1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen JAK2 và CALR trong bệnh tăng sinh tủy mạn tính

7 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 808,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen JAK2 và CALR. Ứng dụng quy trình xét nghiệm gen JAK2, CALR xác định đột biến gen ở bệnh nhân tăng sinh tủy mạn tính.

Trang 1

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH XÉT NGHIỆM ĐỘT BIẾN GEN JAK2 & CALR

TRONG BỆNH TĂNG SINH TỦY MẠN TÍNH

Trần Tuấn Anh * , Trần Mai Hồng * , Nguyễn Lê Anh * , Nguyễn Thùy Trang * , Nguyễn Vũ Bảo Anh * ,

Nguyễn Hà Thanh * , Bạch Quốc Khánh * , Dương Quốc Chính *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen JAK2 và CALR Ứng dụng quy trình xét nghiệm

gen JAK2, CALR xác định đột biến gen ở bệnh nhân tăng sinh tủy mạn tính

Đối tượng: Tổng số 51 mẫu của bệnh nhân thuộc nhóm tăng sinh tủy mạn tính, âm tính với nhiễm sắc thể

Ph 1, được chẩn đoán và theo dõi điều trị tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu, mô tả cắt ngang

Kết quả: Hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen JAK2 và CALR gồm: giải trình tự gen JAK2, CALR

bằng phương pháp NGS; xác định đột biến JAK2V617F bằng phương pháp mồi suy biến; đơn giản hóa quy trình xét nghiệm đột biến CALR type 1 và type 2 bằng phương pháp PCR mồi đặc hiệu Ứng dụng quy trình hoàn

thiện trên 51 bệnh nhân tăng sinh tủy mạn tính với kết quả phân tích đột biến: JAK2V617F chiếm 83,3% ở bệnh

nhân đa hồng cầu nguyên phát và 66,7% ở bệnh nhân xơ tủy nguyên phát Với bệnh tăng tiểu cầu tiên phát, đột biến CALR type 1 chiếm 11,4% và CALR type 2 chiếm 5,7% và JAK2V617F chiếm 71,4%

Kết luận: Nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen JAK2V617F bằng phương pháp mồi

suy biến; xây dựng quy trình PCR để phát hiện đột biến CALR type 1, type 2; và quy trình NGS phát hiện đột biến ít gặp Bộ quy trình hoàn thiện đã được ứng dụng trong phân tích đột biến cho 51 bệnh nhân MPNs

Từ khóa: MPNs, CALR, JAK2

ABSTRACT

OPTIMIZATION OF DETECTION PROTOCOLS FOR JAK2 AND CALR MUTATION

IN MYELOPROLIFERATIVE NEOPLASM

Tran Tuan Anh, Tran Mai Hong, Nguyen Le Anh, Nguyen Thuy Trang, Nguyen Vu Bao Anh,

Nguyen Ha Thanh, Bach Quoc Khanh, Duong Quoc Chinh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 409 - 415

Objectives: Optimizaion of detection protocols for JAK2 and CALR mutation Then applying these

protocols for Myeloproliferative neoplasm patients

Subjects: 51 Ph 1 negative MPNs patients have been diagnosed and treated in National Institute of

Hematology and Blood Transfusion

Methods: Prospective, retrospective, and cross-sectional study

Results: The protocols for detecting JAK2 and CALR mutation included: JAK2 and CALR gene sequencing

by NGS; detect JAK2V617F by degraded primer PCR; simplify protocol for detecting CALR type 1 and type 2 by specific primer PCR When these protocols were applied for 51 MPNs patients, the results obtained: JAK2V617F 83.3% and 66.7% in polycythaemia vera and primary myelofibrosis respectively; CALR type 1 11.4%, CALR type 2 5.7% and JAK2V617F 71.4% in essential thrombocythemia

Conclusion: The optimizesd detection protocols for JAK2 and CALR mutation are effective and easy to

*Bệnh viện Nhi Đồng 1 **Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh* Viện Huyết học -Truyền máu TW

Tác giả liên lạc: TS Dương Quốc Chính ĐT: 0962168505 Email: chinh.duong@nihbt.org.vn

Trang 2

apply in any molecular diagnostic laboratory and the analysis results of 51 MPNs patients confirmed the

effectiveness of the methods

Key words: MPNs, CALR, JAK2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng sinh tủy mạn tính (Myeloproliferative

neoplasm – MPNs) là nhóm bệnh lý đơn dòng

của tế bào gốc tạo máu Bệnh gây nên do sự tăng

sinh không kiểm soát của các tế bào gốc sinh

máu trong tủy xương, tiến triển mạn tính do liên

quan đến khả năng biệt hóa đến giai đoạn

trưởng thành của tế bào dẫn tới tăng sinh các tế

bào trưởng thành ở máu ngoại vi(5)

Bệnh được đặc trưng bởi sự xuất hiện của

các đột biến trên gen JAK2, CALR hoặc MPL Đột

biến trên những gen này là đặc trưng quan trọng

được sử dụng cho chẩn đoán, tiên lượng và lựa

chọn phương thức điều trị bệnh

Kể từ những công bố đầu tiên về đột biến

trên gen JAK2 (2005)(2) và đột biến gen CALR

(2013)(9), các phòng nghiên cứu và xét nghiệm

sinh học phân tử đã xây dựng nhiều phương

pháp khác nhau để phát hiện đột biến gồm: PCR

đặc hiệu alen, PCR phân tích đoạn, giải trình tự

Sanger, giải trình tự NGS (Next-Generation

Sequencing)(2,9,10,14)

Khi vận dụng những phương pháp trên

trong xét nghiệm thường quy thì ngoài tính

chính xác, độ nhạy và độ đặc hiệu; còn một yếu

tố quan trọng hơn cả là mức độ ổn định của mỗi

quy trình xét nghiệm Bên cạnh đó, cần hiểu rõ

mặt hạn chế và vận dụng điểm mạnh của mỗi

phương pháp xét nghiệm trong những trường

hợp cụ thể; đồng thời việc đơn giản hóa quy

trình kỹ thuật cũng cần được cân nhắc khi xây

dựng một quy trình xét nghiệm thường quy Do

đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Hoàn thiện quy

trình xét nghiệm đột biến gen JAK2 và CALR

trong bệnh tăng sinh tủy mạn tính”

Mục tiêu

Hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến

gen JAK2 và CALR Ứng dụng quy trình xét

nghiệm gen JAK2, CALR xác định đột biến gen ở

bệnh nhân tăng sinh tủy mạn tính

ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Tổng số 51 mẫu của bệnh nhân thuộc nhóm tăng sinh tủy mạn tính, âm tính với nhiễm sắc thể Ph 1, được chẩn đoán và theo dõi điều trị tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương

Phương pháp

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, tiến cứu kết hợp hồi cứu

Kỹ thuật PCR phát hiện đột biến JAK2V617F, CALR type 1, type 2

Kỹ thuật PCR mồi đặc hiệu sử dụng mồi bổ sung hoàn toàn với alen mang đột biến và chỉ sai khác với alen bình thường tại một vị trí đột biến Với một sai khác duy nhất mồi vẫn có thể bắt cặp vào sợi alen bình thường để tạo nên các đoạn sản phẩm không đặc hiệu

Kỹ thuật PCR mồi suy biến sử dụng mồi suy biến có sửa đổi 1 nucleotide trong phạm vi 5 nucleotide đầu 3’ của mồi Như vậy mồi suy biến sẽ khác alen bình thường tại 2 vị trí: (1) vị trí đột biến và (2) vị trí suy biến có chủ ý nằm trong phạm vi 5 nu đầu tiên đầu 3’ của mồi Thiết kế này nhằm giảm khả năng bắt cặp của mồi với alen bình thường trong khi vẫn khuếch đại thành công alen đột biến; như vậy sẽ giải quyết được tình trạng hình thành các băng sản phẩm không đặc hiệu

KẾT QUẢ

Hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen

JAK2

Kết quả hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến JAK2V617F

Kết quả điện di trong Hình 1 cho thấy hiện tượng xuất hiện băng sản phẩm không đặc hiệu

trùng với kích thước băng đột biến JAK2V617F ở

tất cả các mẫu Kết quả điện di trong Hình 2 không xuất hiện băng sản phẩm không đặc hiệu

ở tất cả các mẫu mà chỉ xuất hiện băng đột biến

Trang 3

và đặc hiệu ở những mẫu dương tính với đột biến JAK2V617F (Hình 1, 2)

Hình 1 Kết quả ứng dụng quy trình phát hiện đột biến JAK2V617F theo phương pháp PCR mồi đặc hiệu

Hình 2 Kết quả hoàn thiện quy trình phát hiện đột biến JAK2V617F bằng phương pháp PCR mồi suy biến

Hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen

CALR

Kết quả giải trình tự gen CALR bằng phương

pháp NGS

Hình 4 là kết quả phân tích dữ liệu NGS

bằng phần mềm IGV: với mẫu 30205 mang mất

đoạn chèn 5 nucleotide “TTGTC” hay CALR

type 2 (Hình 4a) và mẫu 30124 không phát hiện

được bất thường (Hình 4b)

Hình 3 Kết quả phân lập gen CALR exon 1 đến exon

9, có chiều dài ~6 kb

Hình 4 Kết quả phân tích dữ liệu NGS gen CALR bằng phần mềm IGV

Kết quả hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột

biến CALR type 1, type 2

Kết quả xét nghiệm đột biến CALR type 1, type 2

bằng phương pháp PCR mồi đặc hiệu

Hình 5 biểu hiện kết quả xác định mất đoạn

gen CALR bằng phương pháp PCR mồi đặc

hiệu: mẫu dương tính đột biến mất đoạn 52

nucleotide hay CALR type 1 xuất hiện băng nội

kiểm 141 bp và băng đặc hiệu đột biến 89 bp

(Hình 5a); mẫu dương tính đột biến mất đoạn 31

nucleotide xuất hiện băng nội kiểm 192 bp và

băng đặc hiệu đột biến 161 bp (Hình 5b)

Hình 6 thể hiện kết quả xác định đột biến chèn 5 nucleotide “TTGTC” hay CALR type 2

bằng phương pháp PCR mồi đặc hiệu, mẫu dương tính xuất hiện băng nội kiểm 265 bp và băng đặc hiệu đột biến 156 bp

Kết quả xác định mất đoạn gen CALR bằng phương pháp giải trình tự Sanger

Kết quả xác nhận giá trị hay tính chính xác

Trang 4

của quy trình xét nghiệm mất đoạn CALR type 1

được thể hiện trong Hình 7 và mất đoạn 31

nucleotide được thể hiện trong Hình 8

Kết quả ứng dụng trong phân tích đột biến gen

cho nhóm bệnh nhân tăng sinh tủy mạn tính

Bệnh nhân đa hồng cầu nguyên phát và xơ

tủy nguyên phát chỉ mang đột biến JAK2V617F

với 83,3% ở bệnh nhân đa hồng cầu nguyên phát

và 66,7% ở bệnh nhân xơ tủy nguyên phát Với

bệnh tăng tiểu cầu tiên phát, đột biến CALR type

1 chiếm 11,4% và CALR type 2 chiếm 5,7% và JAK2V617F chiếm 71,4% (Bảng 1)

Hình 5 Kết quả xác định (a) đột biến CALR type 1 và (b) mất đoạn 31 nucleotide

Hình 6 Kết quả xác định đột biến CALR type 2 chèn 5 nucleotide “TTGTC”

Hình 7 Kết quả phân tích vùng đứt gãy đột biến CALR type 1

Hình 8 Kết quả phân tích vùng đứt gãy mất đoạn 31 nucleotide gen CALR

Trang 5

Bảng 1 Kết quả thống kê đột biến gen JAK2, CALR trong 51 bệnh nhân MPNs

Đột biến gen

Tổng

Âm tính JAK2 V617F CALR type 1(*) CALR type 2

(*) 5 mẫu đột biến mất đoạn gồm 4 mẫu đột biến CALR type 1 mất 52 nucleotide và một mẫu đột biến hiếm gặp mất đoạn 31

nucleotide

BÀN LUẬN

Tăng sinh tủy mạn tính là nhóm bệnh lý

được đặc trưng bởi sự xuất hiện của đột biến

trên các gen JAK2, CALR hoặc MPL Năm 2005,

bốn nhóm nghiên cứu độc lập về hội chứng tăng

sinh tủy đã lần lượt công bố đột biến trên gen

JAK2 làm biến đổi acid amin valine ở codon 617

thành phenylalanine – được ký hiệu là

JAK2V617F(2,6,11,12) Đây là đột biến điểm xuất hiện

trong hơn 95% trường hợp đa hồng cầu và trong

hơn 60% trường tăng tiểu cầu tiên phát hoặc xơ

tủy nguyên phát Phương pháp được sử dụng

rộng rãi nhất để phát hiện đột biến JAK2V617F là

PCR đặc hiệu alen Trên cơ sở đó, chúng tôi đã

xây dựng quy trình xét nghiệm đột biến

JAK2V617F bằng phương pháp PCR mồi đặc

hiệu Sau hơn 4 năm áp dụng (2012 - 2017), quy

trình này còn tồn tại một vấn đề là nhiều mẻ xét

nghiệm băng sản phẩm đột biến xuất hiện

không đặc hiệu ở cả mẫu âm tính, gây khó khăn

trong phân tích kết quả (Hình 1) Qua tham khảo

tài liệu, chúng tôi nhận thấy hiện tượng xuất

hiện sản phẩm không đặc hiệu thường gặp phải

khi xác định các đột biến điểm bằng PCR mồi

đặc hiệu Nguyên nhân của hiện tượng này là do

mồi đặc hiệu cho alen đột biến chỉ sai khác với

alen bình thường 1 nucleotide, vì vậy mồi đặc

hiệu vẫn có thể bắt cặp alen bình thường với

hiệu suất thấp hơn Nhằm ổn định quy trình xét

nghiệm và giải quyết triệt để hiện tượng sản

phẩm không đặc hiệu, chúng tôi đã thay đổi

thiết kế của mồi đặc hiệu sang mồi suy biến Đối

với mồi suy biến thì ngoài nucleotide sai khác tại

vị trí đột biến còn chủ ý tạo thêm một sai khác nữa so với alen bình thường tại vị trí thứ 3 từ đầu 3’ của mồi Như vậy, với 2 sai khác mồi suy biến sẽ mất khả năng bắt cặp alen bình thường Kết quả áp dụng quy trình hoàn thiện từ năm

2018 đến nay cho thấy hiện tượng sản phẩm không đặc hiệu được giải quyết triệt để và đã giúp ổn định xét nghiệm thường quy đột biến

JAK2V617F (Hình 2)

Trong tăng sinh tủy mạn tính đột biến trên

gen CALR tuy mới được phát hiện gần đây

(2013) nhưng đã cho thấy vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh, với tần suất từ 17% đến 27% ở bệnh nhân tăng tiểu cầu tiên phát hoặc xơ tủy nguyên phát(9) Cho đến nay,

hơn 50 đột biến đã được công bố trên gen CALR exon 9 trong đó 2 thể phổ biến nhất là CALR

type 1 mất 52 nucleotide (chiếm hơn 50%) và

CALR type 2 chèn 5 nucleotide “TTGTC” (chiếm

hơn 30%)(4) Nhờ vào những ưu điểm vượt trội về cỡ mẫu lớn trong một mẻ chạy, đòi hỏi rất ít lượng ADN/ARN đầu vào và độ chính xác cao mà công nghệ giải trình tự NGS đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều bệnh lý huyết học Hơn nữa, NGS còn một thế mạnh là phát hiện được nhiều dạng đột biến như: biến đổi đơn nucleotide (SNV), chèn và mất đoạn nhỏ (ins/dels), biến đổi số lượng bản sao (CNV)(10,14,15) Trên cơ sở đó, chúng tôi đã ứng dụng thành công giải trình tự NGS để phân tích đột biến trên

Trang 6

toàn bộ gen CALR (exon 1 đến exon 9) Khi phân

tích dữ liệu NGS chúng tôi đã xác định được

những trường hợp mang đột biến CALR type 2

và các biến thể chèn 5 nucleotide tương tự (Hình

4a) Tuy nhiên không xác định được đột biến

CALR type 1 mà thay vào đó là những mẫu gọi

ra hàng loạt biến thể trong vùng ~50 bp khi phân

tích trên CLC và không phát hiện thấy đột biến

khi phân tích trên IGV (Hình 4b) Như vậy kết

quả trên CLC cho thấy sự bất thường về dữ liệu

sau khi phân tích

Qua tìm hiểu nghiên cứu của Kluk (2016),

chúng tôi biết được hạn chế khi phân tích đột

biến bằng công nghệ NGS của Illumina là không

thể xác định được những mất đoạn lớn hơn 25

bp(10) Đây là lý do mà chúng tôi không thể xác

định đột biến CALR type 1 mất đoạn 52 bp khi

phân tích kết quả NGS Như vậy quy trình xét

nghiệm bằng NGS giúp phân tích hiệu quả đột

biến trên gen CALR ngoại trừ những mất đoạn

>25 bp Một số giải pháp đã được bổ sung để

phát hiện những mất đoạn này gồm: phân tích

đường cong biến tính (HRM), PCR phân tích

đoạn trên máy điện di mao quản, giải trình tự

trực tiếp theo phương pháp Sanger(3,5) Cả 3 giải

pháp trên đều cho phép phát hiện đột biến

CALR type 1 và những mất đoạn khác, tuy nhiên

đây đều là những phương pháp khá phức tạp và

yêu cầu thiết bị đặc thù Với HRM được thực

hiện trên máy realtime PCR và khá nhạy cảm;

PCR phân tích đoạn đòi hỏi máy điện di mao

quản Đối với giải trình tự theo phương pháp

Sanger, việc phân tích kết quả đột biến mất đoạn

tương đối khó khăn do hiện tượng chồng đỉnh

tín hiệu khi giải trực tiếp từ sản phẩm PCR

Phương pháp này đòi hỏi phải tinh sạch đoạn

sản phẩm chứa vùng mất đoạn bằng thôi gel

Trong nghiên cứu này chúng tôi đơn giản hóa

quy trình xét nghiệm đột biến CALR type 1 bằng

phương pháp PCR mồi đặc hiệu Kết quả trong

Hình 5a cho thấy mẫu dương tính đột biến CALR

type 1 thì ngoài băng nội kiểm còn xuất hiện

thêm một băng sản phẩm kích thước 89 bp Tính

chính xác của quy trình xét nghiệm được kiểm

chứng và xác nhận giá trị thông qua việc giải trình tự đoạn sản phẩm đặc hiệu (89 bp) trên hệ

thống AB3500, kết quả phân tích trong Hình 7

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng xác định một trường hợp mang mất đoạn 31 nucleotide

hiếm gặp (Hình 5b) Mất đoạn này cũng được

chúng tôi xây dựng quy trình xét nghiệm bằng PCR mồi đặc hiệu và xác nhận giá trị bằng phương pháp giải trình tự theo nguyên lý

Sanger (Hình 8) Nhằm đơn giản hóa hơn nữa quy trình xét nghiệm đột biến gen CALR chúng

tôi tiếp tục xây dựng quy trình PCR xác định đặc

hiệu đột biến CALR type 2, kết quả được thể hiện trong Hình 6

Sau khi đã hoàn thiện quy trình xét nghiệm

đột biến gen JAK2 và gen CALR, chúng tôi đã áp

dụng bộ quy trình hoàn thiện cho 51 mẫu bệnh nhân MPNs Kết quả về tỷ lệ đột biến gen cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Kim, Seon Young và Lin, Yani(8,13) Với đột biến gen

CALR, chúng tôi mới phát hiện trên các bệnh

nhân tăng tiểu cầu tiên phát (11,4% type 1 và 5,7% type 2) mà chưa có trường hợp nào với bệnh lý xơ tủy nguyên phát Điều này có thể do

số lượng bệnh nhân xơ tủy nguyên phát của chúng tôi chưa đủ lớn

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình xét nghiệm đột biến gen JAK2V617F bằng phương pháp mồi suy biến; xây dựng quy trình PCR để phát hiện đột biến CALR type 1, type 2; và quy trình NGS phát hiện đột biến ít gặp Bộ quy trình hoàn thiện đã được ứng dụng trong phân tích đột biến cho 51 bệnh nhân MPNs

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arber DA, Orazi A, Hasserjian R, et al (2016) The 2016 revision

to the World Health Organization classification of myeloid

neoplasms and acute leukemia Blood, 127(20):2391–2405

2 Baxter EJ, et al (2005) Acquired mutation of the tyrosine kinase

JAK2 in human myeloproliferative disorders The Lancet,

365(9464):1054–1061

3 Chi J, Manoloukos M, Pierides C, et al (2015) CALReticulin

mutations in myeloproliferative neoplasms and new

methodology for their detection and monitoring Annals of

Hematology, 94(3):399–408

Trang 7

4 Chi J, Nicolaou KA, et al (2014) CALReticulin gene exon 9

frameshift mutations in patients with thrombocytosis Leukemia,

28(5):1152–1154

5 Doyle LJ, Betz BL, Weigelin HC, et al (2019) Comparison of

real‐time PCR vs PCR with fragment length analysis for the

detection of CALR mutations in suspected myeloproliferative

neoplasms International Journal of Laboratory Hematology,

25(7):1429-1431

6 James C, et al (2005) A unique clonal JAK2 mutation leading to

constitutive signalling causes polycythaemia vera Nature,

434(7037):1144–1148

7 Jones AV, et al (2015) Evaluation of methods to detect CALR

mutations in myeloproliferative neoplasms Leukemia Research,

39(1):82–87

8 Kim SY, Im K, Park SN, Kwon J, Kim JA (2015) CALR, JAK2,

and MPL Mutation Profiles in Patients with Four Different

Subtypes of Myeloproliferative Neoplasms American Journal of

Clinical Pathology, 143(5):635–644

9 Klampfl T., et al (2013) Somatic Mutations of CALReticulin in

Myeloproliferative Neoplasms New England Journal of Medicine,

369(25):2379–2390

10 Kluk MJ, Lindsley RC, Aster JC, et al (2016) Validation and

Implementation of a Custom Next-Generation Sequencing

Clinical Assay for Hematologic Malignancies Journal of

Molecular Diagnostics, 18(4):507–515

11 Kralovics R, Passamonti F, Buser AS, et al (2005) A

Gain-of-Function Mutation of JAK2 in Myeloproliferative Disorders

New England Journal of Medicine, 352(17): 1779–1790

12 Levine RL, Wadleigh M, Cools J, et al (2005) Activating

mutation in the tyrosine kinase JAK2 in polycythemia vera,

essential thrombocythemia, and myeloid metaplasia with

myelofibrosis Cancer Cell, 7(4):387–397

13 Lin Y, et al (2015) The Prevalence of JAK2, MPL and CALR Mutations in Chinese Patients with BCR-ABL1 –Negative Myeloproliferative Neoplasms American Journal of Clinical

Pathology, 144(1):165–171

14 Murugesan G, Guenther-Johnson J, et al (2016) Validation of a

molecular diagnostic assay for CALR exon 9 indels in myeloproliferative neoplasms: identification of coexisting JAK2 and CALR mutations and a novel 9 bp deletion in CALR

International Journal of Laboratory Hematology, 38(3):284–297

15 Palumbo GA, Stella S, Pennisi MS, et al (2019) The Role of New

Technologies in Myeloproliferative Neoplasms, Frontiers in

Oncology, 9: 321

16 Pavlov I, Hadjiev E, Alaikov T, et al (2018) CALReticulin Mutations in Bulgarian MPN Patients Pathology & Oncology

Research, 24(1):171–174

Ngày nhận bài báo: 22/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 23:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w