1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá đặc điểm lâm sàng, sinh học và hiệu quả điều trị bạch cầu cấp tiền tuỷ bào bằng phác đồ có ATRA ở trẻ em tại bệnh viện Truyền máu Huyết học

8 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 487,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết mô tả đặc điểm lâm sàng, sinh học, hiệu quả điều trị bạch cầu cấp tiền tuỷ bào bằng phác đồ có ATRA trên đối tượng trẻ em. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết nội dung nghiên cứu.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, SINH HỌC

VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BẠCH CẦU CẤP TIỀN TUỶ BÀO

BẰNG PHÁC ĐỒ CÓ ATRA Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC

Phan Trúc * , Nguyễn Quốc Thành * , Nguyễn Ngọc Nhã Phương ** , Huỳnh Nghĩa *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, sinh học, hiệu quả điều trị bạch cầu cấp tiền tuỷ bào bằng phác đồ có

ATRA trên đối tượng trẻ em

Đối tượng-Phương pháp nghiên cứu: Tất cả bệnh nhi <16 tuổi nhập viện tại bệnh viện Bệnh viện Truyền

máu Huyết học được chẩn đoán bạch cầu cấp tiền tủy bào trong khoảng thời gian 12/2013 đến 12/2019 Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, hồi cứu

Kết quả: 17 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào nghiên cứu Tuổi trung bình 6,94, nam/nữ

là 2,4/1 Xuất huyết là triệu chứng phổ biến nhất (94%), không tương xứng với biến đổi trên xét nghiệm chỉ gồm kéo dài nhẹ PT đơn độc là chủ yếu Thiếu máu và giảm tiểu cầu là hằng định với mức trung bình lần lượt là 8,5g/dL và 24,4x10 9 /L, lượng bạch cầu trung bình ở mức cao (so với người lớn) là 8,2x10 9 /L Rối loạn đông máu nổi bật với D-Dimer tăng ở tất cả đối tượng Về các xét nghiệm để chẩn đoán: lượng tế bào non cao trong tuỷ (83%), chuyển vị t(15;17) xác định được trên FISH ở 100% bệnh nhi, kiểu bản gãy bcr2, bcr 3 chiếm gần 1 nữa, 43,7% có bất thường nhiễm sắc thể khác kèm theo Tỉ lệ đạt lui bệnh sau điều trị tấn công và củng cố là 93,6% EFS và OS sau 5 năm lần lượt là 62,7% và 94,1% Biến chứng đe dọa tính mạng chỉ gặp trong giai đoạn tấn công với 2 ca (11,7%) bị RAS, trong đó 1 ca tử vong do xuất huyết não kèm theo Nhiễm trùng gặp ở tất cả bệnh nhi giai đoạn tấn công, 93% trong giai đoạn củng cố Trong giai đoạn duy trì, các biến chứng ít xuất hiện, chủ yếu là tình trạng tăng men gan không triệu chứng (73,3%)

Kết luận: Đặc điểm lâm sàng nổi bật của APL trẻ em là biểu hiện xuất huyết không tương xứng với chỉ

điểm xét nghiệm, gợi ý nâng cao cảnh giác về tình trạng tiêu sợi huyết tiềm ẩn gây nguy cơ xuất huyết não, là nguyên nhân thất bại điều trị chính Các đặc điểm bạch cầu cao lúc chẩn đoán, ưu thế kiểu bản gãy bcr2, bcr3 của PML/RARα góp phần tiên lượng xấu Phác đồ ATRA phối hợp anthracycline cho hiệu qủa vượt trội trong APL trẻ em, mặc dù còn cần nhưng cải tiến xa hơn để vượt qua biến chứng tử vong sớm, hội chứng biệt hoá và tình trạng tái phát còn cao ở đối tượng này

Từ khoá: bạch cầu cấp tiền tuỷ bào, trẻ em

ABSTRACT

CLINICAL AND BIOLOGICAL CHARACTERISTICS AND OUTCOME FOR CHILDREN ACUTE

PROMYELOCYTIC LEUKEMIA TREATED WITH ATRA-BASED REGIMENS

AT BLOOD TRANSFUSION – HEMATOLOGY HOSPITAL

Phan Truc, Nguyen Quoc Thanh, Nguyen Ngoc Nha Phuong, Huynh Nghia

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 481 - 488

Introduction: Acute promyelocytic leukemia (APL), is a distinct subtype of acute myeloid leukemia (AML)

characterized by a tendency to hemorrhage and excellent response to all-trans retinoic acid (ATRA) In this retrospective study, we aimed to determine the incidence, clinical symptoms, toxicities, and outcome of children

*Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh **Bệnh viện Truyền máu Huyết học

Tác giả liên lạc: BS Phan Trúc ĐT: 0764247121 Email: drtrucphan@gmail.vn

Trang 2

with APL in our center

Methods: We retrospectively reviewed the medical records of children (age < 16 years) diagnosed with APL

in our pediatric hematology department between December 2013-December 2019

Results: Seventeen Vietnamese patients (12 males and 5 females) were identified and the median age was

6.94 (range 3-13) The most popular sign was bleeding (94%) Severe bleeding manifested as intracranial hemorrhage was present in one patients Two patients showed side effects of ATRA with differentiation syndrome The percentage of patients reaching complete remission after induction therapy was 76.2% The median follow-up was 33.5 months, event-free survival (EFS) was 62.7% and overall survival (OS) was 91.4% Infections were found in all children during the induction phase, 93% during the consolidation therapy During the maintenance period, complications were rare, mainly asymptomatic elevation of liver enzymes (73.3%)

Conclusions: The prominent clinical feature of pediatric APL is the manifestation of bleeding that is not

commensurate with the laboratory tests, suggesting to raise awareness about the potential hyperfibrinolysis that is the risk of intracranial hemorrhage, which is the main cause of failure treatment in APL children The ATRA combination anthracyclines provides superior efficacy in pediatric APL, although further investigations are needed to overcome early mortality, differentiated syndrome, and high relapse rate

Key words: acute promyelocytic leukemia, children, pediatric

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bạch cầu cấp tiền tủy bào (acute

promyelocytic leukemia – APL) là một dưới

nhóm của bạch cầu cấp dòng tuỷ (acute

myelogenous leukemia - AML), tương ứng với

M3 theo phân loại cũ FAB và ngày nay nhờ hiểu

biết bản chất đột biến bên dưới, WHO đã xếp

loại APL thuộc AML có bất thường di truyền tái

diễn: APL với PML-RARA Bệnh đặc trưng bởi

sự tích lũy các tế bào bạch cầu hạt tiền tủy bào

(promyelocyte) trong tủy xương

Với việc khám phá ra bất thường di truyền

trong APL kinh điển là chuyển vị giữa nhiễm sắc

thể (NST) số 15 và 17 (t(15;17)(q22;q21)), hệ quả

đưa đến hình thành protein tổ hợp (fusion

protein) bất thường PML/RARA, một loại thụ

thể của retinoid acid nhưng đáp ứng kém với

liều sinh lý thông thường, dẫn tới ngưng biệt

hóa cũng như tăng sinh tế bào và đề kháng với

chết tế bào theo chương trình

Ở trẻ em, APL là thể bệnh hiếm gặp Nhiều

nghiên cứu đã cho thấy APL ở trẻ em có sự biến

động rõ rệt giữa các chủng tộc(4): APL chiếm tỉ lệ

5-10% AML trẻ em tại Mỹ, trong khi đó ở các

quốc gia Địa Trung Hải gồm Ý, Tây Ban Nha, tỉ

lệ này là 31,2%, tại Nam và Trung Mỹ dao động

từ 23-59% Về lâm sàng và sinh học, APL trẻ em

cũng mang những đặc điểm có tiên lượng xấu hơn như số lượng bạch cầu cao lúc chẩn đoán, biến thể vi hạt của tế bào blast trên hình thái và

ưu thế kiểu bản gãy bcr2, bcr3 của PML/RARα(3) Cho đến nay, việc điều trị APL trẻ em cũng dựa trên phác đồ của người lớn, dù đã có nghiên cứu chỉ ra tỉ lệ tử vong sớm cao hơn cũng như hậu quả độc tính do tích luỹ thuốc tác động mạnh lên bệnh nhi về sau(6)

Vì vậy, một khảo cứu toàn diện về APL trẻ

em ở Việt Nam là điều cần thiết để tối ưu hoá chẩn đoán, điều trị và tiên lượng trên nhóm đối tượng này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhi <16 tuổi nhập viện tại bệnh viện Bệnh viện Truyền máu – Huyết được chẩn đoán bạch cầu cấp tiền tủy bào trong khoảng thời gian 12/2013 đến 12/2019

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Thỏa mãn tất cả tiêu chuẩn sau:

Bệnh nhi < 16 tuổi

Được chẩn đoán xác định bạch cầu cấp tiền tủy bào dựa vào sinh học phân tử có chuyển đoạn t(15;17) và/hoặc có tổ hợp gen PML/RARα Bệnh mới chẩn đoán

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau:

Được chẩn đoán AML-M3 theo tủy đồ

nhưng t(15;17) và PML/RARα âm tính

Hồ sơ bệnh án không đầy đủ

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca

Phương pháp tiến hành nghiên cứu (Hình 1)

Hình 1 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

KẾT QUẢ

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Dịch tễ

Từ 12/2013 đến 12/2019, chúng tôi có 17 BN

thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu

Tuổi trung bình là 6,94 tuổi (3 – 13 tuổi) Có

12 BN nam và 5 BN nữ; tỉ số nam/nữ là 2,4/1

Đặc điểm lâm sàng

Xuất huyết (94%), thiếu máu (88%), gan to

(64.7%) là những triệu chứng phổ biến nhất, vị trí xuất huyết hay gặp nhất là da (10/16), còn lại

là chảy máu chân răng Sốt gặp ở 41% bệnh nhân Hạch và lách to hiếm gặp với tỉ lệ lần lượt

là 11,7% và 17,6% (Hình 2)

Đặc điểm sinh học

Thiếu máu và giảm tiểu cầu hằng định ở tất

cả bệnh nhi Số lượng bạch cầu có biến động lớn

(Bảng 1)

Hình 2 Các biểu hiện lâm sàng lúc chẩn đoán

Chẩn đoán xác định APL ở BN dưới 16 tuổi dựa vào di truyền tế bào và/hoặc sinh

học phân tử, phân nhóm nguy cơ theo thang điểm Sanz

Điều trị với phác đồ có ATRA

Theo dõi và đánh giá đáp ứng điều trị theo phác đồ BV TMHH TP.HCM

Mô tả đặc điểm lâm sàng và sinh học của APL trẻ em

Xác định đáp ứng điều trị sau điều trị tấn công, củng cố 1, củng cố 2 và duy trì

Xác định EFS, OS của BN sau điều trị

Xác định tỉ lệ các tác dụng phụ của phác đồ chứa ATRA

1

Trang 4

Bảng 1 Công thức máu BN lúc chẩn đoán

Trung bình

Giá trị lớn nhất

Giá trị nhỏ nhất

Nồng độ Hb (g/dL) 8,5 11,9 6,3

Tiểu cầu (x 109/L) 24,4 76 7

Bạch cầu (x 109/L) 8,2 0,92 55

Dựa trên số lượng WBC (điểm cắt: 10x109/L)

và số lượng PLT (điểm cắt: 40x109/L), phần lớn

bệnh nhi thuộc nhóm nguy cơ trung gian và cao

(chiếm 90%) (Hình 3)

6 %

76,4%

17,6%

Thấp Trung gian Cao

Hình 3 Phân nhóm nguy cơ theo Sanz

Bảng 2 Đặc điểm đông máu thường quy tại thời

điểm nhập viện

Trung bình

Giá trị lớn nhất

Giá trị nhỏ nhất

PT (giây) 16,4 42,50 13

APTT (giây) 30,6 47,9 25,1

Fibrinogen (g/L) 2,2 4,7 1,2

09 bệnh nhân (53%) có biến đổi trên đông máu thường quy (kéo dài PT, APTT và/hoặc giảm fibrinogen) Có 8 bệnh nhân được làm D-dimer lúc nhập viện, 100% tăng mức D-D-dimer

(Bảng 2)

Đặc điểm tế bào học và di truyền tế bào

Lượng tế bào non ác tính trên tuỷ đồ lúc chẩn đoán là 83% (70-95%)

Tất cả bệnh nhân đều xác định được t(15;17) trên FISH Trong số 16 bệnh nhân được làm karyotype, 43,7% (7/16) có bất thường nhiễm sắc thể khác đi kèm

0 2 4 6 8 10

Hình 4 Kiểu bản gãy của PML/RARA

Kiểu bản gãy bcr1 đi kèm bcr2 chiếm hơn một nửa (53%), phần còn lại là bcr2 và/hoặc bcr 3

với tỉ lệ bcr2 cao hơn (Hình 4)

Đáp ứng điều trị (Hình 5)

Hình 5 Kết quả điều trị bệnh nhân trong nghiên cứu

Trang 5

Bảng 3 Các mốc thời gian trong điều trị (N=15)

Sự kiện

Số ngày trung bình (tính từ lúc khởi động ATRA)

Khoảng gía trị (ngày)

Khởi động hoá trị 3,3 0-7

Đánh giá tuỷ sau tấn công 37 17-55

Bắt đầu củng cố 1 51,27 34-85

Đánh giá tuỷ sau củng cố 1 84,87 56-114

Bắt đầu củng cố 2 88,8 64-109

Đánh giá tuỷ sau củng cố 2 119,9 86-159

Khởi động duy trì 103,5 93-181

Thời gian bổ sung anthracycline tính từ lúc

bắt đầu ATRA trung bình là 3,3±2,1 ngày Thời

gian phục hồi huyết học (chọc tuỷ kiểm tra) sau

tấn công trung bình 37±9,7 ngày Các bệnh nhân

mất khoảng 3,5 tháng (103,5±24,4 ngày) để ra

điều trị duy trì (Bảng 3)

Bảng 4 Kết quả điều trị sau từng giai đoạn

Giai đoạn Đáp ứng

huyết học

Đáp ứng

tế bào học Tử vong Tái phát

Sau tấn công

(N=16) 15 (93,6%)

13 (76,5%)* 1 (6,3%)** 0 (0%) Sau củng cố 1

(N=15) 15 (100%) 15 (100%) 0 0

Sau củng cố 2

(N=15) 15 (100%) 15 (100%) 0 0

Trong duy trì

Sau duy trì

*Có 2 bệnh nhi được chọc tuỷ trước ngày 30, một bé vào

N17 và một bé vào N27, với số lượng tế bào non trong tuỷ

lần lượt là 60 và 25% Cả 2 đều được chọc tuỷ lại trước khi điều trị củng cố 1, tất cả đều lui bệnh (<5%)

** Một bệnh nhi tử vong sớm do biến chứng xuất huyết não, cũng là ca có số lượng WBC cao nhất trong nghiên cứu (55K/µL)

*** 1 bệnh nhi đang trong giai đoạn điều trị duy trì, không được tính vào; 1 ca tái phát sau kết thúc duy trì 8 tháng

Thời gian sống sau điều trị

Thời gian sống không sự kiện (EFS) và thời gian sống toàn bộ (OS)

Trong thời gian theo dõi trung bình là 134 tuần (1–240 tuần), có 4 biến cố xảy ra (n=23,5%) Theo thời gian, có 2 BN tái phát trong số 15 BN đạt lui bệnh về di truyền tế bào, chiếm tỉ lệ 13,3% Có 1 BN bỏ theo dõi và

1 BN tử vong trong giai đoạn tấn công vì xuất huyết não

EFS và OS sau 5 năm ước tính lần lượt là 62,7±16,8% (95CI: 37,1-100) và 94,1±5.7% (95CI:

83,6-100) (Hình 6)

Biến chứng và xử trí

Các biến chứng đe doạ tính mạng chỉ gặp ở giai đoạn tấn công gồm xuất huyết não và RAS Đây cũng là giai đoạn sử dụng số lượng các chế phẩm máu nhiều nhất Nhiễm trùng là biến chứng phổ biến ở trong suốt các pha điều trị, ngoại trừ giai đoạn duy trì, thì lại gặp tăng men

gan là chủ yếu (Bảng 5)

Hình 6 Thời gian sống A: Thời gian sống không sự kiện, B: Thời gian sống toàn bộ

Trang 6

Bảng 5 Các biến chứng và chế phẩm máu trong quá

trình điều trị

Pha điều trị Tấn công

(N=16)

Củng cố

1 (N=15)

Củng cố

2 (N=15)

Duy trì (N=15)

Xuất huyết

Nhiễm trùng 16 (100%) 14 (93%) 14 (93%) 1 (6,7%)

RAS 2 (12,5%) 0 0 0

Tăng men gan 0 0 0 11 (73,3%)

Số đơn vị HCL 5,3 (1-14) 3,0 (2-5) 3,2 (2-10)

Số đơn vị TC 7,87 (1-17) 2,7 (1-9) 2,3 (1-6)

Số đơn vị FFP 0 0 0

Số đơn vị KTL 0,5 (0-1) 0 0

HCL, hồng cầu lắng; FFP, huyết tương tươi đông lạnh;

TC, tiểu cầu; KTL, kết tủa lạnh; RAS, retinoic acid

syndrome

BÀN LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Trong 5 năm, chỉ có 17 bệnh nhân trong

nghiên cứu, so với tổng số bệnh nhân được chẩn

đoán tại bệnh viện Truyền máu – Huyết học

trong cùng thời gian, tỉ lệ này chiếm khoảng

22% Điều này phù hợp với nhận định: APL là

một thể bệnh hiếm gặp ở trẻ em Con số này cao

hơn mặt bằng chung là 8-10%, như vậy dịch tễ

học APL trẻ em ở Việt Nam thuộc nhóm cao,

tương đương khu vực Ý, Trung và Nam Mỹ(6)

Độ tuổi trong nghiên cứu chúng tôi phân bố từ

3-13 tuổi, trung bình 6,94, phù hợp với các

nghiên cứu trên thế giới, với độ tuổi dao động từ

7,2 đến 15, rất hiếm bệnh nhân sơ sinh/nhũ nhi(6)

Về giới tính, tỉ lệ bé trai cao hơn (2,4/1) trong

nghiên cứu này có phần khác biệt so với các ghi

nhận khác, khi cho thấy ưu thế ở giới nữ (71%

trong nghiên cứu của Botton tại Pháp, 60% trong

POG, 59% trong PETHEMA) Tuy nhiên, hiện

tại, giới tính trong APL ở trẻ em vẫn chưa thống

nhất giữa các nghiên cứu như trong báo cáo của

nhóm GIMEMA-AIEOP

Xuất huyết là triệu chứng lâm sàng phổ biến

nhất của bệnh nhi APL lúc nhập viện, kết luận

này đã được xác nhận qua nhiều nghiên cứu,

như của Tekin Aksu (76,5%)(1) So sánh với số

lượng tiểu cầu và các biến động trên đông máu

cho thấy không tương xứng với biểu hiện lâm sàng Tiểu cầu trung bình 24,4±21,1x109/L là mức

ít khi gây xuất huyết; đông máu thường quy chỉ phát hiện kéo dài nhẹ PT đơn độc là chủ yếu, trong khi đó D-Dimer tăng hằng định ở các bệnh nhi Tất cả điều này, cho thấy đông máu nội mạch rải rác (DIC) không phải là cơ chế chính trong rối loạn đông máu ở APL, mà dữ liệu này phù hợp với tình trạng tăng tiêu sợi huyết Kết luận này thống nhất với các xuất bản gần đây về APL Với số lượng bạch cầu trung bình 8,2x109/L, nghiên cứu đã cho thấy số lượng bạch cầu cao hơn hẳn lúc chẩn đoán so với nhóm người lớn (2,6x109/L trong nghiên cứu của Guglielmi, 2,3x109/L trong thử nghiệm European APL protocol) Điều này gắn liền với tiên lượng xấu hơn cho nhóm bệnh nhi, vì đây là yếu tố quan trọng nhất liên quan đến biến chứng xuất huyết não Cơ chế của nó là sự tăng biểu hiện nhiều phân tử kích hoạt tiêu sợi huyết, đặc biệt là anexin AII trên bề mặt tế bào promyelocyte Một bệnh nhân trong nghiên cứu có số lượng bạch cầu cao nhất (55x109/L), cũng là bệnh nhân duy nhất tử vong sớm vì xuất huyết não

Về phương diện chẩn đoán, promyelocyte trên tuỷ đồ chiếm số lượng rất lớn 83% (70-95%), các nghiên cứu cũng đã chứng minh tế bào non lưu hành cao trong APL trẻ em lúc nhập viện(1) Tất cả bệnh nhi đều có kết quả FISH dương với chuyển đoạn điển hình t(15;17) Nghiên cứu chúng tôi cho thấy kiểu bản gãy bcr1 vẫn chiếm

số lượng ưu thế, tuy nhiên bcr2, bcr3 phổ biến hơn ở APL trẻ em so với người lớn, tương tự như nghiên cứu của tác giả de Botton (2004)(2) Karyotype cho thấy lên đến 43,7% có bất thường nhiễm sắc thể khác đi kèm, điều này cao hơn hẳn so với nghiên cứu của European APL93 (11%), tuy nhiên khó so sánh vì các kết quả của PETHEMA và LPA96, LPA99 lại cho ra không đồng nhất(5)

Đặc điểm đáp ứng điều trị và thời gian sống:

Trong nghiên cứu của chúng tôi (n = 16), tỉ lệ đạt lui bệnh sau tấn công là về mặt huyết học là 93,6%, về phương diện tế bào học là 76,5% Một

Trang 7

nhận định quan trọng là có 2 bệnh nhân được

chọc tuỷ sớm trước ngày 30, một bé vào ngày 17

và một bé vào ngày 27, với số lượng tế bào non

trong tuỷ lần lượt là 60 và 25%, cả 2 đều được

chọc tuỷ kiểm tra lại trước khi điều trị củng cố 1,

tất cả đều lui bệnh (<5%) Điều này củng cố các

nhận định trong y văn, vì điều trị APL dựa trên

liệu pháp gây biệt hoá tế bào chứ không tiêu diệt

như các hoá trị liệu, cần thời gian để tế bào

trưởng thành Việc chọc tuỷ sớm không có lợi,

các tế bào đang biệt hoá dang dở sẽ bị nhận

nhầm là các tế bào non, đưa đến đánh giá không chính xác Ngoại trừ 1 trường hợp tử vong sớm, tất cả bệnh nhân (n=15) sau đó đều đạt lui bệnh

để bước vào duy trì EFS và OS sau 5 năm theo dõi là 62,7% và 94,1% Một số nghiên cứu tương

tự cũng đã chứng minh được hiệu quả vượt trội của phác đồ có sử dụng ATRA trên nhóm bệnh nhi APL, về cả đáp ứng sau điều trị lẫn theo dõi lâu dài, sau đây là kết quả của các nghiên cứu tương tự

Bảng 6 Kết quả điều trị của một số nghiên cứu tương tự

Pha tấn công ATRA+ADEAIE ATRA+AD ATRA+IDA ATRA+IDA

Kết quả này cho thấy, ATRA phối hợp

anthracycline vẫn là một lựa chọn thích hợp ở

bệnh nhi APL, dù tỉ lệ tái phát vẫn còn cao và

độc tính lâu dài của anthracyline lên trẻ chưa

được đánh giá toàn diện (Bảng 6)

Đặc điểm về biến chứng và xử trí

Mặc dù đạt được tỉ lệ lui bệnh rất tốt, biến

chứng do bệnh cũng như điều trị gặp rất phổ

biến Hai bệnh nhân có hội chứng biệt hoá do sử

dụng ATRA, trong số đó 1 ca tử vong vì xuất

huyết não đi kèm, 1 ca còn lại sử dụng

dexamethasone 10mg/ngày trong 3 ngày và

không cần ngưng ATRA Các biến chứng nặng

chỉ hiện diện ở giai đoạn tấn công, với số lượng

chế phẩm máu cần sử dụng trung bình là 5,3

đơn vị hồng cầu lắng, 7,8 đơn vị tiểu cầu, 0,5 đơn

vị kết tủa lạnh Không có bệnh nhân nào trong

nghiên cứu sử dụng chế phẩm huyết tương tươi

đông lạnh Ở giai đoạn củng cố, biến chứng

nhiễm trùng vẫn giữ ở mức cao như giai đoạn

tấn công, tuy nhiên mức độ can thiệp nhẹ hơn rõ

với chỉ trung bình 3 đơn vị hồng cầu và 2 đơn vị

tiểu cầu Pha duy trì, nổi bật lên chỉ có tình trạng

tăng men gan không triệu chứng, lên đến 73,3%

KẾT LUẬN

APL trẻ em chiếm tỉ lệ cao trong nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng nổi bật với xuất huyết không tương xứng với chỉ điểm xét nghiệm, gợi ý nâng cao cảnh giác về tình trạng tiêu sợi huyết tiềm ẩn gây nguy cơ xuất huyết não, là nguyên nhân thất bại điều trị chính trong APL trẻ em Cận lâm sàng với các đặc điểm bạch cầu cao lúc chẩn đoán, ưu thế kiểu bản gãy bcr2, bcr3 của PML/RARα Điều trị bằng phác

đồ ATRA phối hợp anthracycline cho hiệu qủa vượt trội với EFS và OS 5 năm lần lượt 62,7%

và 94,1%, mặc dù còn cần nhưng cải tiến xa hơn để vượt qua biến chứng tử vong sớm vì xuất huyết, hội chứng biệt hoá và tình trạng tái phát còn cao ở đối tượng này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aksu T (2018) Acute promyelocytic leukemia in children: a

single centre experience from turkey Mediterranean Journal of

Hematology and Infectious Diseases, 10(1):e2018045

2 De Botton S, Coiteux V, Cherret S (2004) Outcome of childhood acute promyelocytic leukemia with

all-trans-retinoic acid and chemotherapy J Clin Oncol, 22:1404-1412

3 Gregory J, Feusner J (2009) Acute promyelocytic leukemia in

childhood Curr Oncol Rep, 11(6):439–445

Trang 8

4 Malta CA, Pacheco EC, Cantù RA (1993) Childhood acute

promyelocytic leukemia in Nicaragua Ann Oncol, 4(10):892–

894

5 Raimondi SC, Privitera E, Williams DL (1991) New recurring

chromosomal translocations in childhood acute lymphoblastic

leukemia Blood, 77(9):2016-2022

6 Zhang L and Zhu X (2012) Epidemiology, diagnosis and

treatment of acute promyelocytic leukemia in children: the

experience in China Mediterr J Haematol Infect Dis, 4(1):

e2012012

Ngày nhận bài báo: 20/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/07/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 23:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w