1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát dấu hiệu lo âu và một số yếu tố liên quan ở người mắc bệnh máu ác tính đến tái khám tại viện Huyết học- Truyền máu trung ương năm 2018

6 135 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 317,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh nhân ung thư ngoài chịu đựng những đau về thể chất, còn phải đối mặt với những vấn đề về tâm lý như lo âu, trầm cảm, rối loạn tinh thần. Tuy nhiên, rất ít các nghiên cứu ở Việt Nam tìm hiểu về vấn đề này, nhất là trên bệnh nhân ung thư máu. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng lo âu của người bệnh và các yếu tố liên quan, từ đó đề ra các chính sách hỗ trợ phù hợp cho người bệnh.

Trang 1

KHẢO SÁT DẤU HIỆU LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở NGƯỜI MẮC BỆNH MÁU ÁC TÍNH ĐẾN TÁI KHÁM

TẠI VIỆN HUYẾT HỌC- TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG NĂM 2018

Tô Thị Kiều Dung * , Lưu Thị Bạch Yến * , Phạm Thị Thùy * , Nguyễn Thị Hương * , Cấn Trung Kiên * ,

Lê Quang Tường * , Nguyễn Chí Thắng *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Bệnh nhân ung thư ngoài chịu đựng những đau về thể chất, còn phải đối mặt với những vấn đề

về tâm lý như lo âu, trầm cảm, rối loạn tinh thần Tuy nhiên, rất ít các nghiên cứu ở Việt Nam tìm hiểu về vấn đề này, nhất là trên bệnh nhân ung thư máu Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng lo âu của người bệnh và các yếu tố liên quan, từ đó đề ra các chính sách hỗ trợ phù hợp cho người bệnh

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 292 bệnh nhân trên 18 tuổi,

mắc bệnh máu ác tính đến tái khám tại khoa khám bệnh, Viện Huyết học –Truyền máu TW trong thời gian từ 8/2018 đến 9/2018 Nghiên cứu sử dụng thang đo lo âu, trầm cảm của bệnh viện HADS (Anxiety, Depression in Hospital Scale) với điểm cắt là 8 điểm

Kết quả: Điểm lo âu trung bình là: 7,40 (SD=2,97) với 60% bệnh nhân có dấu hiệu lo âu; trong đó tỉ lệ lo âu

thực sự là 10% Nhóm bệnh nhân nữ, tuổi trên 60, sống một mình, được BHYT chi trả dưới 100%, không đủ khả năng chi trả có tỉ lệ lo âu cao hơn so với nhóm còn lại Đặc biệt, bệnh nhân gặp nhiều tác dụng phụ, tình trạng bệnh không có sự cải thiện có nguy cơ lo âu cao hơn 6,43 lần và 25,62 lần so với nhóm còn lại, tương ứng Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (p <0,05)

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy thực trạng khá cao tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư máu Tình

trạng này có mối liên quan với nhiều yếu tố Các chính sách hỗ trợ và tư vấn tâm lý cho nhóm bệnh nhân này là cần thiết

Từ khóa: lo âu, bệnh máu ác tính, HADS bạch cầu cấp yếu tố liên quan

ABSTRACT

THE EVALUATION OF THE AXIETY AND SOME RELATED FACTORS

IN PATIENTS WITH MALIGNANT BLOOD DISEASE

AT NATIONAL INSTITUTE OF HEMATOLOGY AND BLOOD TRANSFUSION IN 2018

To Thi Kieu Dung, Luu Thi Bach Yen, Pham Thi Thuy,Nguyen Thi Huong,Can Trung Kien,

Le Quang Tuong, Nguyen Chi Thang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 268 – 273

Objective: Cancer patients not only suffer from physical pain but also face to psychological problems such as

anxiety, depression, and mental disorders However, the relevant studies in Vietnam have been limited, especially patients with malignant blood disease This study was conducted to assess the status of anxiety and relevant factors, thereby setting appropriate support policies for patients

Subjects and Methods: Cross-sectional study was conducted on 292 patients who were over 18 years of

age, suffered from malignant blood disease and re-visited at the outpatient department - National institute of Hematology and Blood transfusion from August to September 2018 Anxiety was assessed by the Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) with the cut point of 8

*Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương

Tác giả liên lạc: ĐD Lưu Thị Bạch Yến ĐT: 0982 124 067 Email: binhyen7780@gmail.com

Trang 2

Results: The mean anxiety score was: 7.40 (SD = 2.97) 60% of patients had signs of anxiety; with the actual

rate of 10% The groups of female patients, aged over 60, living alone, health insurance under 100%, inability to pay had higher odd ratio than the other groups In particular, the patients who had many side effects and no improvement had odd ratio 6.43 times and 25.62 times higher than the other groups, respectively This relationship were statistically significant (p <0.05)

Conclusion: Research has shown that the status of anxiety was high in patients with malignant blood

disease This status was related to many factors Support and psychological counseling policies for these patients were in need

Key words: anxiety, malignant blood disease, blood cancer, HADS relevant factors

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại Việt Nam, ung thư đang là vấn đề được

quan tâm hàng đầu với số trường hợp mắc mới

tăng nhanh, từ 126.000 năm 2010 và dự kiến sẽ

vượt qua 190.000 trường hợp vào năm 2020 với

khoảng 115.000 người chết mỗi năm

Ngoài tình hình dịch tễ bệnh, điều trị ung

thư là một trong những vấn đề đang được quan

tâm hàng đầu vì diễn biến phức tạp của bệnh và

khó khăn khi lựa chọn phương pháp điều trị

phù hợp Trong quá trình điều trị, bên cạnh

những đau đớn về thể chất và các tác dụng

không mong muốn thì bệnh nhân ung thư

thường phải đối mặt với những vấn đề về tâm lý

như lo âu, trầm cảm, rối loạn cảm xúc Điều này

phần nào ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

của người bệnh, hiệu quả điều trị, và dễ dẫn đến

bệnh nhân từ chối điều trị

Những cảm xúc tiêu cực, lo âu, buồn phiền

mà bệnh nhân ung thư đang trải qua hàng ngày

cần phải được chú ý phát hiện, tìm hiểu Tuy vậy

việc nghiên cứu các vấn đề này tại Việt Nam vẫn

còn hạn chế Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài

“Khảo sát dấu hiệu lo âu và một số yếu tố liên

quan ở người mắc bệnh máu ác tính đến tái

khám tại khoa Khám bệnh, Viện Huyết học –

Truyền máu Trung Ương” với hai mục tiêu:

Mô tả thực trạng dấu hiệu tâm lý lo âu của

người bệnh ung thư đến tái khám tại khoa khám

bệnh – Viện Huyết học – Truyền máu Trung

Ương năm 2018

Xác định một số yếu tố liên quan

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn

Từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán mắc bệnh máu ác tính đến tái khám tại khoa khám bệnh

Tiêu chuẩn loại trừ

Người bệnh hạn chế nghe nói, không đủ thể lực và tinh thần để hoàn thành nghiên cứu hoặc phỏng vấn bởi điều tra viên và không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện tại khoa khám bệnh, Viện Huyết học –Truyền máu

TW trong thời gian từ 01/8/2018 đến 30/9/2018

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu

Được xác định dựa trên công thức:

n = z21-/2 x p (1-p)/d2

Trong đó:

n: cỡ mẫu, p: tỷ lệ ước tính

d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn (confident limit around the point estimate), thường lấy = 0,05 (5%)

z: zscore tương ứng với mức ý nghĩa thống

kê mong muốn, thường lấy 95% CI, z=1,96 Dựa trên nghiên cứu của tác giả Huỳnh Lê Phương(3) với tỷ lệ bệnh nhân có trạng thái lo âu

là p = 0,2, lựa chọn z = 1,96 và d = 0,05

Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 246 BN

Trang 3

Công cụ thu thập thông tin

Thông tin thu thập qua bộ câu hỏi có sẵn đo

lường về sự lo âu và trầm cảm tại bệnh viện

HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale)

Bảng câu hỏi được đề xuất bởi Zigmond và

Snaith và sau đó được áp dụng rộng rãi trong

các nghiên cứu trên thế giới(6) Bảng bao gồm 7

câu hỏi và 4 mức độ trả lời tương ứng với điểm

0, 1, 2, 3 Kết quả được phân tích theo tổng điểm

các câu hỏi theo các mức độ:

Từ 0 đến 7 điểm: bình thường

Từ 8 đến 10 điểm: có thể có triệu chứng của

lo âu

Từ 11 đến 21 điểm: lo âu thực sự

Nghiên cứu sử dụng điểm cắt 8 Ngoài ra,

các thông tin liên quan tới một số yếu tố nhân

khẩu học (như giới tính, trình độ học vấn, bảo

hiểm y tế, khoảng cách từ nhà tới bệnh viện),

yếu tố về kinh tế và tình trạng bệnh (loại ung

thư, giai đoạn bệnh, phương pháp điều trị) cũng

được thiết kế trong bộ câu hỏi phỏng vấn

Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi được làm sạch được nhập vào

máy tính và quản lý bằng phần mềm Excel

Các thống kê mô tả được thực hiện thông

qua tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

cho các biến định lượng và tỷ lệ % cho các biến

định tính

Mô hình hồi quy logistic đa biến được áp

dụng nhằm xác định các yếu tố nguy cơ

p-value <0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu và thực trạng

lo âu

Tổng số 292 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn lựa

chọn và loại trừ được đưa vào nghiên cứu Kết

quả phân tích đặc điểm nhân khẩu và kinh tế

bệnh nhân và thực trạng lo âu được trình bày

trong Bảng 1, 2

Kết quả phân tích nhân khẩu học cho thấy,

bệnh nhân tham gia nghiên cứu có tỷ lệ nam:nữ

là 1:1,72 và có độ tuổi trung bình là 39,7±9,9, tập

trung chủ yếu ở nhóm tuổi 40-49 Đa số bệnh nhân ở với gia đình (88%), có trình độ học vấn chủ yếu dưới trung học phổ thông78%) và có việc làm (78%) Phân tích thực trạng lo âu cho thấy, tình trạng lo âu bệnh nhân mắc bệnh máu

ác tính đến tái khám có liên quan đến giới tính

và tình trạng công việc hiện tại Nữ có nguy cơ cao gấp 4,781 lần so với nam giới (95%CI=2,87-7,97); bệnh nhân thất nghiệp hoặc không làm việc có nguy cơ cao gấp 14,7 lần so với bệnh nhân đang đi làm (95%CI=4,46-48,43) Các nguy

cơ này cao hơn có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Đối với các yếu tố còn lại gồm tuổi càng cao, sống độc thân, trình độ học vấn càng thấp có nguy cơ

lo âu hơn so với nhóm còn lại, tuy nhiên nguy cơ này không có ý nghĩa thống kê

Trên 90% bệnh nhân tham gia bảo hiểm y

tế với mức hưởng bảo hiểm y tế phần lớn dưới 100% (62%), tuy nhiên vẫn đủ chi trả cho quá trình điều trị (74%) và sống không quá xa bệnh viện (80%) Bệnh nhân có mức chi trả BHYT dưới 100% có nguy cơ gặp triệu chứng lo âu cao gấp 6,15 lần so với nhóm bệnh nhân được BHYT thanh toán 100% (95% CI=3,66-10,34); bệnh nhân có tình hình kinh tế thiếu thốn có nguy cơ lo âu cao gấp 2,26 lần so với bệnh nhân có đủ khả năng chi trả cho quá trình điều trị (95% CI=1,27-4,01)

Bệnh nhân chủ yếu đang trong quá trình điều trị theo phác đồ và có thời gian điều trị trên

6 tháng (95%) Bệnh nhân có phương pháp điều trị chính là hóa trị hoặc điều trị triệu chứng (68%) Tất cả các bệnh nhân vẫn duy trì bệnh hoặc cải thiện tốt hơn, không có tiến triển xấu (0%) và phần lớn gặp tác dụng phụ từ ít đến trung bình (71%) Xét về mặt tình trạng bệnh, các yếu tố phương pháp điều trị, tiến triển bệnh và mức tác dụng phụ bệnh nhân gặp phải khi điều trị ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến triệu chứng lo âu của người bệnh (< 0,05) Nhóm bệnh nhân không điều trị hóa trị, không có sự cải thiện tình trạng bệnh có nguy cơ lo âu cao gấp

11, 67 (95% CI=6,66-20,45) và 25,43 (95% CI=13,53-47,8) so với nhóm bệnh nhân điều trị

Trang 4

hóa trị/xạ trị và cải thiện tình trạng bệnh tốt hơn,

tương ứng Đối với mức tác dụng khi điều trị,

nhóm bệnh nhân gặp nhiều tác dụng phụ có

nguy cơ lo âu thấp hơn 0,22 lần so với nhóm bệnh nhân gặp tác dụng phụ từ ít đến trung

bình (Bảng 3)

Bảng 1 Thông tin chung và thực trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu

Lo âu N (%) Không lo âu N (%) OR (95% CI) p

Độ tuổi

Nghề

nghiệp

Học vấn

Bảng 2 Thông tin chung về yếu tố kinh tế và thực trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu

HADS

(0,16 - 1,03)

0,057

(0,81 - 2,58)

0,213

Phương tiện đi lại

Bảng 3 Mối liên quan giữa tình trạng bệnh với thực trạng lo âu của người bệnh

Giai đoạn bệnh

Trang 5

Tình trạng bệnh N HADS

Thời gian chẩn đoán

(tháng)

Tiến triển bệnh

Tác dụng phụ khi điều

trị

Thực trạng lo âu

Tiến hành phân tích tổng hợp thực trạng lo

âu của bệnh nhân dựa trên bộ công cụ HADS

cho kết quả được trình bày trong Bảng 4

Bảng 4 Các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang

HADS

Không có triệu chứng lo âu

Dựa trên bộ công cụ HADS với điểm cắt lo

âu là 8 điểm, kết quả phân tích cho thấy, trên

60% bệnh nhân có triệu chứng lo âu; trong đó có

gần 10% bệnh nhân lo âu thực sự Số bệnh nhân

không lo âu chiếm 39,4%

Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của

người bệnh

Bảng 5 cho thấy khi sử dụng mô hình hồi

quy logistic đa biến thì: tâm lý lo âu ở bệnh nhân

mắc bệnh máu ác tính đến tái khám có liên quan

với phương pháp điều trị, sự tiến triển bệnh và

mức tác dụng phụ bệnh nhân gặp phải trong

điều trị (p <0,05) Bệnh nhân không được điều trị

hóa trị và không có sự cải thiện tình trạng bệnh

có nguy cơ lo âu cao gấp 12,22 lần (95%

CI=3,85-38,71) và 20,28 lần (95% CI=8,25-49,81) so với

bệnh nhân được điều tri hóa/xạ trị và có sự

chuyển biến tốt Trái ngược với phân tích đơn

biến, phân tích đa biến cho thấy bệnh nhân gặp

nhiều tác dụng phụ có nguy cơ lo âu cao gấp

6,43 lần (95%CI=1,76-23,48) so với nhóm bệnh

nhân gặp tác dụng phụ từ ít đến trung bình Mối

liên quan này có ý nghĩa thống kê (p=0,005) Đối với các yếu tố gồm mức BHYT chi trả, tình hình kinh tế bệnh nhân, thời gian chẩn đoán và giai đoạn bệnh, sau khi hiệu chỉnh, các yếu tố này có gây ảnh hưởng nhất định đến tâm lý lo âu của bệnh nhân, nhưng không có ý nghĩa thống kê

Bảng 5 Phân tích đa biến mối liên quan giữa các yếu

tố trong nghiên cứu đến tình trạng lo âu của người bệnh dựa trên thang điểm HADS

Giai đoạn bệnh

Điều trị theo phác đồ so

Điều trị theo triệu chứng

BÀN LUẬN

Trong tổng số 292 người bệnh tham gia nghiên cứu có 36,6% là nam giới và 63,4% là nữ giới với độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 39,7 (SD = 9,9) Kết quả phân tích thực trạng lo âu cho thấy, có 60,6% có triệu chứng lo

âu với 9,6% lo âu thực sự Kết quả này thấp hơn kết quả nghiên cứu của Mackenzie trên 454 bệnh nhân tại Úc năm 2013(4) có tỉ lệ lo âu thực sự là 15% , nghiên cứu về vấn đề lo âu của người bệnh ung thư đang xạ trị do E Frick và cộng sự (2007)(1) dùng thang đo HADS cho 63 bệnh nhân cho kết quả tỉ lệ lo âu thực sự là 15,9% Điều này

có thể giải thích do đặc điểm riêng về cuộc sống,

Trang 6

hoàn cảnh môi trường xã hội, cá tính của mỗi đối

tượng nghiên cứu

Phân tích thực trạng lo âu dựa trên các yếu

tố cho thấy, chỉ có 37,4% nam giới có triệu chứng

bị lo âu trong khi đó ở nữ giới là 74% Kết quả

này tương tự nghiên cứu của V Strong tại Anh

năm 2007 có tỉ lệ nam bị lo âu là 16%, nữ là 27%

Điều này được giải thích bởi sự khác biệt cấu tạo

não bộ và ảnh hưởng của sự thay đổi hoocmon

trong cơ thể Tình trạng lo âu cũng biểu hiện

nhiều hơn ở nhóm tuổi ≥ 60, nhóm đang sống

độc thân hoặc đã li dị, nhóm có trình độ từ trung

học phổ thông trở xuống và nhóm không đi làm

Do đó, trong quá trình điều trị, đây là các đối

tượng cần được quan tâm và tư vấn tâm lý

Đặc biệt, về tình trạng bệnh, bệnh nhân tuân

thủ điều trị và bệnh chuyến biến tốt ít lo âu hơn

so với nhóm đối tượng còn lại Nghiên cứu của

Jin Sheng Hong và Jun Tian năm 2013(2) cũng cho

thấy những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn

nặng có tỉ lệ lo âu cao, những đối tượng có tiến

triển và tình trạng bệnh xấu có tỉ lệ lo âu 9,62%

trong khi người bệnh có tiến triển tốt tỉ lệ lo âu là

1,67% Như vậy có thể thấy, các kết quả trong

nghiên cứu của chúng tôi có nhiều nghiên cứu

Ngoài ra, tâm lý lo âu ở bệnh nhân mắc bệnh

máu ác tính đến tái khám có liên quan với

phương pháp điều trị, sự tiến triển bệnh và mức

tác dụng phụ bệnh nhân gặp phải trong điều trị

(p < 0,05) Phân tích đa biến cho thấy, bệnh nhân

gặp nhiều tác dụng phụ có nguy cơ lo âu cao

gấp 6,43 lần (95% CI = 1,76-23,48) so với nhóm

bệnh nhân gặp tác dụng phụ từ ít đến trung

bình Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (p =

0,005) Do đó, trong quá trình điều trị, các bác sĩ

và điều dưỡng cần chủ động thăm hỏi và khai

thác các tác dụng phụ mà bệnh nhân gặp phải,

đồng thời bệnh nhân cũng cần chủ động báo cáo

các tác dụng phụ nhằm có hướng xử lý kịp thời,

tránh gây tâm lý lo âu cho người bệnh về sau

Mặc dù đây là một trong số ít nghiên cứu về

tình trạng lo âu, trầm cảm ở bệnh nhân ung thư

tại Việt Nam nhưng nghiên cứu của chúng tôi vẫn tồn tại một số hạn chế Kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện, được thực hiện chỉ tại một bệnh viện

sẽ không thể khái quát kết quả cho những quần thể nghiên cứu khác Nghiên cứu được thực hiện với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, không thể đưa ra mối quan hệ nhân quả trong diễn biến của tình trạng lo âu

KẾT LUẬN

Điểm lo âu trung bình của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu là: 7,40 (SD = 2,97) Tỉ lệ lo

âu của đối tượng nghiên cứu là 60%, trong đó tỉ

lệ lo âu thực sự là 10% Phân tích đơn biến cho thấy, lo âu của các đối tượng nghiên cứu có liên quan đến giới tính, tình trạng công việc, mức chi trả BHYT, tình hình kinh tế, phương pháp điều trị, tiến triển bệnh và tác dụng phụ khi điều trị (có ý nghĩa thống kê) Sau hiệu chỉnh, các yếu tố phương pháp điều trị, tiến triển bệnh, tác dụng phụ khi điều trị là 3 yếu tố độc lập dẫn đến tình trạng lo âu của người bệnh tham gia nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Frick E, Tyroller M và Panzer M (2007) Anxiety, depression and quality of life of cancer patients undergoing radiation therapy: a cross-sectional study in a community hospital outpatient centre

Eur J Cancer Care, 16(2):130-136

2 Hong JS, Tian J (2013) Prevalence of anxiety and depression and

their risk factors in Chinese cancer patients Support Care Cancer,

22(2):453-9

3 Huỳnh Lê Phương, Phan Thị Diễm Kiều, Lê Thị Vẹn, Tô Huỳnh Minh Tâm, Nguyễn Thị Thu (2013) Khảo sát mức độ lo âu

trước mổ bệnh nhân khoa ngoại thần kinh Y học Thành phố Hồ

Chí Minh, 17(2):84-89

4 Mackenzie LJ, Carey ML, Sanson-Fisher RW, et al (2013) Psychological distress in cancer patients undergoing radiation

therapy treatment Support Care Cancer, 21(4):1043-51

5 Tavoli A, Mohagheghi MA, et al (2007) Anxiety and depression

in patients with gastrointestinal cancer: does knowledge of

cancer diagnosis matter BMC Gastroenterol, 7:28.

6 Zigmond AS, Snaith RP (1983) The hospital anxiety and

depression scale Acta Psychiatrica Scand, 67:361-370

Ngày nhận bài báo: 15/08/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 23:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w