng thận giảm)

Bảng 3 Đáp ứng sau hóa trị

Đáp ứng Sau 4 chu kì Sau 6-8 chu kì

Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %

58 BN hoàn thành trên 4 chu kì hóa trị Đánh

giá sau 4 chu kì: tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn: 56,2 %,

đáp ứng 1 phần: 27,4%, đáp ứng toàn bộ: 83,6%

3 BN hoàn thành 5 chu kì hóa trị (1 BN tiến

triển sau 5 chu kì; 1 BN phải ngưng điều trị do

chức năng thận giảm; 1 BN bỏ trị) 55 BN hoàn

thành đủ 6-8 chu kì

Đánh giá sau hoàn tất hóa trị: tỷ lệ đáp ứng

hoàn toàn: 60,3 %; đáp ứng 1 phần: 19,2%; đáp

ứng toàn bộ 79,5%; tử vong: 13,7%, tiến

triển/kháng trị: 6,8%

Biến cố bất lợi trong quá trình điều trị

Bảng 4 Biến cố bất lợi

Triệu chứng Số BN (n=73) Tỷ lệ %

Độ 1-2

Độ 3

70

03

95,9%

4,1%

Tổn thương niêm mạc

Độ 1-2

Độ 3

12

08

04

16,4%

11%

5,4%

Nhiểm trùng khác (đường

tiểu, da)

Giảm chức năng thận ( <60

ml/phút)

Tất cả các BN có triệu chứng buồn nôn/

nôn mức độ nhẹ đến trung bình Nôn ói mức

độ 3 gặp ở 4,1% trên BN có viêm loét dạ dày

kèm theo

Đa số BN mệt mỏi, giảm vận động khi hóa trị

Sụt cân ở 41% BN, thường là BN lớn tuổi Tổn thương niêm mạc khá thường gặp 16,4%, mức độ viêm niêm mạc nặng 5,4%

Tỷ lệ BN giảm bạch cầu hạt <1G/l thấp 6,8%

Số BN viêm phổi khá cao 10,9%

Nhiễm trùng hầu họng 12,3%

3 BN tổn thương thận cấp phải ngưng hóa trị

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trong 3 năm từ 2015-2017, chúng tôi có 73

BN được chẩn đoán ULKH não nguyên phát điều trị với phác đồ Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab Thực tế số BN được chẩn đoán bệnh này lớn hơn nhiều (trên 120 ca), nhưng vì một số BN không đồng ý hoá trị nên không được tuyển chọn vào nghiên cứu Số BN được chẩn đoán và điều trị bệnh có xu hướng tăng theo thời gian Năm 2010 chỉ có 1 trường hợp ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa, đến năm 2015-2017 mỗi năm chúng tôi có khoảng gần 30 BN điều trị với phác đồ trên Nguyên nhân do những tiến bộ của khoa Giải phẫu bệnh trong phân tích hình thái tế bào và phát triển kỹ thuật nhuộm hoá mô miễn dịch giúp chẩn đoán ULKH não nguyên phát ngày càng hoàn thiện

và chính xác hơn Hơn nữa, BN u não ngày càng

có xu hướng được chẩn đoán bệnh chính xác nhờ tiến bộ trong phẫu thuật u não như mổ lấy u

vi phẫu, sinh thiết định vị giúp càng nhiều người bệnh có cơ hội được tiếp cận phương pháp chẩn đoán và điều trị ít xâm lấn nhất

Độ tuổi trung bình của BN là 53 tuổi (15-77 tuổi), so với các nghiên cứu của các tác giả khác(1,6,7,9) BN của chúng tôi có độ tuổi trung bình trẻ hơn, đây là một điểm khác biệt về dịch tễ của ULKH não nguyên phát ở nước ta Cũng có thể

do BN lớn tuổi không tầm soát bệnh và từ chối phẫu thuật để chẩn đoán nên không phát hiện bệnh Trong nghiên cứu này, BN lớn tuổi nhất 77 tuổi và bệnh nhân cũng hoàn thành được 6 chu

kì hóa trị với kết quả đạt lui bệnh hoàn toàn

Về phân bố giới tính, chỉ số ECOG, đặc điểm

tế bào học của nhóm bệnh nhân của chúng tôi

Trang 6

cũng tương đồng với đặc điểm chung của

nghiên cứu của nhiều tác giả khác(1,7)

Đáp ứng điều trị sau điều trị tấn công

Methotrexate có thể qua hàng rào máu não,

cho đến nay là tác nhân có tác dụng nhiều nhất

trong ULKH não Do vậy điều trị Methotrexate

liều cao là phác đồ điều trị tấn công chủ lực đối

với hầu hết các BN và là phác đồ khá an toàn cho

người lớn tuổi hoặc suy thận mức độ nhẹ đến

trung bình Liều điều trị được điều chỉnh cho

phù hợp với từng trường hợp cụ thể Khoa

huyết học áp dụng phác đồ điều trị

Methotrexate liều cao từ năm 2008 và 2 năm đầu

chỉ có 9 BN được điều trị với phác đồ trên Đến

năm 2010, chúng tôi bắt đầu áp dụng điều trị

phối hợp Rituximab cho bệnh nhân ULKH não

tế bào B Trong 3 năm 2010-2012, chỉ có 6 BN sử

dụng phác đồ này và tăng dần theo thời gian

Qua tổng kết, chúng tôi thấy hiệu quả điều trị

của nhóm BN sử dụng Methotrexate liều cao

phối hợp Rituximab tốt hơn nhóm chỉ điều trị

Methotrexate đơn độc Nhiều nghiên cứu cũng

cho thấy thêm Rituximab vào phác đồ có

Methotrexate liều cao dung nạp tốt và mang lại

hiệu quả tốt hơn(7,5) Rituximab được khuyến cáo

trong tất cả các trường hợp ULKH tế bào B có

CD 20 dương tính dù cơ chế tác dụng trên hệ

thần kinh trung ương còn nhiều tranh cãi

Có rất nhiều phác đồ phối hợp Methotrexate

liều cao với hóa trị như Temolozomide,

Cytarabin liều cao, Thiotepa, ghép tế bào gốc…

Các phác đồ càng phối hợp nhiều thuốc và liều

cao cho kết quả đáp ứng tốt tuy nhiên độc tính

gặp phải nhiều và đòi hỏi cần có cơ sở điều trị vô

trùng Vì vậy lựa chọn phác đồ Methotrexate

phối hợp Rituximab là một phác đồ cho kết quả

đáp ứng và dung nạp tốt, phù hợp với cơ sở và

thể trạng BN tại bệnh viện Chợ Rẫy

73 bệnh nhân đã hoàn thành 426 chu kì hóa

trị, trung bình 5,85 chu kì/BN 15 trường hợp chỉ

hoàn thành được <4 chu kì hóa trị (8 BN tử vong,

4 bệnh tiến triển/không đáp ứng cần xạ trị, 2 BN

ngưng điều trị do giảm chức năng thận, 1 bỏ trị)

58 trường hợp hoàn thành trên 4 chu kì hóa trị

với tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn và đáp ứng toàn bộ sau hoá trị là 60,3% và 79,5% Kết quả đáp ứng hoàn toàn của nhóm BN của chúng tôi thấp hơn tác giả Batchelor et al 2003 (74%), nhưng cao hơn tác giả Herrlinger et al 2002, 2005 (35%), tương đương tác giả Matthias Holdhoff(6,7)

Tỷ lệ tử vong trong quá trình điều trị trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các tác giả khác Có 10 BN (13,7%) tử vong trong quá trình điều trị, chủ yếu là tử vong sau 1 đến 2 chu kì hoá trị Nguyên nhân tử vong do không đáp ứng điều trị, bệnh tiến triển, viêm phổi bệnh viện, nhiễm trùng huyết đặc biệt gặp ở người lớn tuổi, thể trạng yếu, sức đề kháng giảm và những BN sau phẫu thuật lấy u lớn hoặc bệnh nhân hôn

mê, suy hô hấp kéo dài

Những BN không đáp ứng/ tiến triển (6,8%) thường là những BN lớn tuổi, thể trạng yếu hoặc

có vị trị tổn thương sâu, có lẽ do thuốc khó thâm nhập qua hàng rào máu não tại các vị trí này, và hóa trị phải giảm liều nên hiệu quả điều trị không tốt

Biến cố bất lợi trong quá trình điều trị

MTX là chất ức chế cạnh tranh với enzyme dihydrofolate reductase, men này xúc tác sự biến đổi acid folic thành tetrahydrofolate, do vậy ức chế tổng hợp DNA và tăng sinh tế bào Thời gian bán thải của thuốc từ 4-5 giờ MTX được đào thải qua thận, 60-95% được đào thải nguyên dạng,

do vậy giảm độ lọc cầu thận hoặc giảm tiết ở ống thận có thể dẫn đến ngộ độc MTX MTX và các chất chuyển hóa của nó ít tan trong nước tiểu có tính acid, do đó kiềm hóa nước tiểu phải được thực hiện trước, trong và sau vô thuốc liều cao

Để giảm thiểu tối đa tình trạng ngộ độc MTX, tốt nhất các cơ sở y tế cần định lượng MTX trong máu để có kế hoạch trung hòa MTX bằng leucovorin Tuy nhiên, tại Chợ Rẫy chúng tôi mới chỉ thực hiện được kỹ thuật này từ năm

2018 nên thời điểm trước đó chúng tôi trung hòa leucovorin theo phác đồ trình bày ở trên Những trường hợp nghi ngờ ngộ độc MTX ( biểu hiện giảm chức năng thận, loét niêm mạc, đau bụng, tiêu chảy, nôn nhiều…), liệu trình điều trị

Trang 7

leucovorin có thể kéo dài hơn

Một trong những biến cố bất lợi nghiêm

trọng của MTX liều cao là tổn thương thận cấp,

mặc dù tỷ lệ thấp (2-4%) nhưng lại là biến cố đe

dọa tính mạng và cần phải ngưng điều trị MTX

Tổn thương thận cấp được định nghĩa khi

Creatine máu tăng trên 0,3 mg/dl hoặc tăng trên

1,5 lần mức bình thường Trong nghiên cứu của

chúng tôi có 3 trường hợp BN giảm chức năng

thận 4,1%): 1 BN xảy ra sau 2 chu kì hóa trị, 1 BN

sau 3 chu kì và 1BN sau 5 chu kì Cả 3 BN trên

được ngưng hóa trị và chuyển xạ trị Sau đó

chức năng thận có hồi phục hoàn toàn và các BN

trên được xạ trị não toàn bộ Kết quả nghiên cứu

của chúng tôi tương tự một số tác giả (3-5%

trong nghiên cứu của Ferreri và CS; 5% trong

nghiên cứu của Chamberlain và CS)(3,2)

Tăng men gan grade 2 gặp ở 3 BN ( kết quả

tương tự nghiên cứu của Ferreri và CS)(3) và

bệnh hoàn toàn hồi phục sau khi điều trị hỗ trợ

tế bào gan

Các tác dụng phụ toàn thân như mệt mỏi,

chán ăn, sụt cân khá thường gặp tuy nhiên ở

mức độ nhẹ đến trung bình Một số trường hợp

bệnh chúng tôi rất khó đánh giá do triệu chứng

bệnh nặng ngay từ đầu, BN trải qua đại phẫu

não, tổn thương triệu chứng thần kinh nặng,

hoặc một số trường hợp hôn mê, thở máy kéo

dài…nên đánh giá biến cố do thuốc hóa trị hay

do bệnh nền cúng rất khó khăn

100% BN của chúng tôi có triệu chứng buồn

nôn hoặc nôn, thường ở mức độ nhẹ Các tác giả

khác nghiên cứu thấy tỷ lệ nôn ở BN điều trị

MTX liều cao thường dưới 30%-234 Có lẽ chúng

tôi cần hoàn thiện hơn phác đồ chống nôn trên

BN hóa trị và cần sử dụng thuốc chống nôn tác

dụng kéo dài để cải thiện tốt hơn nữa chất lượng

sống của bệnh nhân

Tổn thương niêm mạc như loét niêm mạc

miệng, tiêu chảy gặp tỷ lệ khá cao gần 20% So

sánh với các tác giả như Ferreri(3), Chambelain(2),

nhóm BN của chúng tôi có biến chứng trên cao

hơn nhưng thấp hơn kết quả của Zhu và CS

(58%)(11) Phần lớn BN viêm niêm mạc mức độ

1-2 Để giảm những tác dụng phụ trên, tất cả BN của chúng tôi được hướng dẫn chế độ chăm sóc răng miệng, vệ sinh hợp lý tránh bội nhiễm

Số BN giảm bạch cầu hạt độ 3 (<1G/l) không cao (5 BN) nhưng tỷ lệ BN nhiễm trùng trong nghiên cứu của chúng tôi rất cao, đặc biệt nhiễm trùng hầu họng, nhiễm trùng đường tiểu có thể

do viêm niêm mạc kèm theo Hơn nữa, viêm phổi và nhiễm trùng huyết gặp ở 10/73 BN là biến cố bất lợi nghiêm trọng gây tử vong trong quá trình điều trị, nguyên nhân do giảm bạch cầu nặng và tình trạng bất động do di chứng tạo điều kiện cho bội nhiễm Vì vậy, cần có biện pháp điều trị dự phòng giảm bạch cầu và nhiễm trùng tốt hơn, đặc biệt ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao Tuy vậy, khi so sánh với nhóm BN ULKH nói chung, tỷ lệ BN gặp biến cố trên không cao hơn Do vậy chúng tôi cần phải có những biện pháp tích cực hơn nữa về phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện, chiến lược chăm sóc BN tốt hơn, giảm quá tải điều trị nội trú Hy vọng trong tương lai sẽ có những kết quả khả quan hơn

Có 8 BN có viêm gan virus B trước hóa trị, và

1 BN tái hoạt viêm gan sau khi đã hoàn thành liệu trình điều trị mặc dù tất cả các BN được điều trị dự phòng kháng virus Tình trạng tái hoạt viêm gan B có khả năng do tác dụng phụ của Rituximab

KẾT LUẬN

ULKH não nguyên phát tế bào B lớn lan tỏa

là một biến thể không phổ biến của ULKH ngoài hạch, đáp ứng và dung nạp tốt với phác đồ điều trị Methotrexate liều cao phối hợp Rituximab Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn và đáp ứng toàn bộ sau hóa trị là 60,3% và 79,5%, tỷ lệ tử vong 13,7% Biến cố bất lợi thường gặp như tổn thương niêm mạc, tác dụng phụ toàn thân (nôn/ buồn nôn, mệt mỏi), tăng men gan chủ yếu mức độ 1 – 2 Tổn thương thận cấp gặp ở 4,1% BN và hồi phục hoàn toàn sau ngưng thuốc Nhiễm trùng gặp tỷ lệ khá cao đặc biệt là nhiễm trùng hầu họng, nhiễm trùng đường tiểu dưới, viêm phổi (36,8%) Nhiễm

Trang 8

trùng (viêm phổi và nhiễm trùng huyết) là

nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong quá

trình điều trị Các biến cố bất lợi trong quá trình

điều trị thường ở mức độ nhẹ- trung bình và

kiểm soát được Cần cải thiện hơn nữa kiểm soát

nhiễm khuẩn nhằm giảm tình trạng nhiễm

trùng, nâng cao chất lượng điều trị BN ULKH

não nguyên phát

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Batchelor T, et al (2003) Treatment of primary CNS

lymphoma with Methotrexate and Deferred Radiotherapy: A

report of NABTT 96-07 J Clin Oncol 21:1044-1049

2 Chamberlain MC, et al (2010) High dose methotrexate and

rituximab with deferred radiotherapy for newly diagnosis

primary B cell CNS lymphoma Neuro Oncol, 12(7):736-744

3 Ferreri AJ, et al (2009) High dose cytarabin plus high dose

methotrexate versus high dose methotrexate alone in patients

with primary CNS lymphoma: a randomised phase 2 trial

Lancet, 374:1512-1519

4 Ferreri AJ, Reni M, Pasini F, et al (2002) A multicenter study

of treatment of primary CNS lymphoma Neurology, 58:1513

5 Gregory G, Arumugaswamy A, Leung T, et al (2013) Rituximab is associated with improved survival for

aggressive B cell CNS lymphoma Neuro Oncol, 15:1068-1073

6 Herrlinger U, Schabet M (2005) German cancer society neuro oncology working group NOA – 03 multicenter trial of single – agent high – dose methotrexate for primary central nervous

system lymphoma: final report Ann Neurol, 57:843

7 Holdhoff M, et al (2014) High dose Methotrexate with or without Rituximab in Newly diagnosed primary CNS

lymphoma Neurology 83(3):235-239

8 Howard SC, et al (2016) Preventing and managing toxicities

of high dose methotrexate The Oncologist, 21:1-12

9 Rubeistein JL, Hsi ED (2013) Intensive chemotherapy and immunotherapy in patients with Newly diagnosed primary

CNS lymphoma CALGB 50202 J Clin Oncol 10/1200

10 Shibamoto Y, Ogino H, Suzuki G, et al (2008) Primary central nervous system lymphoma in Japan: changes in chinical features, treatment, and prognosis during 1985 – 2004

Neurology Oncol, 10:560

11 Zhu JJ, et al (2009) High dose methotrexate for elderly

patients with primary CNS lymphoma Neuro Oncol,

pp.211-215

Ngày nhận bài báo: 20/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/07/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Trang 9

KẾT QUẢ GHÉP TẾ BÀO GỐC TỰ THÂN ĐIỀU TRỊ ĐA U TỦY XƯƠNG

TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI TỪ 2012 – 2019

Đỗ Quang Linh * , Phan Thị Phượng ** , Nguyễn Tuấn Tùng ** , Phạm Quang Vinh *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâu dài của cấy ghép tự thân từ tế bào gốc máu ngoại vi trên bệnh nhân đa u tủy

xương tại bệnh viện Bạch Mai từ 2012-2019

Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi tiến hành phân tích hồi cứu có theo dõi sau ghép trên các bệnh

nhân đa u tủy xương trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 6 năm 2019 31 bệnh nhân đã được điều trị bằng phương pháp hóa trị liệu liều cao sau đó ghép tế bào gốc tạo máu tự thân và được theo dõi đến thời điểm kết thúc nghiên cứu

Kết quả: Nghiên cứu 31 bệnh nhân đa u tủy xương đã ghép tự thân từ tế bào gốc máu ngoại vi cho thấy độ

tuổi trung bình là 54,6, thể bệnh IgG chiếm cao nhất (51,6%), giai đoạn bệnh ISS III chiếm đa số với 67,7% Thời gian mọc mảnh ghép với bạch cầu trung tính là 12,9 ngày, tiểu cầu là 12,2 ngày Các tác dụng phụ liên quan hóa trị liệu liều cao và giảm bạch cầu, bao gồm: nôn mửa, loét niêm mạc miệng, tiêu chảy, tăng men gan và nhiễm trùng Tỷ lệ LBHT sau ghép tăng gần gấp đôi so với trước ghép (83,9% so với 48,4%) Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, đã có 43,3% số bệnh nhân tái phát Thời gian sống thêm toàn bộ (OS) sau ghép trung bình là 61,3 tháng (khoảng tin cậy 95%: 52,2 tháng – 70,4 tháng) Sau 5 năm, OS đạt 74,2%

Kết luận: Ghép TBG tự thân sau hóa trị liệu liều cao trong điều trị ĐUTX giúp cải thiện đáp ứng lui bệnh,

cho kết quả tốt về thời gian sống thêm cho bệnh nhân

Từ khóa: đa u tủy xương, ghép tế bào gốc tự thân

ABSTRACT

RESULTS OF AUTOLOGOUS HEMATOPOETIC STEM CELL TRANSPLANTATION

FOR TREATMENT OF MULTIPLE MYELOMA AT BACH MAI HOSPITAL FROM 2012-2019

Do Quang Linh, Phan Thi Phuong, Nguyen Tuan Tung, Pham Quang Vinh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 497 – 501

Objective: To evaluate the results of autologous transplantation from peripheral blood stem cells (PBSC) on

multiple myeloma patients at Bach Mai Hospital from 2012-2019

Methods: A retrospective analysis was made on in multiple myeloma patients in our center from 2012-2019

The 31 patients received autologous hematopoietic stem cell transplantation and review the autologous transplantation of long-term follow-up results

Results: To study 31 multiple myeloma patients with auto-transplantation from PBSC showed that the

median age was 54.6 years, the proportion of patients with IgG subtype is the highest (51.6%), rate of patients with stage III-international staging system (ISS) was 67.7% Average time of neutrophils recovery was 12.9 days, platelets was 12.2 days Common complications during the transplant-related side effects of high-dose chemotherapy and period WBC reducing, included: vomiting, buccal mucosa ulceration, diarrhea, elevated liver enzymes and infection The rate of CR after transplantation increased compared to post-transplantation (83.9% to 48.4%) At the end of the study, 43.3% of patients had relapses Median overall survival (OS) was 61.3 months (95%CI: 52.2-70.4) OS at 5 years of patients was 74.2%

*Trường Đại học Y Hà Nội **Bệnh viện Bạch Mai

Tác giả liên lạc: BS Đỗ Quang Linh ĐT: 0368014504 Email: nonolunpro@gmail.com

Ngày đăng: 09/02/2020, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm