Dị tật chuyển vị dương vật bìu là một dị tật bẩm sinh không thường gặp của cơ quan sinh dục ngoài. Đa số các phương pháp phẫu thuật đã được đề xuất trước đây là sử dụng các vạt da xoay mở rộng để đưa bìu về vị trí đúng. Chúng tôi báo cáo một kỹ thuật hoàn toàn khác để sửa tật chuyển vị dương vật bìu bằng cách di chuyển dương vật chứ không phải bìu đó là kỹ thuật “Lỗ khuy áo” và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị dị tật chuyển vị dương vật bìu ở trẻ em bằng kỹ thuật “Lỗ khuy áo”. Nghiên cứu mô tả loạt trường hợp. Kỹ thuật “Lỗ khuy áo” được thực hiện trên 26 bệnh nhi tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 01/2013 đến tháng 07/2018.
Trang 1KỸ THUẬT “LỖ KHUY ÁO” – PHƯƠNG PHÁP ĐƯỢC CHỌN LỰA TRONG ĐIỀU TRỊ DỊ TẬT CHUYỂN VỊ DƯƠNG VẬT BÌU
Nguyễn Bình An * , Lê Tấn Sơn * , Lê Thanh Hùng * , Nguyễn Thị Trúc Linh * , Huỳnh Công Chấn * ,
Trần Đại Phú * , Nguyễn Thị Anh Đào *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Dị tật chuyển vị dương vật bìu là một dị tật bẩm sinh không thường gặp của cơ quan sinh dục
ngoài Đa số các phương pháp phẫu thuật đã được đề xuất trước đây là sử dụng các vạt da xoay mở rộng để đưa bìu về vị trí đúng Chúng tôi báo cáo một kỹ thuật hoàn toàn khác để sửa tật chuyển vị dương vật bìu bằng cách
di chuyển dương vật chứ không phải bìu đó là kỹ thuật “Lỗ khuy áo” và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị dị tật chuyển vị dương vật bìu ở trẻ em bằng kỹ thuật “Lỗ khuy áo”
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt trường hợp Kỹ thuật “Lỗ khuy áo” được
thực hiện trên 26 bệnh nhi tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 01/2013 đến tháng 07/2018
Kết quả: Có 72,7% trường hợp có kết quả tốt hoàn toàn với thẩm mỹ đẹp Không có biến chứng cần phẫu
thuật lại
Kết luận: Kỹ thuật này nên được áp dụng được cho tất cả các trường hợp chuyển vị dương vật bìu không
hoàn toàn
Từ khóa: chuyển vị dương vật bìu, kỹ thuật lỗ khuy áo
ABSTRACT
"BUTTON-HOLE" TECHNIQUE - METHOD TO BE SELECTED IN THE TREATMENT OF
PENOSCROTAL TRANSPOSITION
Nguyen Binh An, Le Tan Son, Le Thanh Hung, Nguyen Thi Truc Linh, Huynh Cong Chan,
Tran Dai Phu, Nguyen Thi Anh Dao
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 35 – 39
Objective: Penoscrotal transposition is a rare anomaly of the external genitalia Time-honored surgical
methods which have been proposed rely on the creation of rotational flaps to mobilize the scrotum to its normal anatomical location We describe a different approach to this anomaly by transposing the penis and not the scrotum called “Button hole” technique and to evaluate surgical outcomes of correcting penoscrotal transposition
in pediatric patients operated by “Button hole” technique
Materials and methods: This technique has been used in 26 children diagnosed with imcomplete penoscrotal transpositionin the Children Hospital 1 between 01/2013 and 07/2018
Results: There were 72.7% of the cases had excellent cosmetic result and completely successful outcome There have been no cases of redo operation
Conclusion: According to the results, this approach technique is an efficient option and should be used in all cases of incomplete penoscrotal transposition
Key words: penoscrotal transposition, button hole technique
*Bệnh viện Nhi Đồng 1
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuyển vị dương vật bìu (CVDVB) là dị tật
bẩm sinh không thường gặp của cơ quan sinh
dục ngoài được báo cáo lần đầu tiên bởi
Appleby vào năm 1923 Hiện vẫn chưa có con
số chính xác về tần suất mắc bệnh trong dân
số(39) Dị tật này đặc trưng bởi sự bất thường
trong tương quan vị trí giữa dương vật (DV)
và bìu thường liên quan đến lỗ tiểu thấp (LTT)
thể nặng(5,39,39)
Có nhiều phương pháp khác nhau đã được
đề xuất để điều trị dị tật CVDVB, đặc biệt là đối
với dạng chuyển vị không hoàn toàn Hầu hết
các phương pháp đã được báo cáo bởi các tác giả
như Glenn và Anderson(6), Dresner(3), Ehrlich và
Scardino(4), Levy(10) đều sử dụng các vạt da xoay
mở rộng, điều chỉnh bìu đến đúng vị trí
Năm 2000, Kolligian và Reda đã báo cáo tại
hội nghị niệu khoa Hoa Kỳ một kỹ thuật hoàn
toàn khác trong điều trị dị tật CVDVB đó là
chuyển DV sau khi đã làm thẳng qua một lỗ như
lỗ khuy áo (Button hole) được tạo sẵn ở vùng
mu Phương pháp này không di động bìu,
không sử dụng vạt da xoay, không có các đường
khâu chạy ngang vùng bìu Từ đó mang lại kết quả thẩm mỹ tốt hơn các kỹ thuật đã được báo cáo trước đây(8)
Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, kỹ thuật “Lỗ khuy áo” sửa tật CVDVB đã được thực hiện từ năm 1999 Đây là kỹ thuật tương đối đơn giản, mang lại kết quả thẩm mỹ cao nhưng hiện nay vẫn chưa được áp dụng rộng rãi Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhi bị dị tật CVDVB và quan trọng là đánh giá kết quả phẫu thuật của kỹ thuật “Lỗ khuy áo”được áp dụng ở các bệnh nhi này
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhi được chẩn đoán CVDVB có hoặc không kèm dị tật LTT, được phẫu thuật điều trị dị tật CVDVB lần đầu bằng kỹ thuật “Lỗ khuy áo” và theo dõi tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 01/2013 đến tháng 07/2018
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả loạt trường hợp
Phương pháp thực hiện
Hình 1 Các bước tiến hành phẫu thuật 1: Đo chiều dài dương vật trước mổ, 2: Xác định vị trí rạch da,
Trang 3Kỹ thuật “Lỗ khuy áo” áp dụng tại Bệnh
viện Nhi Đồng 1 được thực hiện cuối cùng sau
khi đã chỉnh tật cong và tạo hình niệu đạo
(Hình 1)
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả là tốt hoàn toàn
khi tương quan vị trí DV-bìu bình thường, chiều
dài DV không ngắn đi so với trước mổ, không
biến chứng và thẩm mỹ đẹp Kết quả chưa tốt
hoàn toàn khi tương quan vị trí DV - bìu bình
thường và không có biến chứng phải phẫu thuật
lại nhưng có sẹo xấu hoặc người nhà bệnh nhi
chưa hài lòng Kết quả không tốt khi còn
CVDVB các mức độ khác nhau và có biến chứng
cần phẫu thuật lại
Y đức
Nghiên cứu này được Hội đồng Bệnh viện
Nhi Đồng 1 số 912/BB-BVNĐ1 thông qua
KẾT QUẢ
Trong 26 trường hợp CVDVB được chỉnh
sửa bằng kỹ thuật “Lỗ khuy áo”, chúng tôi ghi
nhận cả 26 trường hợp đều là chuyển vị không
hoàn toàn Tuổi lúc phẫu thuật nhỏ nhất là 2,7
tuổi, lớn nhất là 13,6 tuổi, trung bình là 7,8 tuổi
Có 22 trường hợp (84,6%) có dị tật LTT đi kèm,
đa số là LTT thể sau với 21 trường hợp (80,8%), 1
trường hợp (3,8%) LTT thể giữa, không có LTT
thể trước Ngoài dị tật LTT, có 8 trường hợp
(30,8%) có một hoặc nhiều bất thường ở các cơ
quan khác đi kèm
Bảng 1 Dị tật đi kèm ngoài LTT
Tên dị tật Số trường hợp (%)
Thời gian phẫu thuật trung bình là 57,3 phút
Trong 10 trường hợp ghi nhận được chiều dài
DV trước mổ và sau mổ, có 2 trường hợp chiều
dài DV không thay đổi Các trường hợp còn lại
đều có chiều dài DV tăng sau mổ Không ghi
nhận trường hợp nào có chiều dài DV bị giảm sau mổ
Thời gian nằm viện trung bình là 4,7 ngày
Có 7 trường hợp (26,9%) có biến chứng sớm trong thời gian nằm viện bao gồm: chảy máu (2 trường hợp, 7,7%), phù nề thường gặp nhất (3 trường hợp, 11,5%), nhiễm trùng vết mổ và bí tiểu sau rút thông tiểu gặp ở cùng 1 trường hợp (3,8%), bung chỉ (1 trường hợp, 3,8%)
Trong số 26 trường hợp được đưa vào nghiên cứu, chúng tôi chỉ liên lạc và tái khám được 22 trường hợp, ghi nhận tất cả đều có tương quan vị trí DV bìu bình thường, không có trường hợp nào có biến chứng cần phẫu thuật lại Tuy nhiên có 6 trường hợp (27,3%) vết mổ lành nhưng để lại sẹo xấu Có 14 trường hợp (63,6%) ba mẹ rất hài lòng, có 7 trường hợp (31,8%) ba mẹ chỉ đạt mức hài lòng, 1 trường hợp duy nhất (4,5%) ba mẹ cảm thấy không hài lòng Dựa vào kết quả tái khám và sự hài lòng của ba mẹ bệnh nhi ghi nhận 16 trường hợp đạt kết quả tốt hoàn toàn chiếm 72,7%
Hình 2 Sẹo lồi vùng mu sau mổ 2 năm
Hình 3 Kết quả phẫu thuật tốt sau mổ 1 năm
Trang 4BÀN LUẬN
Tất cả các trường hợp CVDVB trong nghiên
cứu của chúng tôi đều là chuyển vị không hoàn
toàn tương tự như báo cáo của nhiều tác giả
khác như Mori và Ikoma (1986)(13), Kolligian
(2000)(8), Pinke và cs (2001)(15), Mokhless (2011)(12)
Chuyển vị dương vật bìu bản thân đã là một dị
tật không thường gặp Các trường hợp chuyển
vị hoàn toàn còn hiếm gặp hơn Hầu hết các
trường hợp này đều được báo cáo rời rạc
Hiện tại chưa có tài liệu nào khẳng định thời
điểm tốt nhất để phẫu thuật sửa tật CVDVB ở trẻ
em Thời điểm phẫu thuật tương ứng với thời
gian phẫu thuật các bất thường khác của bộ
phận sinh dục (trước 18 tháng tuổi)(2) Theo
Méndez - Gallart R (2010) việc phẫu thuật chỉnh
chuyển vị nên được thực hiện lúc 12 – 18 tháng
tuổi(11) Những tài liệu hướng dẫn được đưa ra
đều dựa vào ý kiến của những chuyên gia trong
lĩnh vực mổ LTT Các trường hợp trong nghiên
cứu của chúng tôi có tuổi lúc phẫu thuật còn khá
cao Sự chậm trễ thời điểm phẫu thuật do nhiều
nguyên nhân bao gồm thời điểm người nhà đưa
bé đến khám trễ, trễ lịch hẹn phẫu thuật và biến
chứng sau tạo hình niệu đạo phải mổ lại nhiều
lần Việc hoàn thành phẫu thuật trước lứa tuổi
đến trường là cần thiết để cải thiện kết quả phẫu
thuật cũng như tâm lý của trẻ
Các tác giả Kolligian (2000)(8), Saleh (2010)(16),
Mokhless (2011)(12) ghi nhận 100% các trường
hợp CVDVB được đưa vào nghiên cứu đều đi
kèm dị tật LTT thể sau Tỉ lệ LTT đi kèm trong
báo cáo của Pinke (2001)(15) là 79% với 21 trường
hợp (80,8%) LTT thể sau và 1 trường hợp LTT
thể giữa (3,8%) tương đương tác giả Mori và
Ikoma (1986)(13) với 16/20 trường hợp LTT thể
sau chiếm 80% và 3/20 trường hợp LTT thể giữa
chiếm 15% Mặc dù tỉ lệ CVDVB đi kèm dị tật
LTT rất cao từ 80-100% nhưng CVDVB vẫn có
thể là dị tật riêng biệt không đi kèm LTT Trong
đó chủ yếu là dị tật LTT thể sau, ít gặp LTT thể
giữa và không gặp LTT thể trước
Các bất thường liên quan đến dị tật CVDVB
Nghiên cứu của các tác giả Parida(14), Pinke(15), Fahmy(7) và chúng tôi cho thấy tỉ lệ các bất thường đi kèm với dị tật CVDVB rất thay đổi Sự khác biệt này có thể do dị tật CVDVB là một dị tật không thường gặp, tiêu chuẩn chọn mẫu và
số lượng bệnh nhân không giống nhau giữa các nghiên cứu Chúng tôi không thường xuyên sàng lọc dị tật đi kèm ở bệnh nhi trừ khi các bất thường của hệ cơ quan có biểu hiện lâm sàng rõ ràng Tuy nhiên các dị tật được đề cập tới gợi ý đến hội chứng VACTERL Mặc dù hội chứng này chỉ nhắc tới bất thường ở thận mà ít đề cập đến dị tật cơ quan sinh dục ngoài nhưng chúng tôi cho rằng cần chú ý thăm khám cẩn thận và đầy đủ để tránh bỏ sót các dị tật khác kết hợp với dị tật CVDVB
Kỹ thuật “Lỗ khuy áo” được áp dụng cho các trường hợp CVDVB không hoàn toàn không làm ngắn chiều dài DV sau mổ Điều này có thể giải thích nhờ thao tác bóc tách cắt bỏ mô xơ bám dính phần gốc DV trước khi di chuyển DV
về vị trí mới không chỉ giúp bảo toàn chiều dài
DV và còn giúp tăng chiều dài DV ở đa số trường hợp Hơn nữa với kỹ thuật mổ đơn giản, không cần lưu thông tiểu lâu để bảo vệ niệu đạo như trong trường hợp mổ LTT nên đa số các bệnh nhi được xuất viện sớm
Trong 26 trường hợp được phẫu thuật sửa tật CVDVB của nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận 7 trường hợp (26,9%) có biến chứng trong thời gian nằm viện Các biến chứng này chủ yếu của vết mổ, không ghi nhận biến chứng nào liên quan đến niệu đạo Các tác giả sử dụng cùng một kỹ thuật tương tự để tạo hình niệu đạo và chỉnh chuyển vị trong 1 thì mổ như Arena và
cs(1), Koyanagi và cs(9) có tỉ lệ biến chứng chung lần lượt là 38% và 48% Theo nghiên cứu của Pinke và cs (2001)(15), có 13/50 (26%) bệnh nhân
có biến chứng thứ phát sau sửa chuyển vị bao gồm dính DV, cong DV tái phát và tinh hoàn ẩn thứ phát Kỹ thuật Glenn-Anderson có tỷ lệ biến chứng thấp hơn đáng kể, với 5/37 (14%), so với tạo hình kiểu V-Y là 2/6 (33%) và vạt xoay
Trang 5niệu đạo sau phẫu thuật bao gồm hẹp niệu đạo,
túi thừa niệu đạo và rò niệu đạo không có sự
khác biệt đáng kể nhưng tỷ lệ hẹp miệng niệu
đạo ở những bệnh nhân sử dụng kỹ thuật
Glenn-Anderson thấp hơn có ý nghĩa Như vậy
chúng tôi nhận thấy tỉ lệ biến chứng sau mổ
CVDVB có kèm LTT và cong DV thay đổi tùy
vào việc chọn lựa số thì mổ, chọn thứ tự thì mổ
và chọn kỹ thuật mổ Việc phẫu thuật sửa chữa
nhiều thì cho tỉ lệ biến chứng thấp hơn sửa chữa
một thì và kỹ thuật “Lỗ khuy áo” cũng cho tỉ lệ
biến chứng thấp hơn các kỹ thuật khác
Mức độ hài lòng của người nhà bệnh nhi
được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố bao gồm số
lần phẫu thuật, kết quả sau mổ cả về chức năng
và thẩm mỹ, biến chứng sau mổ, thái độ tiếp
xúc, chăm sóc của nhân viên y tế trong thời gian
bệnh nhi nằm viện và quay lại tái khám Trong
đó yếu tố về kết quả của phẫu thuật nhằm đảm
bảo chức năng đi tiểu và vẻ ngoài cơ quan sinh
dục giúp trẻ giống như các trẻ bình thường khác
đóng vai trò chủ yếu
Dựa vào kết quả tái khám bao gồm tương
quan vị trí DV và bìu, chiều dài DV không ngắn
đi so với trước mổ, không có biến chứng của mổ
chuyển vị, thẩm mỹ đẹp kết hợp với đánh giá
mức độ hài lòng của ba mẹ bệnh nhi, nghiên cứu
chúng tôi ghi nhận 72,7% trường hợp có kết quả
tốt hoàn toàn sau mổ
KẾT LUẬN
Như vậy kỹ thuật “Lỗ khuy áo” thực sự là
một kỹ thuật tốt giúp chỉnh sửa dị tật CVDVB
không hoàn toàn, không có trường hợp nào còn
chuyển vị sau mổ, không gây biến chứng nào
cần phẫu thuật lại và đem lại kết quả thẩm mỹ
rất tốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Arena F, Romeo C, Manganaro A, et al (2005) "Surgical
correction of penoscrotal transposition associated with
hypospadias and bifid scrotum: our experience of two-stage
repair" J Pediatr Urol, 1(4):289-294
2 Chiang G, Cendron M (2010) "Disorders of The Penis And Scrotum", in: Gearhart J, Rink J, Mouriqand P Pediatric
Urology, pp.553-554 Saunders, Philadelphia
3 Dresner ML (1982) "Surgical revision of scrotal engulfment"
Urol Clin North Am, 9(2):305-310
4 Ehrlich RM, Scardino PT (1982) "Surgical correction of scrotal
transposition and perineal hypospadias" J Pediatr Surg,
17(2):175-177
5 Fahmy B (2015) "Male Genital Anomalies" Rare Congenital Genitourinary Anomalies-An Illustrated Reference Guide,
pp.20-22 Springer, Switzerland
6 Fahmy B (2017) "Penoscrotal Positional Anomalies", in: Fahmy
B, Mohamed A Congenital Anomalies of the Penis, pp.95-102 Springer, Switzerland
7 Fahmy B, El Shennawy AA, Edress AM (2014) "Spectrum of
penoscrotal positional anomalies in children" Int J Surg,
12(9):983-988
8 Kolligian ME, Franco I, Reda EF (2000) "Correction of
penoscrotal transposition: a novel approach" J Urol,
164(3Pt2):994-996
9 Koyanagi T, Nonomura K, Yamashita T, et al (1994) "One-stage repair of hypospadias: is there no simple method universally
applicable to all types of hypospadias?" J Urol, 152(4):1232-1237
10 Levy JB, Darson MF, Bite U, et al (1997) "Modified
pudendal-thigh flap for correction of penoscrotal transposition" Urol,
50(4):597-600
11 Mendez-Gallart R, Tellado MG, Somoza I (2010) "Extreme
penoscrotal transposition" World J Pediatr, 6(1):89
12 Mokhless I, Youssif M, Eltayeb M, et al (2011) "Z-plasty for sculpturing of the bifid scrotum in severe hypospadias
associated with penoscrotal transposition" J Pediatr Urol,
7(3):305-309
13 Mori Y, Ikoma F (1986) "Surgical correction of incomplete
penoscrotal transposition associated with hypospadias" J Pediatr Surg, 21(1):46-48
14 Parida SK, Hall BD, Barton L, et al (1995) "Penoscrotal transposition and associated anomalies: report of five new cases
and review of the literature" Am J Med Genet, 59(1):68-75
15 Pinke LA, Rathbun SR, Husmann DA, et al (2001) "Penoscrotal
transposition: review of 53 patients" J Urol, 166(5):1865-1868
16 Saleh A (2010) "Correction of incomplete penoscrotal
transposition by a modified Glenn-Anderson technique" African
J Pediatr Surg, 7(3):181
17 Yachia D (2007) "Penoscrotal transposition", in: Yachia D Text
Atlas of Penile Surgery, pp 73-74 CRC Press, Israel