1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm xét nghiệm kháng thể kháng Phospholipid bao gồm kháng đông Lupus, kháng thể kháng Cardiolipin và β2 – Glycoprotein 1 tại viện Huyết học Truyền máu Trung ương

8 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 421,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm xét nghiệm một vài loại kháng thể kháng phospholipid bao gồm kháng đông Lupus, kháng thể kháng Cardiolipin, kháng thể kháng β2 – Glycoprotein góp phần hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân mắc hội chứng antiphospholipid.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM XÉT NGHIỆM KHÁNG THỂ KHÁNG

PHOSPHOLIPID BAO GỒM KHÁNG ĐÔNG LUPUS, KHÁNG THỂ

KHÁNG CARDIOLIPIN VÀ β2 – GLYCOPROTEIN 1 TẠI VIỆN HUYẾT HỌC TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG

Vũ Đức Quang * , Trần Thị Kiều My ** , Đào Thị Thiết * , Nguyễn Thị Thanh Hương * ,

Nguyễn Thị Ngọc Quyên * , Bạch Quốc Khánh *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nghiên cứu đặc điểm xét nghiệm một vài loại kháng thể kháng phospholipid bao gồm kháng

đông Lupus, kháng thể kháng Cardiolipin, kháng thể kháng β2 – Glycoprotein góp phần hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân mắc hội chứng antiphospholipid

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm một vài loại kháng thể kháng phospholipid bao gồm kháng đông Lupus, kháng thể

kháng Cardiolipin, kháng thể kháng β2 – Glycoprotein với một số xét nghiệm liên quan tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2017-2018

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu 501 bệnh nhân

được khám và điều trị tại Viện huyết học – Truyền máu Trung ương từ 1/1/2017-30/12/2018

Kết quả: 39,9% bệnh nhân có xuất hiện kháng thể: kháng thể LA chiếm tỷ lệ cao nhất (33,9% bệnh nhân)

Bệnh nhân dương tính với một loại kháng thể chiếm tỷ lệ cao nhất (22,6%) Chỉ số rAPTT kéo dài hơn, số lượng

TC có xu hướng giảm hơn, D-Dimer có xu hướng tăng hơn và KĐKPT dương tính chiếm tỷ lệ cao hơn ở các bệnh nhân có kháng thể, đặc biệt khi có sự kết hợp cả ba kháng thể Các chỉ số xét nghiệm Fib, INR, rTT không có

sự khác biệt ở bệnh nhân có và không có kháng thể

Kết luận: Bệnh nhân có kháng thể có chỉ số rAPTT kéo dài hơn, số lượng tiểu cầu giảm hơn, D-Dimer tăng

cao hơn so với nhóm không có kháng thể kháng phospholipid Bệnh nhân có xuất hiện đồng thời cả 3 kháng thể có

sự thay đổi rõ rệt nhất ở các chỉ số rAPTT, tiểu cầu, D-Dimer Không có sự khác biệt của các chỉ số Fib, INR, rTT

ở các nhóm bệnh nhân

Từ khóa: kháng thể kháng phospholipid (aPL), kháng đông lupus (LA), kháng thể kháng Cardiolipin (aCL),

kháng thể kháng β2 – Glycoprotein (aGPI)

ABSTRACT

RESEARCH CHARATERISTICS OF ANTIPHOSPHOLIPID ANTIBODY INCLUDING LUPUS ANTICOAGULANT, ANTI CARDIOLIPIN, ANTI β2 – GLYCOPROTEIN 1

IN NATIONAL INSTITUTE OF HEMATOLOGY AND BLOOD TRANSFUSION

Vu Duc Quang, Tran Thi Kieu My, Dao Thi Thiet, Nguyen Thị Thanh Huong,

Nguyen Thi Ngoc Quyen, Bach Quoc Khanh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 416 – 423

Backgrounds: Study on characteristics some type of antiphospholipid antibodies test including Lupus

anticoagulant, anti Cardiolipin, anti β2 – Glycoprotein to help clinicians in diagnosing and treating patients with antiphospholipid syndrome

Objectives: Describe the characteristics some type of antiphospholipid antibodies test including Lupus

* Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương ** Đại học Y Hà Nội

Tác giả liên lạc: KTV Vũ Đức Quang ĐT: 0986501350 Email: quangvu.nihbt@gmail.com

Trang 2

anticoagulant, anti Cardiolipin, anti β2 – Glycoprotein with some related coagulation tests at National Institute

of Hematology and Blood Transfusion from 2017 to 2018

Methods: Cross-sectional descriptive retrospective and prospective study of 501 patients who were

examined and treated at the National Institute of Hematology - Blood Transfusion from January 1, 2017 to December 30, 2018

Results: 39.9% of patients had antibodies: LA antibodies accounted for the highest proportion (33.9% of

patients) The antibody positive for the antibody was the highest percentage (22.6%), the rAPTT index is longer, Platelet count tends to decrease, D-Dimer tends to increase and Immediate acting inhibitor is positive The rate was higher in patients with aPL antibodies, especially when there were a combination of all three antibodies Fib, INR, rTT assays showed no difference in patients with or without antibodies

Conclusion: Patients with antiphospholipid antibodies have a longer rAPTT, lower platelet count, higher

D-Dimer than those without antiphospholipid antibodies Patients with simultaneous presence of all three antibodies showed the most significant changes in the rAPTT, platelet, D-Dimer indices There were no differences in Fib,

INR and rTT in the patient groups

Key words: anti phospholipid antibody (aPL), lupus anticoagulant (LA), anti Cardiolipin (aCL), anti β2 –

Glycoprotein (aGPI)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng antiphospholipid là bệnh lý tự

miễn được mô tả bởi huyết khối động tĩnh

mạch tái diễn hoặc sảy thai nhiều lần cùng với

sự có mặt của kháng thể kháng phospholipid

Để chẩn đoán APS, xét nghiệm kháng thể

kháng phospholipid đóng vai trò quan trọng

Kháng thể kháng phospholipid còn gặp trong

các bệnh lý tự miễn, nhiễm trùng, ung thư Tại

Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương,

các xét nghiệm phát hiện chất kháng đông

lupus (LA), kháng thể kháng β2 -

Glycoprotein, kháng thể kháng Cardiolipin

đang được thực hiện thường quy với các bệnh

nhân có nghi ngờ kháng thể kháng

phospholipid lưu hành

Tại Việt nam, những nghiên cứu tìm hiểu

đặc điểm các xét nghiệm đông máu và kháng

thể kháng phospholipid còn chưa nhiều Vì

vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm

xét nghiệm kháng thể kháng phospholid với

mục tiêu: "Mô tả đặc điểm kháng thể kháng

phospholipid bao gồm kháng đông Lupus,

kháng thể kháng Cardiolipin, kháng thể kháng

β2 – Glycoprotein với một số xét nghiệm liên

quan tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung

ương giai đoạn 2017-2018"

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

501 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ APS hoặc có kết quả rAPTT kéo dài được khám và chỉ định xét nghiệm sàng lọc APS lần đầu tại Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương

từ 1/1/2017- 30/12/2018

Chọn mẫu

Theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng nghi ngờ APS hoặc có kết quả xét nghiệm rAPTT kéo dài, được chỉ định các xét nghiệm sàng lọc APS lần đầu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương

Mẫu xét nghiệm đảm bảo tiêu chuẩn của phòng xét nghiệm, mẫu được ly tâm hai lần với tốc độ 2500 vòng/phút trong 10 phút để loại trừ yếu tố tiểu cầu và được xét nghiệm ngay trong vòng 4 giờ đồng hồ kể từ sau khi lấy máu

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có rối loạn đông máu bẩm sinh như: Hemophilia A, Hemophilia B

Bệnh nhân đang sử dụng các thuốc chống đông, thuốc kháng vitamin K, heparin standard,

Trang 3

hidroxil chloroquine

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu

Nội dung nghiên cứu

Thu thập mẫu bệnh phẩm từ các khoa lâm sàng

Xét nghiệm Fibrinogen, PT, APTT, TT, tổng

phân tích tế bào máu ngoại vi

Xét nghiệm phát hiện chất ức chế đường

đông máu nội sinh

Thực hiện các xét nghiệm LA, kháng thể

kháng β2glycoprotein, kháng thể kháng

cardiolipin

Phân tích và xử lý số liệu

Đặc điểm xét nghiệm các kháng thể kháng

phospholipid: tỷ lệ dương tính, phối hợp các

kháng thể, mối liên quan với một số xét nghiệm

đông cầm máu

Xử lý số liệu nghiên cứu

Sử dụng phần mềm SPSS 20.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung nhóm đối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ nữ: nam là 2,2:1 Tuổi trung bình

nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu là 39,6 tuổi

Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 16-30 tuổi,

chiếm 24,8%

Tỷ lệ bệnh nhân có kháng thể lưu hành

Trong các kháng thể kháng phospholipid, kháng khể LA chiếm tỷ lệ cao nhất (33,9%) Kháng thể kháng Cardiolipin và β2glycoprotein chiếm tỷ lệ tương đương (lần lượt là 18,6% và

16,6%) (Hình 1)

Tỷ lệ phối hợp kháng thể dương tính nhómbệnh nhân nghiên cứu

Bệnh nhân dương tính với một loại kháng thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 22,6% Bệnh nhân dương tính với hai loại kháng thể chiếm tỷ lệ thấp nhất với 5,6% Có 11,8% bệnh nhân dương tính với cả ba loại kháng thể

Đặc điểm xét nghiệm đông máu liên quan đến các loại kháng thể kháng phospholipid trong nghiên cứu

Giá trị trung bình một số xét nghiệm đông cầm máu theo giá trị xét nghiệm LA

Giá trị trung bình của xét nghiệm rAPTT của nhóm bệnh nhân có LA (+) cao hơn ở nhóm bệnh nhân có xét nghiệm LA nghi ngờ và nhóm bệnh nhân LA (-) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p <0,05 (Bảng 1)

Giá trị D-Dimer cao nhất ở nhóm bệnh nhân có LA (+) Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p <0,05

Không có sự khác biệt về giá trị trung bình của các chỉ số INR, Fib, và số lượng tiểu cầu ở các nhóm bệnh nhân

Hình 1 Tỷ lệ bệnh nhân dương tính với từng loại kháng thể (n=501)

Trang 4

Hình 2 Tỷ lệ phối hợp kháng thể dương tính (n=501) Bảng 1 So sánh giá trị trung bình một số chỉ số xét nghiệm đông cầm máu theo giá trị xét nghiệm LA (n=501)

Bảng 2 Đặc điểm chỉ số rAPTT theo giá trị xét

nghiệm LA (n=501)

rAPTT bình thường (%) rAPTT kéo dài (%)

Tỷ lệ bệnh nhân có xét nghiệm rAPTT kéo

dài là tương đương nhau ở nhóm có xét nghiệm

LA (+) và xét nghiệm LA nghi ngờ, cao hơn ở

nhóm có xét nghiệm LA(-) với p <0,05 (Bảng 2)

Bảng 3 Đặc điểm xét nghiệm KĐKPT theo giá trị

LA (n=501)

KĐKPT (-) % KĐKPT (+) % KĐKPT (±) %

p(1,3)<0,05 p(1,3)<0,05 p(1,3)<0,05

Tỷ lệ bệnh nhân có kháng đông nội sinh

không phụ thuộc thời gian, nhiệt độ dương tính

cao nhất nhóm có LA (+) (84,1%) Khác biệt có ý

nghĩa thống kê với p<0,05 (Bảng 3)

Giá trị trung bình một số xét nghiệm đông cầm

máu theo giá trị xét nghiệm aCL và Agpi

Giá trị rAPTT kéo dài hơn ở những bệnh

nhân có kháng thể aCL IgM/IgG và aGPI

IgM/IgG dương tính (Bảng 4)

Số lượng tiểu cầu thấp hơn ở những bệnh nhân có kháng thể aCL IgM/IgG và aGPI IgM/IgG dương tính, thấp nhất ở nhóm có kháng thể aCL IgG dương tính

Nhóm các bệnh nhân có kháng thể aCL và aGPI dương tính có tỷ lệ bệnh nhân có rAPTT kéo dài cao hơn các nhóm không có kháng thể

(Bảng 5)

Bệnh nhân có D-Dimer tăng gặp với tỷ lệ cao

ở nhóm có kháng thể aGPI IgM (+) và aCL

IgM(+) (90,5 và 100%) (Bảng 6)

Tỷ lệ bệnh nhân có số lượng tiểu cầu giảm gặp với tỷ lệ cao hơn ở các nhóm có kháng thể

aCL và Agpi (Bảng 7)

Bệnh nhân có kháng đông nội sinh không phụ thuộc thời gian, nhiệt độ chiếm tỷ lệ cao ở các nhóm có kháng thể aCL và aGPI (+), đặc biệt cao ở nhóm có kháng thể aCL IgG (+) (96,6%)

(Bảng 8)

Chỉ số rAPTT kéo dài nhất và số lượng tiểu cầu giảm sâu nhất ở nhóm bệnh nhân có đồng thời cả 3 loại kháng thể kháng phospholipid

(Bảng 9)

Trang 5

Bảng 4 So sánh giá trị trung bình rAPTT và số lượng tiểu cầu theo xét nghiệm aGPI và aCL

aGPI IgM

(-)

aGPI IgM (+)

aGPI IgG (-)

aGPI IgG (+)

aCL IgM (-)

aCL IgM (+)

aCL IgG (-)

aCL IgG

Tiểu cầu

Bảng 5 Đặc điểm chỉ số rAPTT theo giá trị xét nghiệm aGPI và aCL

aGPI IgM(-)

aGPI IgM(+)

aGPI IgG(-)

aGPI IgG (+)

aCL IgM(-)

aCL IgM(+)

aCL IgG(-)

aCL

rAPTT

bình

thường

p<0,05

rAPTT

kéo dài

p<0,05

Bảng 6 Đặc điểm chỉ số D-Dimer theo giá trị xét nghiệm aGPI và aCL

aGPI IgM(-)

aGPI IgM(+)

aGPI IgG(-)

aGPI IgG(+)

aCL IgM(-)

aCL IgM(+)

aCL IgG(-)

aCL

D-Dimer

bình

thường

p<0,05

D-Dimer

tăng

p<0,05

Bảng 7 Đặc điểm số lượng tiểu cầu theo giá trị xét nghiệm aGPI và aCL

aGPI IgM(-)

aGPI IgM(+)

aGPI IgG(-)

aGPI IgG(+)

aCL IgM(-)

aCL IgM(+)

aCL IgG(-)

aCL

Tiểu cầu

giảm

p<0,05

Tiểu cầu

BT

p<0,05

Tiểu cầu

tăng

p<0,05

Bảng 8 Đặc điểm xét nghiệm KĐKPT theo giá trị xét nghiệm aGPI và aCL

aGPI IgM(-)

aGPI IgM(+)

aGPI IgG(-)

aGPI IgG(+)

aCL IgM(-)

aCL IgM(+)

aCL IgG(-)

aCL

Bảng 9 So sánh giá trị trung bình một số chỉ số xét nghiệm đông cầm máu theo số lượng kháng thể dương tính

Trang 6

BÀN LUẬN

Đặc điểm xuất hiện các loại kháng thể kháng

phospholipid trong nghiên cứu

Nghiên cứu về tỷ lệ xuất hiện từng loại

kháng thể trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

nhận thấy, kháng thể lupus (LA) chiếm tỷ lệ cao

nhất với 33,9% Kháng thể kháng Cardiolipin

(aCL) và β2glycoprotein (aGPI) chiếm tỷ lệ

tương đương nhau, lần lượt là 18,6% và 16,6%

(Hình 1) Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Phương

Lan trên đối tượng xảy thai liên tiếp, kháng thể

aCL và aGPI lại xuất hiện với tỷ lệ cao hơn

kháng thể LA(5) Nghiên cứu của tác giả Hoàng

Thị Thuý Hà trên 8 bệnh nhân được chẩn đoán

xác định APS tại Bệnh viện Chợ Rẫy, có 7/8 bệnh

nhân xuất hiện kháng thể aCL, 5 bệnh nhân xuất

hiện thêm kháng thể LA(4) Nghiên cứu của

chúng tôi đa số dựa trên các bệnh nhân có xét

nghiệm APTT kéo dài (có thể xuất hiện kháng

đông nội sinh lưu hành) cũng đã bắt gặp tỷ lệ

khá cao bệnh nhân có các kháng thể kháng

phospholipid (40,0%) Theo các nhà nghiên cứu,

kháng thể kháng phospholipid nên được chỉ

định ở tất cả các bệnh nhân có xét nghiệm APTT

kéo dài chưa rõ nguyên nhân(4,1) Điều này nhằm

mục đích phát hiện sớm sự xuất hiện của kháng

thể kháng phospholipid ngay cả khi bệnh nhân

chưa có triệu chứng APS trên lâm sàng để có kế

hoạch theo dõi cho bệnh nhân, phòng các biến

chứng tắc mạch có thể xảy ra Theo nghiên cứu

của tác giả Laura và Galli, tỷ lệ bệnh nhân có

kháng thể LA có nguy cơ biến chứng tắc mạch

cao hơn ở bệnh nhân có kháng thể aCL và

aGPI(1,2,3) Như vậy, sự xuất hiện kháng thể LA

với tỷ lệ cao hơn kháng thể aCL và aGPI trong

nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các bệnh

nhân này cần được tư vấn để phát hiện sớm các

biến chứng tắc mạch và cân nhắc điều trị dự

phòng cho bệnh nhân

Các bệnh nhân nghi ngờ hoặc được chẩn

đoán xác định APS có thể xuất hiện 1, 2 hay

đồng thời cả 3 loại kháng thể LA, aCL và aGPI

Hình 2 biểu thị sự phối hợp các kháng thể xuất

hiện ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu Kết quả cho

thấy tỷ lệ bệnh nhân có một loại kháng thể dương tính chiếm tỷ lệ cao nhất với 22,6% bệnh nhân có cả ba loại kháng thể dương tính cũng chiếm tỷ lệ khá cao là 11,8% bệnh nhân có xuất hiện 2 trong 3 loại kháng thể kháng phospholipid chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ với 5,6% Theo tiêu chuẩn chẩn đoán APS, vai trò của các loại kháng thể kháng phospholipid là tương đương nhau Tuy nhiên, sự kết hợp của nhiều loại kháng thể được cho là có thể liên quan đến nguy cơ biến chứng tắc mạch và ảnh hưởng đến kết quả các xét nghiệm đông máu khác(8,7) Theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Phương Lan, tỷ lệ bệnh nhân dương tính với kháng thể kháng phospholipid ở bệnh nhân sẩy thai liên tiếp chiếm 56%(5) Tác giả Hoàng Thị Thuý Hà nghiên cứu trên 8 bệnh nhân APS thì có 5/8 bệnh nhân

có sự kết hợp hai loại kháng thể LA và aCL (tại thời điểm nghiên cứu, bệnh viện Chợ Rẫy chưa tiến hành xét nghiệm kháng thể aGPI)(4)

Đặc điểm một số xét nghiệm đông máu liên quan tới sự xuất hiện các loại kháng thể kháng phospholipid trong nghiên cứu

Đặc điểm một số xét nghiệm đông máu liên quan tới sự xuất hiện kháng thể LA

Giá trị xét nghiệm LA được chia làm 3 ngưỡng: Âm tính, nghi ngờ và dương tính So sánh giá trị trung bình và đặc điểm của một số xét nghiệm đông máu, chúng tôi nhận thấy:

- Chỉ số rAPTT có sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p <0,05 Theo

đó, giá trị trung bình của chỉ số rAPTT là 2,43 ± 1,31, cao hơn nhóm có LA âm tính (r APTT 1,37±0,49) và LA nghi ngờ (rAPTT 1,44±0,27)

Kết quả Bảng 2 cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân

có rAPTT kéo dài ở nhóm bệnh nhân LA dương tính cao hơn hẳn so với nhóm LA âm tính với p<0,05 Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thuý Hà, tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu đều có rAPTT kéo dài Tác giả này cũng nhận định, xét nghiệm mixtest và tìm kháng thể kháng phospholipid nên được chỉ định ở tất cả các bệnh nhân có chỉ số APTT kéo dài(4) Qua đó cho thấy xét nghiệm rAPTT

Trang 7

là một xét nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong

định hướng chẩn đoán APS

- Kháng đông lưu hành đường nội sinh

không phụ thuộc thời gian, nhiệt độ (KĐKPT) là

một xét nghiệm được tiến hành khi chỉ số rAPTT

kéo dài Xét nghiệm được tiến hành để xác định

sự có mặt của kháng thể không đặc hiệu chống

lại yếu tố đông máu con đường nội sinh dựa

trên nguyên lý của xét nghiệm mix test Xét

nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong định hướng

khả năng xuất hiện các kháng thể miễn dịch

trong đó có kháng thể kháng phospholipid Trên

Bảng 3 cho thấy, ở nhóm LA (+) có KĐKPT

dương tính chiếm tỷ lệ rất cao (84,1%), cao hơn

nhiều so với các nhóm bệnh nhân có LA(-) hoặc

nghi ngờ Điều đó chứng tỏ, xét nghiệm KĐKPT

(+) là một chỉ điểm quan trọng trong việc tiến

hành xét nghiệm tìm kháng thể LA

- Cũng theo Bảng 1, các chỉ số xét nghiệm

Fib, INR, rTT không có sự khác biệt giữa các

nhóm có và không có kháng thể LA Đây là các

xét nghiệm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố

thuộc con đường đông máu ngoại sinh và con

đường chung Trên thực tế, sự có mặt của kháng

thể kháng phospholipid ít gây ảnh hưởng đến

con đường đông máu ngoại sinh và con đường

chung Theo nghiên cứu của tác giả Miho

Sakakura và cộng sự, xét nghiệm PT không có sự

khác biệt giữa các nhóm có kháng thể aPL và

không có kháng thể aPL(7)

Đặc điểm một số xét nghiệm đông máu liên

quan tới sự xuất hiện kháng thể aCL và aGPI

Giá trị xét nghiệm aCL và aGPI được chia

làm 2 ngưỡng: Âm tính và dương tính với IgG

hoặc IgM So sánh giá trị trung bình và đặc điểm

của một số xét nghiệm đông máu, chúng tôi

nhận thấy:

- Chỉ số rAPTT cao hơn có ý nghĩa thống

kê với p<0,05 ở nhóm có kháng thể aCL

IgM/IgG và kháng thể aGPI IgM/ IgG Giá trị

rAPTT cao nhất thuộc nhóm có kháng thể aCL

IgG (+) Theo đó, giá trị trung bình của chỉ số

rAPTT ở nhóm có kháng thể aCL IgG là

2,81±1,55 (Bảng 4) Kết quả Bảng 5 cũng cho

thấy tỷ lệ bệnh nhân có rAPTT kéo dài ở nhóm bệnh nhân aCL và aGPI IgM/IgG dương tính cao hơn hẳn so với nhóm không có kháng thể với p<0,05 Qua đó cho thấy xét nghiệm rAPTT

là một xét nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong định hướng đi tìm kháng thể aCL và aGPI ở bệnh nhân nghi ngờ hội chứng APS

- Số lượng tiểu cầu: Theo kết quả Bảng 4,

nhóm nghiên cứu ghi nhận, số lượng trung bình tiểu cầu thấp hơn ở nhóm có kháng thể aCL và aGPI lưu hành và thấp nhất ở nhóm có kháng thể aCL IgG (+) Thống kê tỷ lệ bệnh nhân có số

lượng tiểu cầu giảm theo Bảng 7 cũng nhận thấy,

nhóm bệnh nhân có aCL và aGPI IgM/IgG (+) thì

tỷ lệ bệnh nhân có số lượng tiểu cầu giảm là cao hơn các nhóm không có kháng thể Như vậy, số lượng tiểu cầu cũng là một chỉ số giúp định hướng cho sự phát hiện của kháng thể aCL và aGPI

- Kết quả Bảng 6 cho thấy 100% bệnh nhân có

kháng thể aCL IgM và 90,5% bệnh nhân aGPI IgM có giá trị giá trị D-Dimer tăng so với mức bình thường Như vậy, D-Dimer cũng là một chỉ

số có sự khác biệt và thường tăng trong các trường hợp nghi ngờ có sự xuất hiện của kháng thể aCL

- Theo Bảng 8, tỷ lệ bệnh nhân có KĐPKT (+)

cao hơn ở nhóm bệnh nhân có kháng thể aCL và aGPI IgM/IgG so với các nhóm khác Khác biệt

có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Điều đó cho thấy xét nghiệm mix test tìm KĐKPT thực sự có ý nghĩa trong định hướng chẩn đoán kháng thể kháng phospholipid

Như vậy, các kháng thể LA, aCL, aGPI với bản chất là các kháng thể kháng phospholipid có tác động trực tiếp đến con đường đông máu nội sinh và sự hình thành huyết khối Giá trị D-Dimer tăng và số lượng tiểu cầu giảm gặp nhiều hơn ở những bệnh nhân có kháng thể kháng phospholipid (bao gồm cả LA, aCL, aGPI) có thể

do khuếch đại quá trình tăng tiêu thụ các yếu tố đông cầm máu trong quá trình tạo huyết khối

Vì vậy, các chỉ số rAPTT, số lượng tiểu cầu, D-Dimer và xét nghiệm KĐKPT thực sự có ý nghiã

Trang 8

trong định hướng sự có mặt của kháng thể

kháng phospholipid, đồng thời cũng là những

xét nghiệm có giá trị trong theo dõi diễn biến

điều trị ở những bệnh nhân này

Đặc điểm của các xét nghiệm đông máu theo

số lượng kháng thể kháng dương tính

Theo các kết quả thu nhận được ở trên, rõ

ràng, các kháng thể kháng phospholipid ảnh

hưởng đến các giá trị xét nghiệm rAPTT, số

lượng tiểu cầu, D-Dimer Tuy nhiên, để đánh

giá mức độ ảnh hưởng khi có sự kết hợp các

kháng thể, chúng tôi tiếp tục so sánh giá trị

trung bình và thống kê đặc điểm các xét

nghiệm dựa trên số lượng kháng thể dương

tính và được chia làm các nhóm: Nhóm có 1

kháng thể dương tính, nhóm có 2 kháng thể

dương tính và nhóm có cả 3 kháng thể dương

tính trên tổng số 200 bệnh nhân có xuất hiện

kháng thể kháng phospholipid Kết quả ghi

nhận được: Nhóm có dương tính với cả ba loại

kháng thể có chỉ số rAPTT kéo dài nhất, số

lượng tiểu cầu giảm thấp nhất và tỷ lệ bệnh

nhân có giảm số lượng tiểu cầu cao nhất (Bảng

9) Đối với chỉ số D-Dimer, nhóm bệnh nhân có

xuất hiện 2 loại kháng thể có giá trị trung bình

D-Dimer cao nhất (Bảng 9) Như vậy, mức độ

ảnh hưởng đến các chỉ số rAPTT, số lượng tiểu

cầu và D-Dimer bước đầu ghi nhận sự khác

nhau theo số lượng kháng thể kháng

phospholipid tồn tại trên cơ thể bệnh nhân

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu kết quả xét nghiệm của 501

bệnh nhân khám và điều trị tại Viện từ 1/2017-

12/2018, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

+ 39,9% bệnh nhân có xuất hiện kháng thể: kháng thể LA chiếm tỷ lệ cao nhất (33,9% bệnh nhân) Bệnh nhân dương tính với một loại kháng thể chiếm tỷ lệ cao nhất (22,6%)

+ Chỉ số rAPTT kéo dài hơn, số lượng tiểu cầu có xu hướng giảm hơn, D-Dimer có xu hướng tăng hơn và KĐKPT dương tính chiếm tỷ

lệ cao hơn ở các bệnh nhân có kháng thể aPL, đặc biệt khi có sự kết hợp cả ba loại kháng thể + Các chỉ số xét nghiệm Fib, INR, rTT không

có sự khác biệt ở bệnh nhân có và không có kháng thể

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alving BM, Barr CF (1990) Correlation between lupus anticoagulants and anticardiolipin antibodies in patients with

prolonged activated partial thromboplastin times Am J Med,

88:112–116

2 Durcan L (2017) Epidemiology of the Antiphospholipid

Syndrome Handbook of Systemic Autoimmune Diseases, 12:17-30

3 Galli M, Luciani D, Bertolini G (2014) Lupus anticoagulants are stronger risk factors for thrombosis than anticardiolipin antibodies in the antiphospholipid syndrome: a systematic

review of the literature Blood, 101:1827–1832

4 Hoàng Thị Thuý Hà (2014) Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của hội chứng kháng phospholipid tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm

2012 Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(2):107-111

5 Lê Thị Phương Lan, Hoàng Minh Phương, Đỗ Thanh Dung, Phùng Thị Hoa (2010) Sẩy thai liên tiếp và Hội chứng

Antiphospholipid Nội san Y học Sinh sản, 15:11

6 Ortel TL (2012) Antiphospholipid Syndrome Laboratory

Testing and Diagnostic Strategies Am J Hematol, 87(1):75–81

7 Pengo V, Ruffatti A, Legnani C, et al (2011) Incidence of a first thromboembolic event in asymptomatic carriers of high-risk antiphospholipid antibody profile: a multicenter prospective

study Blood, 118(17):4714–8

8 Sakakura M, et al (2000) Coagulation tests and anti-phospholipid antibodies in patients positive for Lupus

Anticoagulant Clin Appl Thrombosis/Hemostasis, 6(3):144-150

Ngày nhận bài báo: 19/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/07/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 22:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w