Đối tượng nghiên cứu là cao chiết nước của bài thuốc cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo thu thập được trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Dòng tế bào: Tế bào ung thư vú người MDA-MB 231 (ATCC), Tế bào u nguyên bào thần kinh SKN-DZ (được cung cấp bởi tiến sĩ Akira Nakagawa). Phương pháp dòng chảy tế bào (Flow cytometry - BD FACS Canto II).
Trang 1ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY CHẾT TẾ BÀO THEO CHƯƠNG TRÌNH CỦA BÀI THUỐC CÂY LƯỢC VÀNG
VÀ BẠCH HOA XÀ THIỆT THẢO THU THẬP TẠI TỈNH SÓC TRĂNG
TRÊN DÒNG TẾ BÀO UNG THƯ
Bùi Chí Bảo * , Phạm Thị Bình Minh * , Khổng Lê Trường Giang ** , Trịnh Thị Diệu Thường *
TÓM TẮT
Tình hình chung và mục tiêu nghiên cứu: Theo WHO, ung thư đang là một trong những thách thức
quan trọng nhất đối với sức khoẻ cộng đồng của thế kỷ 21 Tại Việt Nam, số ca mắc mới ung thư không ngừng tăng, từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 ca năm 2010 Năm 2018, số ca ung thư mắc mới tăng lên khoảng 165.000 ca/96,5 triệu dân Tỷ lệ các loại ung thư phổ biến tại Việt Nam: ung thư gan 15,4%, ung thư phổi 14,4%, ung thư dạ dày 10,6%, ung thư vú 9,2%, ung thư trực tràng 8,9%, ung thư khác 41,4% Do đó, việc nghiên cứu để tìm kiếm phương thuốc điều trị hoặc hỗ trợ điều trị ung thư là rất cần thiết Tại tỉnh Sóc Trăng, người dân bằng kinh nghiệm vẫn sử dụng bài thuốc kết hợp lá cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo để hỗ trợ điều trị ung thư Cây Lược vàng có chứa quercetin, Bạch hoa xà thiệt thảo có chứa methylanthraquinon Theo nhiều nghiên cứu, quercetin và methylanthraquinon có khả năng gây chết các tế bào ung thư thông qua cơ chế chết theo chương trình Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu khoa học nào về việc sử dụng bài thuốc này trong điều trị ung thư Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu khảo sát khả năng kháng ung thư của bài thuốc cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo tại Sóc Trăng
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là cao chiết nước của bài thuốc cây Lược
vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo thu thập được trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Dòng tế bào: Tế bào ung thư vú người MDA-MB 231 (ATCC), Tế bào u nguyên bào thần kinh SKN-DZ (được cung cấp bởi tiến sĩ Akira Nakagawa) Phương pháp dòng chảy tế bào (Flow cytometry - BD FACS Canto II)
Kết quả: Sử dụng nồng độ thuốc pha loãng theo tỷ lệ 1/2 (3,04 mg/ml) và 1 (6,08 mg/ml) thì số lượng tế bào
ung thư vú chết theo chương trình khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô chứng Kết hợp cao chiết cây Lược vàng
và bạch hoa xà thiệt thảo pha loãng theo tỷ lệ 1/5 (1,22 mg/ml) và Retinoic acid (RA) cho thấy chỉ tạo cụm ngày thứ 2, ngày thứ 7 và ngày thứ 10 tế bào tách ra và biệt hoá So sánh các marker OCT4 và SOX2 giữa nhóm tế bào RA và nhóm kết hợp RA với cao chiết cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo cho thấy có sự giảm biểu hiện OCT4 và SOX2 có ý nghĩa thống kê
Kết luận: Đặc tính cao chiết của bài thuốc cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo là sử dụng nồng độ pha
loãng theo tỷ lệ 1/2 (3,04 mg/ml) đủ gây chết tế bào theo cơ chế apoptosis trên dòng tế bào ung thư vú MDA-MB
231 Nếu sử dụng nồng độ pha loãng theo tỷ lệ 1/5 (1,22 mg/ml) kết hợp với retionic acid đủ tác động đến sự biệt hóa tế bào ung thư kháng RA (tế bào SKN-DZ)
Từ khóa: cây lược, bạch hoa xà thiệt thảo, apoptosis, phương pháp dòng chảy tế bào, biệt hóa
ABSTRACT
EVALUATING ABILITY TO APOPTOSIS OF THE HERBAL FORMULA CONSISTING OF CALLISIA FRAGRANS LINDL AND HEDYOTIS DIFFUSA WILLD IN SOC TRANG PROVINCE ON CANCER CELLS
Bui Chi Bao, Pham Thi Binh Minh, Khong Le Truong Giang, Trinh Thi Dieu Thuong
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 82 – 90
*Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh **Trường ĐH Công Nghệ TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: ThS.BS Phạm Thị Bình Minh ĐT: 0386932527 Email: ptbminh@ump.edu.vn
Trang 2Objectives: According to WHO, cancer is one of the most important challenges to the public health in the
21 st century In Vietnam, incidence of cancer has continuously increased, from 68,000 (in 2000) to 126,000 (in 2010) In 2018, incidence of cancer increased to about 165,000 cases/ 96.5 million people The rate of popular cancers in Vietnam: liver cancer 15.4%, lung cancer 14.4%, stomach cancer 10.6%, breast cancer 9.2%, rectal cancer 8.9%, other cancers 41.4% Therefore, research to seek treatment or support treatment for cancer is very necessary In Soc Trang province, residents use herbal formular consisting of Callisia fragrans Lindl and Hedyotis diffusa Willd to support cancer treatment Callisia fragrans Lindl contain quercetin, Hedyotis diffusa Willd contain methylanthraquinone According to many studies, quercetin and methylanthraquinone are capable
of killing cancer cells by apoptotic mechanism However, there has not been any scientific research on the use of this herbal formular for cancer treatment Therefore, this study was conducted with the objective of examining the cancer resistance of the herbal formular including Callisia fragrans Lindl and Hedyotis diffusa Willd
Materials and Methods: The object of the study is aqueous extract of Callisia fragrans Lindl and Hedyotis
diffusa Willd in Soc Trang province Cell lines: MDA-MB 231 human breast cancer cells (ATCC), SKN-DZ neuroblastoma cells (supplied by Dr Akira Nakagawa) Flow cytometry method - BD FACS Canto II
Result: Using concentrations of diluted extract at ratio 1/2 (3.04 mg/ml) or 1 (6.08 mg/ml), the number of apoptotic breast cancer cells is statistically significant different from the control lot Combining RA with extract
of Callisia fragrans Lindl and Hedyotis diffusa Willd diluted at ratio 1/5 (1.22 mg/ml) formed clusters only day
2, on day 7 and day 10 cells separate and differentiate Comparing OCT4 and SOX2 markers between RA group and RA combination with extract of Callisia fragrans Lindl and Hedyotis diffusa Willd group, had a statistically
significant reduction of OCT4 and SOX2
Conclusion: If using the extract of Callisia fragrans Lindl and Hedyotis diffusa Willd concentrations of
diluted extract at ratio 1/2 (3.04 mg/ml) sufficiently lethal dose on breast cancer cell lines MDA-MB 231 If using concentrations of diluted extract at ratio 1/5 (1.22 mg/ml) combined with retionic acid will affect the differentiation of RA-resistant cancer cells (SKN-DZ cells)
Key words: callisia fragrans lindl., hedyotis diffusa ưilld., apoptosis, flow cytometry method, differentiate
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo WHO, ung thư đang là một trong
những thách thức quan trọng nhất đối với sức
khoẻ cộng đồng của thế kỷ 21(1,12) Tại Việt Nam
tỉ lệ ung thư ngày càng tăng Số ca mắc mới ung
thư tại không ngừng tăng, từ 68.000 ca năm 2000
lên 126.000 năm 2010 Năm 2018, số ca mắc mới
tăng lên gần 165.000 ca/96,5 triệu dân, trong đó
gần 70% trường hợp tử vong, tương đương
115.000 ca Việt Nam xếp vị trí 99/185 quốc gia
và vùng lãnh thổ với tỉ lệ mắc ung thư
151,4/100.000 dân Tỷ lệ các loại ung thư phổ
biến tại Việt Nam: ung thư gan 15,4%, ung thư
phổi 14,4%, ung thư dạ dày 10,6%, ung thư vú
9,2%, ung thư trực tràng 8,9%, ung thư khác
41,4% Do đó, việc nghiên cứu để tìm kiếm
phương thuốc điều trị hoặc hỗ trợ điều trị đối
với bệnh nhân ung thư là rất cần thiết Vai trò
của các bài thuốc có nguồn gốc thảo dược có khả năng kháng ung thư, ít tác dụng phụ được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tại Việt Nam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng, trong dân gian lưu truyền kinh nghiệm sử dụng một số bài thuốc Nam có tác dụng điều trị ung thư như bài thuốc kết hợp lá cây Lược vàng và
Bạch hoa xà thiệt thảo Cây Lược vàng có chứa
quercetin, Bạch hoa xà thiệt thảo có chứa methylanthraquinon Theo nhiều nghiên cứu, quercetin và methylanthraquinon có khả năng gây chết các tế bào ung thư thông qua cơ chế chết theo chương trình(4,8,9) Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu khoa học chính thức về bài thuốc Nam này tại tỉnh Sóc Trăng, cũng như nghiên cứu trên dược lý thực nghiệm
Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu tìm kiếm bằng chứng có giá trị khoa học về khả năng kháng ung thư của bài thuốc cây lược
Trang 3vàng và bạch hoa xà thiệt thảo được thu thập tại
tỉnh Sóc Trăng
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát khả năng kháng ung thư của cao
chiết từ bài thuốc cây lược vàng và bạch hoa xà
thiệt thảo
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Cao chiết nước từ bài thuốc cây lược vàng và
bạch hoa xà thiệt thảo thu thập được trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng
Phương pháp chiết cao
Các dược liệu được thu hái tại Sóc Trăng,
vào tháng 10/2015, người thu hái là ông Võ Văn
Thành Niệm
Giai đoạn 1
Chiết dược liệu bằng nước cất theo nguyên
tắc như sau:
Bộ phận dùng: Lược vàng dùng toàn cây,
Bạch hoa xà thiệt thảo dùng toàn cây
Sau khi thu hái, dược liệu được rửa sạch, thái
nhỏ, phơi khô
Cân dược liệu khô theo tỷ lệ Lược vàng:
Bạch hoa xà thiệt thảo = 2:3, tổng khối lượng bài
thuốc là 2 kg
Xay thô dược liệu
Cho nước ngập mặt dược liệu
Sắc (chiết nóng) nước bằng nồi inox
Thời gian nấu: nấu trong 6 giờ (2 lần)
Giai đoạn 2
Cô cao thuốc:
Lọc dịch chiết bằng bông gòn qua phễu
Cô cách thủy dịch chiết
Thu được cao thuốc nồng độ 6,08 mg/ml
Giai đoạn 3
Bảo quản cao thuốc ở nhiệt độ 40C
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thí nghiệm
Dòng tế bào
Tế bào ung thư vú người MDA-MB 231
(ATCC), tế bào u nguyên bào thần kinh SKN-DZ (được cung cấp bởi tiến sĩ Akira Nakagawa)
Phương pháp dòng chảy tế bào (Flow cytometry - BD FACS Canto II)
Mục đích phương pháp
Flow cytometry là kỹ thuật có khả năng đo được các đặc tính huỳnh quang và quang học của một tế bào đơn hoặc các hạt như vi sinh vật, nhân và nhiễm sắc thể được chuẩn bị trong dung dịch lỏng khi chúng đi qua một nguồn sáng
Quy trình thực hiện
Tế bào được cấy lên đĩa 6 giếng với mật độ 3x105 tế bào/ml
Xử lý tế bào ở nhiều nồng độ và ủ ở tủ ủ tế bào trong 24 giờ
Xử lý Trypsin và thu cắn
Đếm tế bào với mật độ 106 tế bào/ml
Lấy thể tích có 106 tế bào thêm PBS lạnh Cắn được phân tán trong 1 ml Binding buffer 1X
Chuyển 100 ul dung dịch vào ống nuôi cấy
5 ml
Nhuộm tế bào với hóa chất cho kiểm tra apoptosis (5 ul PE Annexin V và 5 μl 7-AAD) Vortex tế bào và ủ trong vòng 15 phút trong bóng tối ở nhiệt độ phòng với hóa chất kiểm tra apoptosis
Thêm 400 μl Binding buffer 1X vào từng ống trước khi kiểm tra với máy BD FACS Canto II
Kiểm tra quy trình và thử nghiệm bộ kit Annexin V/PI bằng flow cytometry
Bộ kit AnexinV/PI giúp phát hiện apoptosis dựa trên cơ chế khi bắt đầu quá trình apoptosis các tế bào sẽ chuyển màng phosphatidylserine (PS) từ mặt trong của màng plasma ra bề mặt tế bào Khi ở trên bề mặt tế bào, PS có thể dễ dàng được phát hiện bằng cách nhuộm với Annexin
V, một protein có ái lực cao với PS Quy trình nhuộm một bước chỉ mất 10 phút Phát hiện có thể được phân tích bằng phương pháp dòng chảy tế bào hoặc bằng kính hiển vi huỳnh
Trang 4quang Bộ kit này có thể phân biệt chết tế bào
theo chu trình apoptosis và chết tế bào ngẫu
nhiên hay hoại tử (necrosis)
Hình 1 Chiến lược gating được sử dụng để đo lường apoptosis sử dụng Annexin V / PI kit
Các tế bào được phân biệt với các mảnh vụn
(mảnh vỡ tế bào, màu đen) bởi các đặc tính phân
tán về phía trước hoặc phía bên của chúng (side
scatter) và mối liên hệ tương đối của chúng với
nhuộm Annexin V-APC và Propidium iodide
(PI) (thể hiện ở cột phải và cột dưới) Các tế bào
còn sống (Annex-V – /PI–), các tế bào đang ở giai
đoạn sớm của quá trình apoptosis (Annexin-V+/
PI+), các tế bào hoại tử hoặc ở trạng thái
apoptosisp muộn (Annexin V+/PI–) hoặc
(Annex-V–/PI+) Lô sẽ lặp lại từ 3 thí nghiệm
kiểm soát
Như vậy, bộ kit AnexinV/PI giúp phát hiện
apoptosis đạt chuẩn
Phương pháp thống kê
Số liệu được nhập vào MS Excel 2010 và xử
lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0
Sử dụng phép kiểm chi bình phương để so sánh 2 tỷ lệ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi
p <0,05
KẾT QUẢ
Kết quả khả năng gây apoptosis của cao chiết cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo
Ở nồng độ thuốc pha loãng theo tỷ lệ 1/50 (0,12 mg/ml), 1/10 (0,61 mg/ml), 1/5 (1,22 mg/ml)
Trang 5số lượng tế bào ung thư vú di chuyển sang vùng
late apoptosis không khác biệt nhiều so với lô
chứng Ở nồng độ thuốc pha loãng theo tỷ lệ 1/2
(3,04 mg/ml) và 1 (6,08 mg/ml) thì số lượng tế
bào ung thư vú di chuyển sang vùng late
apoptosis khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô
chứng (Hình 2)
Ở nồng độ thuốc pha loãng theo tỷ lệ 1/50
(0,12 mg/ml), 1/10 (0,61 mg/ml) số lượng tế bào
ung thư vú bị apoptosis giảm so với lô chứng Ở
nồng độ thuốc pha loãng theo tỷ lệ 1/5 (1,22
mg/ml) số lượng tế bào ung thư vú bị apoptosis
có tăng so với lô chứng, nhưng không có ý nghĩa
thống kê Ở nồng độ thuốc pha loãng theo tỷ lệ
1/2 (3,04 mg/ml) và 1 (6,08 mg/ml) thì số lượng tế
bào ung thư vú bị apoptosis khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với lô chứng (Hình 3)
Tế bào có retinoic acid (5uM) bị tạo cụm
ngày 2, ngày 7 và ngày 10 (Hình 4) Kết hợp cao
chiết cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo pha loãng theo tỷ lệ 1/5 và Retinoic acid (RA) cho thấy chỉ tạo cụm ngày thứ 2, ngày 7 và ngày 10
tế bào tách ra và biệt hoá
So sánh các marker OCT4 và SOX2 giữa nhóm tế bào chỉ có RA và nhóm kết hợp RA với cao chiết cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo (RA+268) cho thấy có sự giảm biểu hiện OCT4 và SOX2 có ý nghĩa thống kê OCT4 và SOX2 là các chỉ thị quan trọng cho tạo cụm của
các tế bào ung thư (Hình 5)
Hình 2 Đo khả năng gây apoptosis của cao chiết cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo trên tế bào ung thư vú
bằng flow cytometry
Trang 6Hình 3 Tỉ lệ tế bào bị apoptosis gây ra bởi các nồng độ thuốc khác nhau của cao chiết cây Lược vàng và Bạch hoa
xà thiệt thảo trên dòng tế bào ung thư vú
Hình 4 Kết quả sự tạo cụm của tế bào SKN-DZ khi kết hợp Retinoic acid và cao chiết cây Lược vàng và
Bạch hoa xà thiệt thảo
Trang 7Hình 5 Kết quả tăng sự biệt hoá tế bào SKN-DZ khi kết hợp Retinoic acid và cao chiết cây Lược vàng và Bạch
hoa xà thiệt thảo
BÀN LUẬN
Một trong những thách thức trong việc phát
hiện hóa trị liệu hiệu quả trong điều trị ung thư
là các tế bào ung thư có khả năng thoát khỏi sự
chết tế bào được lập trình hoặc quá trình
apoptosis Do đó, một trong những phương thức
hành động của thuốc chống ung thư là nhằm tái
kích hoạt cơ chế chết tế bào này Chu kỳ tế bào là
một quá trình liên tục của sự kiểm soát sự phát
triển và tăng sinh tế bào Quá trình này được
điều chỉnh chặt chẽ bởi các điểm kiểm tra
nghiêm ngặt được áp dụng cho từng pha chu kỳ
tế bào để tránh bất kỳ lỗi nào trong sự phát triển
tổng thể của các mô Vì vậy, chu kỳ tế bào có thể
xem như là một mục tiêu cho các tác nhân chống
ung thư để ngăn chặn sự gia tăng không kiểm
soát của các tế bào ung thư và để bắt đầu cho
chúng trải qua quá trình apoptosis Trong các tế bào động vật có vú bình thường, pha M thường kéo dài chưa đầy một giờ trong khi pha S thường dài khoảng 6-8 giờ Các tế bào thường dành phần lớn thời gian của chúng trong giai đoạn tăng trưởng giữa các bộ phận, hoặc được gọi là interphase thường chiếm khoảng 95% chu
kỳ Ngược lại, chiều dài của G1 và G2 khá biến đổi; G2 ngắn hơn G1 và đồng đều hơn về thời gian Tổng hợp DNA trong pha S và phân chia tế bào thành hai tế bào con xảy ra trong pha M là các đặc điểm chính của sự tiến triển chu kỳ tế bào Giai đoạn G2 cho phép các tế bào sửa chữa các lỗi xảy ra trong quá trình sao chép DNA, trong khi pha G1 biểu thị thời gian chuẩn bị tế bào cho sự sao chép DNA tiếp theo(3)
Mục tiêu của nghiên cứu này là khảo sát khả
Trang 8năng gây chết theo chu trình apoptosis, hoặc
kích thích sự biệt hoá của tế bào ung thư dưới
tác động của cao chiết cây lược vàng và bạch hoa
xà thiệt thảo Con đường apoptosis thông qua ty
thể đã được mô tả như là một tín hiệu quan
trọng của sự chết tế bào ở các tế bào động vật có
vú Người ta biết rõ rằng protein Bcl-2 và
cytochrome C (cytoC) đóng một vai trò trung
tâm trong việc điều chỉnh con đường apoptosis
thông qua ty thể Bất thường trong quá trình
apoptosis là một nguyên nhân chính gây ung
thư Cơ chế gây apoptosis thường được sử dụng
như một tiêu chí để phát hiện ra các tác nhân
chống ung thư mới(2,5,6)
Một số hợp chất tự nhiên như quercetin và
methylanthraquinon đã cho thấy các đặc tính
gây apoptotic Apoptosis được đặc trưng bởi các
thay đổi hình thái và sinh hóa cụ thể của tế bào,
bao gồm thay đổi hình thái tế bào, ngưng tụ
nhiễm sắc thể và phân mảnh DNA, vỡ màng và
mất độ bám dính của màng tế bào và sự phân
giải protein nội bào(7,10,11) Nhiều báo cáo đã chỉ ra
rằng methylanthraquinon, thành phần có trong
cây Bạch hoa xà thiệt thảo và quercetin trong cây
Lược vàng có thể kích hoạt quá trình apoptosis
- Quercetin có khả năng kích thích quá trình
apoptosis thông qua sự ức chế các protein tín
hiệu sinh tồn như protein kinase C (PKC-α) và
kích hoạt tín hiệu chết tế bào như PKC-(63)
Quercetin được chứng minh là có khả năng gây
apoptosis cho các dòng tế bào ung thư như đại
tràng CT-26, tế bào LNCaP tuyến tiền liệt, tế bào
bạch cầu lymphoblastic cấp tính MOLT-4, tế bào
Raji lympho người(4)
- Nghiên cứu trên tế bào ung thư gan
động protease caspase-3, caspase-8 và caspase-9,
cho thấy sự liên quan của con đường apoptotic
ty thể Caspases đóng một vai trò trung tâm
trong thực thi apoptosis Kích hoạt caspases-9 sẽ
dẫn đến các dấu hiệu nổi bật điển hình của quá
trình apoptosis như sự ngưng tụ nhiễm sắc thể
và phân mảnh DNA(8)
- Khi các tế bào ung thư vú MCF-7 được ủ
cùng với methylanthraquinon, tỷ lệ tế bào apoptotic và pha S của chu kỳ tế bào đã tăng lên
rõ rệt Ngoài ra, sự gia tăng nồng độ canxi nội bào, sự phosphoryl hóa JNK và kích hoạt calpain
đã được tìm thấy trong các tế bào MCF-7 sau khi tiếp xúc với methylanthraquinon Hơn nữa, methylanthraquinon gây ra sự phân cắt mạnh
mẽ của caspase-4, caspase-9 và caspase-7 trong các tế bào MCF-7(9)
Kết quả cho thấy có tăng sự biệt hoá khi kết hợp Retinoic acid (5uM) với cao chiết cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo trên dòng tế bào
u nguyên bào thần kinh SKN-DZ Đặc tính biệt hoá của ung thư u nguyên bào thần kinh đã được nghiên cứu trước đó trên thuốc 13cis-Italic acid (RA) trên dòng tế bào không tăng MYCN khuyếch đại như SH-SY5Y FDA cũng đã đưa 13cis-Italic acid vào nhóm điều trị u nguyên bào thần kinh Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có khuyếch đại MYCN, thì thuốc hầu như không đáp ứng
Tế bào của bệnh nhân có khuyếch đại MYCN như SKN-DZ cho thấy không biệt hoá, thậm chí tạo cụm khi ủ với môi trường RA Hiện nay, việc kết hợp với các thuốc RA cùng những nhóm thuốc khác đang được lưu tâm Một số thuốc có hoạt tính apoptosis nếu đưa vào liều lượng cao Nhưng ngược lại, nếu với liều lượng thấp hơn
nó sẽ tăng kích hoạt biệt hoá
KẾT LUẬN
Đặc tính cao chiết của bài thuốc cây Lược vàng và Bạch hoa xà thiệt thảo là sử dụng nồng
độ pha loãng theo tỷ lệ 1/2 đủ gây chết apoptosis trên dòng tế bào ung thư vú Nếu sử dụng nồng
độ pha loãng theo tỷ lệ 1/5 kết hợp với retionic acid đủ tác động đến sự biệt hóa tế bào ung thư kháng RA là tế bào SKN-DZ Nghiên cứu này ban đầu tạo tiền đề cho các cơ chế về apoptosis hoặc cơ chế biệt hoá tế bào ung thư cần được làm rõ về sau
Lời cảm ơn: Bài báo này là một phần kết
quả của đề tài nghiên cứu khoa học thuộc Sở khoa học và công nghệ tỉnh Sóc Trăng, đã được công nhân kết quả theo Quyết định số 177/QĐ-SKHCN ngày 28/12/2018
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Camps J (2014) “Oxidative Stress and Inflammation in
Non-communicable Diseases - Molecular Mechanisms and
https://www.springer.com/gp/book/9783319073194
2 Elmore S (2007) “Apoptosis: a review of programmed cell
death” Toxicologic Pathology, 35(4):495-516
3 Hanahan D, Weinberg RA (2011) "Hallmarks of cancer: The
next generation" Cell, 144(5):646-674
4 Hashemzaei M, Delarami Far A, Yari A, , Rezaee R, et al (2017)
“Anticancer and apoptosis-inducing effects of quercetin in vitro
and in vivo” Oncology reports, 38(2): 819-828
5 Hengartner MO (2000) “The biochemistry of apoptosis”
Nature, 407(6805):770-776
6 Krysko DV, Vandenabeele P (2008) “Apoptosis and necrosis:
detection, discrimination and phagocytosis” Methods,
44(3):205-221
7 Kuno T, et al (2012) “Cancer chemoprevention through the
induction of apoptosis by natural compounds” Journal of
Biophysical Chemistry, 3:156-173
8 Li Y, Zhang J, Min D, et al (2016) “Anticancer Effects of 1,3-Dihydroxy-2-Methylanthraquinone and the Ethyl Acetate Fraction of 0Hedyotis diffusa Willd against HepG2 Carcinoma
Cells Mediated via Apoptosis” PLoS One, 11(4):e0151502
9 Liu Z, Liu M, Li J (2010) “Methylanthraquinone from Hedyotis diffusa Willd induces Ca(2+)-mediated apoptosis in human
breast cancer cells” Toxicology in Vitro, 24(1):142-147
10 Marino G (2014) “Self-consumption: the interplay of autophagy
and apoptosis” Nature Reviews Molecular Cell Biology,
15(2):81-94
11 Martin SJ, Green DR (1995) “Protease activation during
apoptosis: death by a thousand cuts” Cell, 82(3):349-352
12 Quỹ Dân số Liên hợp quốc (2011) “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị
chính sách” UNFPA, pp.12-36
Ngày nhận bài báo: 28/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 14/09/2019