1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng các hướng dẫn quốc tế trong dự phòng và điều trị nhiễm candida xâm lấn trên bệnh nhân ghép tế bào gốc

8 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 338,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiễm Candida nấm xâm lấn là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình điều trị các bệnh lý ác tính huyết học, đặc biệt là trên những đối tượng được ghép tế bào gốc tạo máu, đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong quá trình điều trị, Candida spp đã được ghi nhận là tác nhân vi nấm thường gặp nhất trong giảm bạch cầu. Hiện nay, trên thế giới đã có một số khuyến cáo mới trong việc dự phòng, điều trị nhiễm nấm nói chung và các thể candida xâm lấn nói riêng nhằm cải thiện tỉ lệ tử vong cũng như kết cục chung trong việc quản lý và điều trị các bệnh lý ác tính huyết học. Chúng tôi ứng dụng các hướng dẫn quốc tế vào thực hành lâm sàng tại Việt Nam.

Trang 1

ỨNG DỤNG CÁC HƯỚNG DẪN QUỐC TẾ TRONG DỰ PHÒNG

VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM CANDIDA XÂM LẤN TRÊN BỆNH NHÂN GHÉP TẾ BÀO GỐC

Huỳnh Văn Mẫn * , Đinh Gia Khánh ** , Phù Chí Dũng *

TÓM TẮT

Nhiễm Candida nấm xâm lấn là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình điều trị các bệnh lý ác tính huyết học, đặc biệt là trên những đối tượng được ghép tế bào gốc tạo máu, đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong quá trình điều trị, Candida spp đã được ghi nhận là tác nhân vi nấm thường gặp nhất trong giảm bạch cầu Hiện nay, trên thế giới đã có một số khuyến cáo mới trong việc dự phòng, điều trị nhiễm nấm nói chung và các thể candida xâm lấn nói riêng nhằm cải thiện tỉ lệ tử vong cũng như kết cục chung trong việc quản lý và điều trị các bệnh lý ác tính huyết học Chúng tôi ứng dụng các hướng dẫn quốc tế vào thực

hành lâm sàng tại Việt Nam

Từ khóa: candida

ABSTRACT

APPLICATION OF INTERNATIONAL GUIDELINES IN THE PROPHYLAXIS AND TREATMENT

OF INVASIVE CANDIDIASIS IN HEMATOPOIETIC STEM CELL TRANSPLANT PATIENTS

Huynh Van Man, Dinh Gia Khanh, Phu Chi Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 32 – 39

Invasive fungal candidiasis is one of the important problems in the treatment of hematological malignancies, especially in hematopoietic stem cell transplantation, which is one of the causes of death Leading the course of treatment, Candida spp has been reported to be the most common fungal agent in Neutropenia Currently, there are some new recommendations in the prevention and treatment of fungal infections in general and invasive candidiasis in particular in the world to improve mortality as well as general outcomes in management and treatment of hematological malignancies We apply international guidelines for clinical practice in Vietnam

Key word: candida

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm Candida nấm xâm lấn là một trong

những vấn đề quan trọng trong quá trình điều

trị các bệnh lý ác tính huyết học, đặc biệt là trên

những đối tượng được ghép tế bào gốc tạo máu,

đây là một trong những nguyên nhân gây tử

vong hàng đầu trong quá trình điều trị, Candida

spp từ lâu đã được ghi nhận là tác nhân vi nấm

thường gặp nhất trong thời gian giảm bạch cầu

hạt(2,4) Tuy nhiên ngày nay tỉ lệ tử vong do nấm

mốc đặc biệt là Aspergillus spp đã có sự gia tăng

đáng kể, nguyên nhân có thể do việc dự phòng

tập trung trên nấm men(3,12) Hiện nay, trên thế

giới đã có một số khuyến cáo mới trong việc dự phòng, điều trị nhiễm nấm nói chung và các thể

Candida xâm lấn nói riêng nhằm cải thiện tỉ lệ tử

vong cũng như kết cục chung trong việc quản lý

và điều trị các bệnh lý ác tính huyết học

CÁC GUIDELINE QUỐC TẾ

ASCO (American Society of Clinical Oncology): Hội ung thư lâm sàng Hoa Kỳ

NCCN (National Comprehensive Cancer Network): Mạng lưới ung thư quốc gia Hoa Kỳ ECIL (European Conference on Infections in Leukaemia): Hội nghị Châu Âu về nhiễm trùng

*Bệnh viện Truyền máu Huyết học **Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS.BS Huỳnh Văn Mẫn ĐT: 0975449818 Email: huynhvanman@yahoo.com

Trang 2

trên bệnh bạch cầu

ESCMID: (European Society of Clinical

Microbiology and Infectious Diseases): Hội vi

sinh lâm sàng và truyền nhiễm Châu Âu

IDSA (Infectious Diseases Society of

America): Hội truyền nhiễm Hoa Kỳ

IDST (Infectious Diseases Society of Taiwan):

Hội truyền nhiễm Đài Loan

THUỐC KHÁNG NẤM TRONG DỰ PHÒNG

VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM CANDIDA XÂM LẤN

Amphotericin B

Amphotericin B là một thuốc kháng nấm họ

polyene, hoạt động tiêu diệt vi nấm với cơ chế là

liên kết với các phần tử sterol mà phần chính là

ergosterol, tạo nên các lỗ thủng trên vách tế bào

nấm, làm rò rỉ thành phần nội bào

Amphotericin B deoxycholate là một chế

phẩm thông dụng được dùng để điều trị

nhiễm nấm Candida trong hàng thập kỷ, tỏ ra

có hiệu quả trên hầu hết các chủng Candida,

nhưng độc tính của nó thì luôn là một vấn đề

mà các nhà lâm sàng phải đối mặt, đặc biệt là

trên thận Ngày nay, sự ra đời của các chế

phẩm như amphotericin dạng lipid đã làm

tăng hiệu quả của điều trị và giảm đáng kể

độc tính của thuốc(14)

Nhóm Azoles

Các thuốc được sử dụng gồm có:

Fluconazole, itraconazole, voriconazole,

posaconazole

Các thuốc này hoạt động dựa trên cơ chế ức

chế cytochrome P450, ngăn cản sự hình thành

ergosterol từ lanosterol, thành phần của vách tế

bào vi nấm

Fluconazole đã được sử dụng rộng rãi từ lâu

để điều trị nhiễm Candida kể từ khi được FDA

công nhận vào năm 1990, hiện nay vẫn được sử

dụng vì tính phổ biến, tương đối an toàn và hiệu

quả của nó

Itraconazole hầu như chỉ có đường uống, các

nghiên cứu về itraconazole trong điều trị nhiễm

Candida xâm lấn có phần hạn chế, mặt khác sinh

khả dụng của nó rất thay đổi, phụ thuộc vào thức ăn và pH dạ dày, các thuốc ức chế bơm proton (PPI) hay đối vận thụ thể H2 làm giảm sự hấp thu thuốc(9,0), nhìn chung được sử dụng với vai trò dự phòng hoặc cân nhắc trong một số

trường hợp dùng nhiễm Candida niêm mạc

Voriconazole có hoạt tính chống các chủng candida tỏ ra hiệu quả hơn fluconazole, với nồng

độ ức chế tối thiểu thấp hơn(5), nồng độ voriconazole trong dịch não tuỷ và thuỷ tinh thể cũng đạt được trên 50% nồng độ trong huyết thanh, do đó nó được chứng minh là hiệu quả trong điều trị nhiễm ở các vị trí này(7,17)

Posaconazole là một thuốc mới có thể dùng được đường uống và đường tĩnh mạch, được chấp nhận dùng để dự phòng nhiễm nấm ở những đối tượng dị ghép tế bào gốc tạo máu, bệnh mảnh ghép chống ký chủ (GVHD) và trên những bệnh nhân giảm bạch cầu hạt kéo dài bởi hoá trị liệu, có phổ tác động trên các chủng candida tương tự như Voriconazole, tuy nhiên bằng chứng từ các dữ liệu lâm sàng chưa đủ để đưa Posaconazole vào điều trị ngoại trừ nhiễm

Candida hầu họng(16)

Nhóm Echidocandin

Gồm có caspofungin, anidulafungin và micafungin Các thuốc này tác động bằng cách

ức chế sự tổng hợp 1,3-beta-D-glucan, thành phần không thể thiếu trong vách tế bào nấm(6) Các echidocandin có hoạt tính kháng nấm và MIC thấp đối với hầu hết các chủng Candida, nhanh chóng đạt được nồng độ điều trị ở các vị trí nhiễm trong cơ thể ngoại trừ mắt, thần kinh trung ương và nước tiểu(1) Độc tính thấp và hiệu quả cao nên được chấp thuận trong điều trị

nhiễm candida huyết và các thể nhiễm Candida

xâm lấm khác

Phổ tác dụng của các loại thuốc kháng nấm

(Bảng 1)

Độc tính của các thuốc kháng nấm

Mặc dù tính an toàn và khả năng dung nạp của các liệu pháp kháng nấm toàn thân đã được

Trang 3

cải thiện đáng kể theo thời gian, tuy nhiên các

trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch

cần sử dụng liệu pháp kháng nấm toàn thân một

cách lâu dài, các tác dụng phụ và độc tính của thuốc luôn luôn phải được chú ý và cân nhắc trên từng cá thể(10) (Bảng 2)

Bảng 1 Phổ tác động của các loại thuốc kháng nấm (1)

Aspergillus

Candida

AmB: Amphotericin B, Flu: Fluconazole, Itr: Itraconazole, Vor: Voriconazole, Pos: Posaconazole,

Ani: Anidulafungin, Cas: Caspofungin, Mica: Micafungin, (+): có hoạt tính kháng nấm,

(-): Không có hoạt tính kháng nấm, (+/-): Hoạt tính thay đổi

Bảng 2 Các độc tính phổ biến của thuốc kháng nấm

Độc tính trên gan Nhóm azoles, Amphotericin B, Echidocandin

Độc tính trên thận Amphotericin B, voriconazole tĩnh mạch

Tăng nhạy cảm ánh sáng/ác tính hoá (Voriconazole)

Hội chứng QT dài: Nhóm azoles, đặc biệt là có tương tác thuốc

DỰ PHÒNG NHIỄM NẤM

Tình huống 1

Bệnh nhân nữ 49 tuổi, chẩn đoán bạch cầu

cấp dòng tuỷ, đạt lui bệnh sau điều trị tấn

công và tăng cường, bệnh nhân chuẩn bị được

dị ghép tế bào gốc tạo máu, chọn lựa kháng

nấm dự phòng

Khuyến cáo của ASCO/ IDSA 2018

Sử dụng kháng nấm dự phòng với nhóm

triazole uống hoặc echinocandin truyền tĩnh mạch đối với những bệnh nhân có nguy cơ giảm

bạch cầu sâu và kéo dài (Bảng 3), triazole phủ tác nhân nấm mốc (Posaconazole, Voriconazole,

itraconazole) được khuyến cáo khi có nguy cơ

nhiễm Aspergillus xâm lấn, ví dụ như trong hầu

hết những bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tuỷ/loạn sinh tuỷ, ghép tế bào gốc tạo máu hoặc trong quá trình điều trị bệnh mảnh ghép chống

ký chủ (Mức độ khuyến cáo trung bình, mức độ

Trang 4

chứng cứ trung bình)(13)

Thời gian: Trong suốt thời gian giảm bạch

cầu hạt

Bảng 3 Những yếu tố làm tăng nguy cơ sốt giảm bạch cầu hạt ở bệnh nhân bệnh ác tính được hoá trị thuốc độc

tế bào

Đặc tính cá thể

Giai đoạn sốt giảm bạch cầu hạt trước đó Nguy cơ ở chu kỳ 2 - 6 tăng gấp 4 lần nếu sốt giảm

bạch cầu hạt xuất hiện ở chu kỳ 1

Bệnh kèm theo Tỉ lệ sốt giảm bạch cầu hạt tăng 27%, 67% và 125% tương ứng với 1,2 và 3 bệnh kèm theo

Bệnh ác tính nền

Chẩn đoán

Bạch cầu cấp dòng tuỷ/loạn sinh tuỷ (85 - 95%) Lymphoma độ ác tính cao (35 - 71%) Non-Hogkin lymphoma/Đa u tuỷ (26%) Hogkin lymphoma (15%) Giai đoạn ung thư Nguy cơ tăng khi giai đoạn  2

Trạng thái đáp ứng

Nguy cơ tăng khi không đáp ứng

(Nguy cơ thấp nhất khi bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn, cao hơn ở bệnh nhân đạt đáp ứng một phần và tăng thêm nếu bệnh dai dẳng, kháng trị hoặc tiến

triển trong khi đang điều trị)

Liên quan đến

điều trị

Thuốc độc tế bào

Anthracyclines liều  90 mg/m2 Cisplatin liều  100 mg/m2 Ifosfamide liều  9 g/m2 Cyclophosphamide liều  1 g/m2 Etoposide liều  500 mg/m2 Cytarabine liều  1 g/m2 Liệu pháp liều cao

Mức độ và thời gian loét miệng/loét đường tiêu hoá Tăng nếu loét niêm mạc độ  3 Mức độ và thời gian giảm bạch cầu Giảm bạch cầu hạt sâu, kéo dài với số lượng

Neutrophil tuyệt đối <100/uL trên 7 ngày

Khuyên cáo của NCCN

Bảng 4 Khuyến cáo của NCCN 2019 trong việc sử dụng kháng nấm dự phòng ở bệnh nhân nhiễm liên quan đến

ung thư

NGUY CƠ

NHIỄM

BỆNH LÝ/ CHẾ ĐỘ ĐIỀU

TRUNG BÌNH

ĐẾN CAO

ALL

Cân nhắc:

• Fluconazole hoặc M icafungin (khuyến cáo nhóm 2A)

• Sản phẩm Amphotericin B (khuyến cáo nhóm 2B)

Cho tới khi giải quyết tình trạng giảm bạch cầu hạt MDS (giảm bạch cầu hạt)

AML (giảm bạch cầu hạt)

Cân nhắc:

• Posaconazole (khuyến cáo nhóm 1)

• Voriconazole, Fluconazole, Micafungin hoặc sản phẩm

Amphotericin B (Khuyến cáo nhóm 2B)

Tự ghép tế bào gốc có loét niêm mạc

Cân nhắc:

• Fluconazole hoặc Micafungin (khuyến cáo nhóm 1)

Tự ghép tế bào gốc không

có loét niêm mạc

Cân nhắc không dự phòng kháng nấm (khuyến cáo

nhóm 2B)

Dị ghép tế bào gốc (giảm

bạch cầu hạt)

Cân nhắc:

• Fluconazole hoặc Micafungin ( khuyến cáo nhóm 1)

Trong quá trình giảm bạch cầu hạt

Trang 5

NGUY CƠ

NHIỄM

BỆNH LÝ/ CHẾ ĐỘ ĐIỀU

• Voriconazole,Posaconazole hoặc sản phẩm Amphotericin B (khuyến cáo nhóm 2B)

GVHD

Xem xét:

• Posaconazole (khuyến cáo nhóm 1)

• Voriconazole,Echinocandin, hoặc sản phẩm Amphotericin B (khuyến cáo nhóm 2B)

Tới khi giải quyết GVHD

ALL: Bạch cầu cấp dòng lympho, MDS: Hội chứng loạn sinh tuỷ, AML: Bạch cầu cấp dòng tuỷ,

Khuyến cáo nhóm I: Bằng chứng cao, NCCN đồng thuận, thống nhất can thiệp là phù hợp,

Nhóm 2A: Bằng chứng thấp hơn, NCCN đồng thuận, thống nhất can thiệp là phù hợp,

Nhóm 2B: Bằng chứng thấp hơn, NCCN thống nhất can thiệp là phù hợp

ĐIỀU TRỊ KHÁNG NẤM THEO KINH NGHIỆM

Tình huống 2

Bệnh nhân nữ 29 tuổi, chẩn đoán bạch cầu

cấp dòng tuỷ, điều trị hoá trị liệu đạt lui bệnh

sau giai đoạn tấn công, đang điều trị giai đoạn

tăng cường ngày thứ 15, bệnh nhân còn sốt sau 4

ngày dùng imipenem/cilastatin và amikacin

Chọn lựa điều trị kháng nấm kinh nghiệm

Khuyến cáo của ESCMID

Các phương án thay thế được cân nhắc dựa

trên các điều kiện: tình trạng đề kháng tại cơ sở

(trước khi có được thông tin của bệnh nhân),

tình trạng dị ứng, dược động/dược lực, đề kháng

hoặc bất dung nạp với điều trị ban đầu hoặc tiến

triển nặng khi đang điều trị ban đầu (Bảng 5)

Theo dõi

Theo dõi cấy máu nên được thực hiện từ

48h-72h sau liệu pháp kháng nấm, sau đó cách

ngày để xác định mốc thời gian tình trạng nhiễm nấm huyết được giải quyết (Mức độ khuyến cáo mạnh, mức độ chứng cứ thấp)(8)

Khuyến cáo của IDSA 2016

Liposomal Amphotericin B (3 mg/kg/ngày truyền tĩnh mạch)

Caspofungin (Liều tải 70 mg/ngày đầu và 50 mg/ngày trong những ngày tiếp theo)

Micafungin (100 mg/ngày)

Voriconazole (6 mg/kg x 2 ngày đầu, 4 mg/kg

x 2/ngày những ngày kế tiếp)

Khuyến cáo của NCCN 2019

Cân nhắc liệu pháp kháng nấm (có phủ nấm mốc), nếu sốt vẫn còn trên 4 ngày điều trị với kháng sinh phổ rộng kinh nghiệm(11)

Bảng 5 Khuyến cáo điều trị kháng nấm kinh nghiệm của ESCMID 2017 (18)

Đối tượng Hành động Mức độ

khuyến cáo

Mức độ chứng cứ Ghi chú

Hoá trị liệu ở bệnh lý ác

tính huyết học hoặc ghép

tế bào gốc

Giảm bạch cầu hạt

<500/uL  96h, sốt

(38oC) và đã sử dụng

kháng sinh tĩnh mạch

phổ rộng 96h (Một số

cân nhắc trên 48h)

Caspofungin 70mg liều tải/ngày đầu 50mg/ngày những ngày sau

A I Liên quan đến tỉ lệ sống còn cao hơn so

với Liposomal amphotericin B (Nghiên

cứu nhóm nhỏ) Liposomal Amphotericin B

3 mg/Kg

B I Ít độc tính khi so với Amphotericin cổ

điển, nhưng độc tính tại thận nhiều hơn

echinocandin

Voriconazole

6 mg/Kg x 2 /ngày đầu

4 mg/Kg x 2 /những ngày sau

B II Thất bại trong 10% thử nghiệm so sánh

không thua kém với Liposomal amphotericin B

Hiệu quả điều trị giới hạn đối với những bệnh nhân đã dự phòng nhóm azoles Itraconazole 200 mg truyền tĩnh

mạch/ngày

C II Hiệu quả điều trị giới hạn đối với những

bệnh nhân đã dự phòng nhóm azoles Amphotericin B phức hợp lipid C I Độc tính liên quan tiêm truyền (Sốt, lạnh

run, giảm oxy máu)

Trang 6

Đối tượng Hành động Mức độ

khuyến cáo

Mức độ chứng cứ Ghi chú

Amphotericin B phân tán keo C I Độc tính liên quan tiêm truyền (Sốt, lạnh

run, giảm oxy máu) Amphotericin B cổ điển D I Dung nạp kém do tác dụng phụ đáng

kể

Micafungin 100 mg /ngày B III Không phủ được tác nhân nấm mốc

ĐIỀU TRỊ NHIỄM CANDIDA HUYẾT

Tình huống 3

Bệnh nhân nam 27 tuổi, chẩn đoán bạch cầu

cấp dòng lympho đang điều trị tấn công ngày

thứ 14 Bệnh nhân đang dùng itraconazole

(uống), kháng sinh tĩnh mạch

imipenem/cilastatin và amikacin Ngày 7 Bệnh

nhân hết sốt 6 ngày nay, hôm nay sốt lại 39oC

Đã dùng amphotericine B deoxycholate ngày 1,

khoa vi sinh báo cấy máu dương tính với nấm

men Lựa chọn kháng nấm điều trị:

Khuyến cáo của IDSA 2016

Điều trị Đầu tay: echinocandin

(caspofungin: liều tải 70 mg, sau đó mỗi ngày

50 mg; micafungin: 100 mg mỗi ngày;

anidulafungin: liều tải 200 mg, sau đó 100 mg

mỗi ngày) (Mức độ khuyến cáo: mạnh; Mức

độ chứng cứ: trung bình)

Amphotericin B dạng lipid liều 3–5 mg/kg

mỗi ngày, hiệu quả nhưng không được ưu tiên

lựa chọn đầu tay bởi vì độc tính của nó (Mức độ

khuyến cáo: mạnh, mức độ chứng cứ: trung bình)

Fluconazole, với liều tải 800 mg (12

mg/kg), sau đó 400 mg (6 mg/kg) mỗi ngày là

một liệu pháp thay thế cho những bệnh nhân

không có tình trạng nặng và không sử dụng

azole trước đó (Mức độ khuyến cáo yếu, mức

độ chứng cứ thấp)

Fluconazole, với liều 400 mg (6mg/kg) mỗi

ngày, có thể dùng để điều trị xuống thang trong

thời gian giảm bạch cầu hạt dai dẳng và lâm

sàng ổn định với kết quả phân lập là nhạy cảm

và cấy nấm máu là âm tính (Mức độ khuyến cáo

yếu, mức độ chứng cứ thấp)

Voriconazole, liều 400 mg (6 mg/kg) hai lần mỗi ngày trong hai ngày liên tiếp, sau đó 200–300 mg (3-4 mg/kg) hai lần mỗi ngày có thể sử dụng nếu mong muốn phủ thêm nấm mốc (Mức độ khuyến cáo yếu, mức độ chứng

cứ thấp)

Voriconazole cũng có thể dùng như điều trị xuống thang trong quá trình giảm bạch cầu hạt mà lâm sàng ổn định, với bằng chứng cấy máu âm tính và kết quả phân lập trước đó là nhạy cảm

Những trường hợp nhiễm C krusei, nhóm

echinocandin, amphotericin phức hợp lipid hoặc voriconazole được khuyến cáo (Mức độ khuyến cáo: mạnh, mức độ chứng cứ: thấp)

Thời gian điều trị nấm huyết không biến chứng được khuyến cáo tối thiểu là hai tuần sau khi có bằng chứng cấy nấm âm tính, với điều kiện là tình trạng giảm bạch cầu hạt và

các triệu chứng dô nhiễm Candida huyết đã

được giải quyết

Khám đánh giá nhiễm nấm màng mạch và võng mạc ít nhất cho đến khi hồi phục tình trạng giảm bạch cầu hạt (Mức độ khuyến cáo: mạnh, mức độ chứng cứ: thấp)

Trên những bệnh nhân giảm bạch cầu hạt,

nguồn gốc Candida từ catheter tĩnh mạch trung

tâm (CVC) ít chiếm ưu thế hơn, việc rút CVC nên được cân nhắc tuỳ thuộc vào cá thể (Mức độ khuyến cáo: mạnh, mức độ chứng cứ: thấp) G-CSF được cân nhắc trong những trường hợp nhiễm candida huyết dai dẳng và dự đoánn bạch cầu hạt sẽ giảm kéo dài (Mức độ khuyến cáo: yếu, mức độ chứng cứ: thấp)

Trang 7

Khuyến cáo của ECIL-6

Bảng 6 Khuyến cáo điều trị đầu tay nhiễm Candia huyết của ECIL-6

Sử dụng trên bệnh lý huyết học (d)

(a): Cần theo dõi sát tác dụng ngoại ý (b): Không sử dụng trên bệnh nhân có tình trạng nặng và đã sử dụng azole

(c): Nếu rút catheter không rút bỏ được, echidocandin hoặc amphotericine dạng lipid được khuyến cáo

(d) Mức độ khuyến cáo A: mạnh, B: trung bình, C: thấp; Mức độ chứng cứ I: cao, II: trung bình, III: thấp

Bảng 7 Khuyến cáo lựa chọn thuốc khi xác định được chủng vi nấm trên bệnh nhân bệnh lý huyết học

Chủng Candida Kháng nấm lựa chọn Mức độ khuyến cáo/chứng cứ (d)

NHIỄM CANDIDA MẠN LAN TOẢ (NHIỄM

CANDIDA GAN LÁCH)

Khuyến cáo của IDSA và IDST

Đầu tay với amphotericin B dạng lipid, 3-5

mg/kg mỗi ngày hoặc echinocandin

(micafungin: 100 mg mỗ ngày; caspofungin: 70

mg liều tải, sau đó 50 mg mỗi ngày; hoặc

anidulafungin: 200 mg liều tải, sau đó 100 mg

mỗi ngày), cho vài tuần được khuyến cáo, theo

sau với fluconazole uống, 400 mg (6 mg/kg) mỗi ngày, cho những bệnh nhân không có nghi ngờ kháng fluconazole (Mức độ khuyến cáo: mạnh, mức độ chứng cứ: thấp)

Điều trị nên được tiếp tục cho đến khi tổn thương được giải quyết trên hình ảnh học được lặp lại, thường là vài tháng Dứt điều trị kháng nấm sớm có thể dẫn đến tái phát (Mức độ khuyến cáo: mạnh, mức độ chứng cứ: thấp)

Trang 8

Nếu hoá trị liệu hoặc ghép tế bào gốc là cần

thiết, không nên trì hoãn bởi sự hiện diện của

tình trạng nhiễm Candida mạn lan toả, và liệu

pháp kháng nấm nên được tiếp tục trong suốt

thời gian nguy cơ cao để ngừa tái phát (Mức độ

khuyến cáo: mạnh, mức độ chứng cứ: thấp)(14,0)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ashley ESD, et al (2006) Pharmacology of systemic antifungal

agents Clinical Infectious Diseases, 43(1):S28-S39

2 Bodey G, et al (1992) Fungal infections in cancer patients: an

international autopsy survey European Journal of Clinical

Microbiology and Infectious Diseases, 11(2):99-109

3 Chamilos G, et al (2006) Invasive fungal infections in patients

with hematologic malignancies in a tertiary care cancer center:

an autopsy study over a 15-year period (1989-2003)

Haematologica, 91(7):986-989

4 Cho SY and Choi HY (1979) Opportunistic fungal infection

among cancer patients: a ten-year autopsy study American

Journal of Clinical Pathology, 72(4):617-621

5 Cuenca-Estrella M, et al (2005) In vitro susceptibilities of

bloodstream isolates of Candida species to six antifungal

agents: results from a population-based active surveillance

programme, Barcelona, Spain 2002–2003 Journal of

Antimicrobial Chemotherapy, 55(2):194-199

6 Denning DW (2003) Echinocandin antifungal drugs Lancet,

362(9390):1142-1151

7 Kethireddy S and Andes D (2007) CNS pharmacokinetics of

antifungal agents Expert Opinion on Drug Metabolism &

Toxicology, 3(4):573-581

8 Kung HC, et al (2018) 2016 guidelines for the use of antifungal

agents in patients with invasive fungal diseases in Taiwan

Journal of Microbiology, Immunology and Infection, 51(1):1-17

9 Lange D, et al (1997) Effect of a cola beverage on the

bioavailability of itraconazole in the presence of H2 blockers

Journal of Clinical Pharmacology, 37(6):535-540

10 Lewis RE (2011) Current concepts in antifungal

pharmacology in Mayo Clinic Proceedings, pp.211-217

Elsevier

11 NCCN (2019) Prevention and Treatment of Cancer-Related

http://www.nccn.org/professionals/physician_gls/pdf/infectio

ns

12 Pagano L, et al (2006) The epidemiology of fungal infections

in patients with hematologic malignancies: the SEIFEM-2004

study Haematologica, 91(8):1068-75

13 Taplitz RA, et al (2018) Antimicrobial prophylaxis for adult patients with cancer-related immunosuppression: ASCO and

IDSA clinical practice guideline update J Clin Oncol,

36(30):3043-54

14 Pappas PG, et al (2015) Clinical practice guideline for the management of candidiasis: 2016 update by the Infectious

Diseases Society of America Clinical Infectious Diseases,

62(4):e1-e50

15 Patterson TF, et al (2016) Practice guidelines for the diagnosis and management of aspergillosis: 2016 update by the

Infectious Diseases Society of America Clinical Infectious Diseases, 63(4):e1-e60

16 Pfaller M, et al (2004) In vitro activities of voriconazole, posaconazole, and fluconazole against 4,169 clinical isolates of Candida spp and Cryptococcus neoformans collected during

2001 and 2002 in the ARTEMIS global antifungal surveillance

program Diagnostic Microbiology and Infectious Disease,

48(3):201-205

17 Purkins L, et al (2003) The pharmacokinetics and safety of intravenous voriconazole–a novel wide spectrum antifungal

agent British Journal of Clinical Pharmacology, 56:2-9

18 Ullmann AJ, et al (2018) Diagnosis and management of Aspergillus diseases: executive summary of the 2017

ESCMID-ECMM-ERS guideline Clinical Microbiology and Infection, 24:e1-e38

19 Van Peer A, et al (1989) The effects of food and dose on the oral systemic availability of itraconazole in healthy subjects

European Journal of Clinical Pharmacology, 36(4):423-426

Ngày đăng: 09/02/2020, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w