1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu đánh giá giá trị mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành trên người bệnh giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên và giảm tiểu cầu do bệnh lí tại tủy

6 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 286,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước đầu đánh giá giá trị mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành trên người bệnh giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên và giảm tiểu cầu do bệnh lí tại tủy. 119 mẫu của bệnh nhân được chẩn đoán giảm tiểu cầu tại bệnh viện Truyền máu Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 2 năm 2018 thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào phân tích nghiên cứu.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ MẢNH TIỂU CẦU CHƯA TRƯỞNG THÀNH TRÊN NGƯỜI BỆNH GIẢM TIỂU CẦU DO NGUYÊN NHÂN NGOẠI BIÊN

VÀ GIẢM TIỂU CẦU DO BỆNH LÍ TẠI TỦY

Nguyễn Đắc Quỳnh Anh * , Trần Hữu Chí ** , Dương Hải ** , Trần Tuấn Khôi ** , Nguyễn Tấn Thịnh ** , Nguyễn Hoàng Thông ** , Lê Phương Thảo * , Nguyễn Hữu Nhân * , Tô Hoài Văn * , Huỳnh Võ Huỳnh Trí * ,

Huỳnh Thị Bích Huyền * , Phù Chí Dũng *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Bước đầu đánh giá giá trị mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành trên người bệnh giảm tiểu cầu do

nguyên nhân ngoại biên và giảm tiểu cầu do bệnh lí tại tủy

Đối tượng và phương pháp: 119 mẫu của bệnh nhân được chẩn đoán giảm tiểu cầu tại bệnh viện Truyền

máu Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 2 năm 2018 thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào phân tích nghiên cứu

Kết quả: Qua phân tích giá trị %IPF trong 119 bệnh nhân, chúng tôi nhận thấy: giá trị %IPF trung bình

của hai nhóm nguyên nhân ngoại biên (NNNB) và bệnh lí tại tủy (BLTT) lần lượt là 16,63% (khoảng giới hạn 1,40% - 45,50%) và 7,27% (khoảng giới hạn 0,90% - 34,80%) Giá trị %IPF trung bình trong giảm tiểu cầu do NNNB cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm giảm tiểu cầu do BLTT (p <0,0001) Điểm cắt của %IPF để chẩn đoán phân biệt giảm tiểu cầu do NNNB và BLTT theo mức giảm tiểu cầu: tiểu cầu <100 000/µL là 7,50% (độ nhạy 77,30%; độ đặc hiệu 70,45%); 50 000 ≤ tiểu cầu < 100 000/µl là 5,77% (độ nhạy 82,4%; độ đặc hiệu 72,2%); 20 000≤ tiểu cầu <50 000/µL là 9,3% (độ nhạy 72%; độ đặc hiệu 66,7%); tiểu cầu <20 000 là 10,6% (độ nhạy 81,2%; độ đặc hiệu 73,3%)

Kết luận: Có thể sử dụng giá trị cut-off của %IPF theo mức giảm tiểu cầu để bước đầu gợi ý chẩn đoán

phân biệt giảm tiểu cầu do NNNB và BLTT trên lâm sàng

Từ khóa: giảm tiểu cầu, mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành

ABSTRACT

ASSESSMENT OF AN IMMATURE PLATELET FRACTION VALUES IN THE DIFFERENTIATION

OF INCREASED PLATELET DESTRUCTION VERSUS DECREASED PLATELET PRODUCTION

Nguyen Dac Quynh Anh, Tran Huu Chi, Duong Hai, Tran Tuan Khoi, Nguyen Tan Thinh, Nguyen Hoang Thong, Le Phuong Thao, Nguyen Huu Nhan, To Hoai Van, Huynh Vo Huynh Tri,

Huynh Thi Bich Huyen, Phu Chi Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 6 - 2019: 127 - 132

Objective: Assessment of an immature platelet fraction (IPF) values in the differentiation of increased

platelet destruction (IPD) versus decreased platelet production (DPP)

Methods: Blood samples from 119 patients met the inclusion criteria in Blood Transfusion and Hematology

Hospital Ho Chi Minh City from 11/2017 to 02/2018 to measure IPF

Results: The mean %IPF in IPD and DPP were 16.63% (range, 1.40% – 45.50%) and 7.27% (range,

0.90% – 34.80%), respectively Statistical analysis revealed a significant difference between the %IPF of IPD and DPP (p<0.0001) The cut-off value of IPF on the basis of grades thrombocytopenia for differentiating IPD from

*Bệnh viện Truyền máu - Huyết học **Khoa Y- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Đắc Quỳnh Anh ĐT: 0986960869 Email: dacquynh6588@gmail.com

Trang 2

DPP: platelet count <100 000/µL was 7.50% (with a sensitivity of 77.30% and specificity of 70.45%); 50 000

≤platelet count <100 000/µl was 5.77% (with a sensitivity of 82.4% and specificity of 72.2%); 20 000 ≤ platelet count <50 000/µL was 9.3% (with a sensitivity of 72% and specificity of 66.7%); platelet count < 20 000 was 10.6% (with a sensitivity of 81.2% and specificity of 73.3%)

Conclusion: The cut-off %IPF on the basis of grades thrombocytopenia can be used in clinical utility to

predict thrombocytopenia due to IPD versus DPP

Key words: thrombocytopenia, immature platelet fraction (IPF)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giảm tiểu cầu là một vấn đề huyết học

thường gặp trên thực hành lâm sàng, thường

do hai nhóm nguyên nhân ngoại biên (NNNB)

và bệnh lý tại tuỷ (BLTT) Trong đó, bệnh cảnh

giảm tiểu cầu ngoại biên gây ra bởi hai nguyên

nhân là tăng phá huỷ và phân bố tiểu cầu bất

thường, còn giảm tiểu cầu do bệnh lý tại tuỷ

gây ra bởi giảm sản xuất bẩm sinh hay mắc

phải(3,7)

Việc định hướng NNNB hay BLTT có ý

nghĩa quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và

tiên lượng bệnh cảnh này, trong đó khảo sát

tuỷ xương thường được thực hiện để chẩn

đoán phân biệt hai nhóm nguyên nhân trên

Tuy nhiên, xét nghiệm này cần bác sỹ được

đào tạo chuyên sâu, cần có thời gian, và có thể

có biến chứng

Hiện nay, đếm mảnh tiểu cầu chưa trưởng

thành (IPF) hay còn gọi là tiểu cầu lưới (RPs)

bằng máy tự động là một xét nghiệm đơn giản,

dễ thực hiện, phản ánh sự giảm tiểu cầu trong

tủy xương(1,5).Vì vậy, xét nghiệm này có thể hữu

ích trong việc ước đoán nguyên nhân giảm tiểu

cầu do ngoại biên và bệnh lý tại tuỷ(8) Do đó,

chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Bệnh Viện

Truyền Máu Huyết Học TP Hồ Chí Minh nhằm

bước đầu đánh giá vai trò IPF để định hướng

nguyên nhân giảm tiểu cầu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán giảm tiểu

cầu do nguyên nhân ngoại biên và giảm tiểu cầu

do bệnh lý tại tuỷ tại bệnh viện Truyền Máu

Huyết Học TP Hồ Chí Minh (BV TMHH) trong

khoảng thời gian từ tháng 11/2017 - 02/2018

Tiêu chí chọn bệnh

Tất cả bệnh nhân (BN) đến khám và/hoặc nhập viện lần đầu tại bệnh viện

Số lượng tiểu cầu nhỏ hơn 100.000/µL có làm xét nghiệm IPF và các xét nghiệm khác để chẩn đoán xác định nguyên nhân

Bệnh nhân và thân nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại trừ

Bệnh nhân chưa có chẩn đoán rõ ràng, không làm đủ xét nghiệm

Bệnh nhân đã được truyền tiểu cầu trước khi lấy máu làm xét nghiệm tiểu cầu lưới

Bệnh nhân đã được điều trị trước khi lấy máu làm xét nghiệm tiểu cầu lưới

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu liên tục, không xác suất trong thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2018

Cỡ mẫu

Dùng công thức tính cỡ mẫu so sánh 2 số trung bình, tham khảo trung bình và độ lệch chuẩn trong nghiên cứu của Naz A và cộng sự

Phương pháp thu thập số liệu

Hồi cứu, thu thập dữ liệu bằng mẫu đã soạn Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung

Về đặc điểm tuổi, số bệnh nhân >15 tuổi có giảm tiểu cầu nhiều hơn số bệnh nhân ≤15 tuổi

Trang 3

(87,39% so với 12,61%) (Bảng 1)

Bảng 1 Đặc điểm về tuổi

Tuổi Tần số (N = 119) Tỉ lệ %

Bảng 2 Đặc điểm về giới tính

Giới Tần số (N = 119) Tỉ lệ %

Về đặc điểm giới tính, số lượng nữ giới có

giảm tiểu cầu nhiều hơn nam (61,34% so với

38,66%) (Bảng 2)

Bảng 3 So sánh giá trị %IPF giữa BN giảm tiểu cầu

do nguyên nhân ngoại biên và do bệnh lí tại tủy

Số lượng

mẫu

Giá trị trung bình

%IPF

Khoảng giới hạn (%)

Độ lệch chuẩn p-value

0.000*

%IPF trong giảm tiểu cầu do BLTT có giá trị

trung bình là 7,23 với độ lệch chuẩn là 6,64,

khoảng giới hạn là 0,9–34,8 %IPF trong giảm

tiểu cầu do NNNB có giá trị trung bình là 16,63

với độ lệch chuẩn là 11,05, khoảng giới hạn là

1,4–45,5 (Bảng 3)

Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị %IPF

trung bình trong giảm tiểu cầu do nguyên nhân

ngoại biên cao hơn bệnh lý tại tuỷ (16,63 so với

7,27) Kết quả kiểm định t-test trung bình 2 mẫu

cho thấy sự chênh lệch này có sự khác biệt ý

nghĩa thống kê (p <0,001)

Bảng 4 So sánh giá trị %IPF giảm tiểu cầu do bệnh

lí tại tủy và ngoại biên theo nhóm tuổi

Nhóm N IPF (%)

Trung bình

Độ lệch chuẩn p-value

0,335*

Nguyên nhân ngoại biên 75

0,517*

*phép kiểm t

Kết quả phân tích ở nhóm bệnh lý tại tủy cho

thấy %IPF trung bình ở nhóm người lớn cao hơn

nhóm trẻ em (7,73 so với 5,20) Tuy nhiên, kết quả kiểm định t-test trung bình 2 mẫu cho thấy

sự chênh lệch này chưa có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p-value=0,335>0,05) (Bảng 4)

Kết quả phân tích ở nhóm nguyên nhân ngoại biên cho %IPF trung bình ở nhóm người lớn cao hơn nhóm trẻ em (16,89 so với 14,03) Tuy nhiên, kết quả kiểm định t-test trung bình 2 mẫu cho thấy sự chênh lệch này chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p-value=0,517>0,05)

(Bảng 4)

Kết luận: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của %IPF về nhóm tuổi trong hai nhóm nguyên nhân ngoại biên và bệnh lý tại tủy

Bảng 5 So sánh giá trị %IPF ở nhóm giảm tiểu cầu

do nguyên nhân ngoại biên và bệnh lí tại tủy theo giới tính và tuổi

Nhóm N IPF (%) p-value *

Nguyên nhân ngoại biên

Nguyên nhân bệnh lý tại

* Phép kiểm t

Kết quả phân tích ở nhóm nguyên nhân ngoại biên cho thấy trung bình %IPF ở nữ cao hơn nam ở cả trẻ em và người lớn Tuy nhiên, kết quả kiểm định t-test trung bình 2 mẫu cho thấy sự chênh lệch này chưa có sự khác biệt ý

nghĩa ở mức 5% (Bảng 5)

Kết quả phân tích ở nhóm bệnh lý tại tuỷ cho thấy trung bình %IPF ở nam cao hơn nữ Tuy nhiên, kết quả kiểm định t-test trung bình 2 mẫu cho thấy sự chênh lệch này cũng chưa có sự khác

biệt ý nghĩa ở mức 5% (Bảng 5)

Ở cả hai nhóm bệnh, không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê về %IPF giữa trẻ em với người trưởng thành, và giữa giới nam với nữ

Trang 4

Bảng 6 So sánh giá trị %IPF ở nhóm NNNB và

BLTT theo mức độ giảm tiểu cầu

Nhóm (/µL) N %IPF

trung bình

Độ lệch chuẩn p-value

*

0,001

20,000≤ SLTC ≤ 50,000 37

0,012

50,000≤ SLTC <100,000 35

0,03

* Phép kiểm t

Theo kết quả nghiên cứu, giá trị trung bình

%IPF ở các nhóm NNNB và BLTT đều giảm

dần theo nhóm SLTC tăng dần Ở bệnh nhân

có SLTC <20.000/µL, giá trị %IPF trung bình

của nhóm NNNB (22,03%) lớn hơn giá trị

%IPF trung bình của nhóm BLTT (9,56%), sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,001)

Kết quả so sánh tương tự ở hai nhóm SLTC

còn lại, giá trị %IPF trung bình ở những bệnh

nhân giảm tiểu cầu do NNNB so với BLTT lớn

hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm SLTC từ

20.000–50.000/µL (p=0,013) và nhóm SLTC

>50.000/µL (p=0,03) (Bảng 6)

Bảng 7 Giá trị điểm cắt (cut-off) %IPF trong chẩn

đoán phân biệt giảm tiểu cầu do NNNB và BLTT theo

mức giảm tiểu cầu

Tiểu cầu

<20.000/µL

20.000≤ Tiểu cầu <50.000/µL

50.000 ≤ Tiểu cầu <100.000/µL

Giá trị điểm

Để chẩn đoán phân biệt giảm tiểu cầu do

NNNB và BLTT ở nhóm bệnh nhân có mức

giảm tiểu cầu càng thấp thì điểm cắt có giá trị

càng cao (Bảng 7)

BÀN LUẬN

Đặc điểm về tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm

bệnh nhân >15 tuổi có 104 ca (87,39%) hơn gần 7

lần so với nhóm bệnh nhân ≤ 15tuổi, có 15 ca

(12,61%) Trong khi đó, ở nghiên cứu của Jung H

và cộng sự (2010), có 130 ca >15 tuổi (64,68%) hơn 1,8 lần so với nhóm 71 ca ≤15 tuổi (35,32%)(4).

Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi có số lượng bệnh nhân >15 tuổi chiếm đa số, tương đồng với nghiên cứu của Jung H Điều này cho thấy vào thời điểm nghiên cứu đối tượng đến khám và/hoặc nhập viện vì giảm tiểu cầu tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học chủ yếu là đối tượng người lớn

Đặc điểm về giới tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm bệnh nhân nam có 46 ca (38,66%), nữ 73 ca (61,34%)

Trong khi đó, ở nghiên cứu của Jung H và cộng sự (2010), có 80 ca nam (39,80%) và nữ 121

ca (60,20%)(4) Ở nghiên cứu của Naz A và cộng

sự, có 130 ca nam (56,28%) và nữ có 101 ca (43,72%)(6) Đặc điểm này có thể được giải thích

do lấy mẫu thuận tiện làm cho tỉ lệ này khác biệt

So sánh giá trị %IPF giữa ở nhóm nguyên nhân ngoại biên và bệnh lí tại tủy

Đối với NNNB, giá trị %IPF trung bình và khoảng giới hạn lần lượt là 16,63 và 1,40-45,50 Trong khi đó, ở nhóm nguyên nhân BLTT, giá trị %IPF trung bình và khoảng giới hạn lần lượt là 7,27và 0,90–34,80

Kết quả trên cho thấy giá trị IPF trung bình trong giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên cao hơn giảm tiểu cầu do bệnh lý tại tuỷ Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,0001)

Tương tự, trong nghiên cứu của Jung H và cộng sự (2010), giá trị %IPF trung vị của nhóm ITP (thuộc nhóm NNNB) là 7,70% và của nhóm Non-ITP (thuộc nguyên nhân BLTT) là 3,50% (p<0,0001)(4) Giá trị tương ứng ở nghiên cứu của Naz A và cộng sự (năm 2016) là 16,39% và 7,69% (p <0,0001)(6) và nghiên cứu của Abe Y và cộng sự (2005) là 17,40% và 6,40% (p <0,01)(1) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cùng với các nghiên cứu này đều cho thấy giá trị trung vị của %IPF của nhóm nguyên nhân ngoại biên lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm nguyên nhân BLTT

Trang 5

So sánh giá trị %IPF ở nhóm NNNB và BLTT

theo giới tính và tuổi

Trong hai nhóm ≤15 tuổi hay >15 tuổi, chúng

tôi cũng không tìm thấy khác biệt có ý nghĩa

thống kê về giá trị %IPF ở cả 2 giới nam và nữ

trong nhóm bệnh nhân giảm tiểu cầu do nguyên

nhân ngoại biên cũng như nhóm bệnh nhân

giảm tiểu cầu do nguyên nhân tại tủy

Trong nghiên cứu của Jung H và cộng sự

(2010)(4), kết quả không tìm thấy sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về giá trị %IPF của nhóm bệnh

nhân ITP (thuộc nhóm nguyên nhân ngoại biên)

giữa trẻ em – người lớn và giữa nam – nữ Tuy

nhiên trong nhóm bệnh nhân ≤15 tuổi, giá trị

%IPF của nam (8,40%) cao hơn có ý nghĩa thống

kê so với nữ (5,50%) với p=0,04 Kết quả của

chúng tôi không giống với kết quả nghiên cứu

của Jung H, có thể vì số lượng mẫu ≤ 15 tuổi

trong nghiên cứu của chúng tôi không nhiều

So sánh giá trị %IPF ở nhóm NNNB và BLTT

theo mức giảm tiểu cầu

Chúng tôi nhận thấy giá trị %IPF có mối

tương quan với số lượng của bệnh nhân Số

lượng TC cầu càng thấp, sự phân bố giá trị %IPF

càng rộng Nhưng xu hướng chung, giá trị %IPF

thấp dần khi số lượng TC tăng lên (p <0,0001,

R=0,384) Tương tự, trong nghiên cứu của Briggs

C và cộng sự (năm 2004), số lượng tiểu cầu và

giá trị %IPF ở nhóm bệnh nhân ITP (thuộc nhóm

nguyên nhân ngoại biên) có tương quan nhau

(p<0,0001, R=0,69)(2)

Chúng tôi đã tiến hành phân nhóm bệnh

nhân theo số lượng tiểu cầu ở ba nhóm: nhóm

1 (SLTC <20.000/µL); nhóm 2 (SLTC 20.000–

50.000/µL); nhóm 3 (SLTC 50.000–100.000/µL)

Phân tích, so sánh giá trị trung bình %IPF của

bệnh nhân giảm tiểu cầu do nguyên nhân

ngoại biên và nguyên nhân bệnh lý tại tuỷ

theo nhóm SLTC Ở nhóm 1, giá trị %IPF trung

bình ở nhóm nguyên nhân ngoại biên (22,03%)

lớn hơn có ý nghĩa thống kê giá trị %IPF trung

bình của nhóm nguyên nhân bệnh lý tại tuỷ

(9,56%) với p=0,001; kết quả so sánh tương tự ở

hai nhóm còn lại, giá trị %IPF trung bình ở

những bệnh nhân giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên so với nguyên nhân bệnh lý tại tuỷ lớn hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm 2 (13,77% so với 7,76%, p=0,013) và nhóm 3 (10,35% so với 5,16%, p=0,03)

Giá trị điểm cắt (cut-off) của %IPF trong chẩn đoán nguyên nhân giảm tiểu cầu

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có

sự tương quan nghịch có ý nghĩa giữa mức giảm tiểu cầu và chỉ số tiểu cầu lưới nên chúng tôi chia bệnh nhân thành 3 nhóm theo mức giảm tiểu cầu, và nhận thấy có sự khác biệt về giá trị điểm cắt để phân biệt giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên và bệnh lí tại tủy ở 3 nhóm này, mức tiểu cầu càng thấp thì điểm cắt có giá trị càng tăng với 10,6%; 9,3%; 5,77% lần lượt ở 3 nhóm có

số lượng tiểu cầu <20.000/µL; 20.000/µL≤ tiểu cầu

<50.000/µL và 50.000/µL ≤tiểu cầu <100.000/µL, với độ nhạy và độ đặc hiệu gần như nhau Trong kết quả nghiên cứu của Jung H và cộng sự (năm 2010), điểm cắt của %IPF trong chẩn đoán phân biệt ITP (thuộc nhóm giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên) và suy tuỷ (thuộc nhóm giảm tiểu cầu do bệnh lý tại tuỷ) là 7,30% với độ nhạy 54,00% và đặc hiệu 92,20%(4) Kết quả điểm cắt 7,30% này gần với giá trị nghiên cứu ở nhóm bệnh nhân có SLTC

<100.000/µL của chúng tôi (7,50%), có độ đặc hiệu cao hơn nhưng độ nhạy lại thấp hơn

KẾT LUẬN

Qua phân tích nghiên cứu về giá trị %IPF trong bước đầu đánh giá giảm tiểu cầu do nguyên nhân tại tuỷ và giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên ở 119 bệnh nhân đến khám và/hoặc nhập viện tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 11/2017 – 02/2018, chúng tôi nhận thấy:

Giá trị %IPF trung bình và khoảng giới hạn của nhóm NNNB lần lượt là 16,63% và 1,40%– 45,50%; trong khi đó, ở nhóm nguyên nhân BLTT, giá trị %IPF trung bình và khoảng giới hạn lần lượt là 7,27% và 0,90%–34,80%

Giá trị %IPF trung bình trong giảm tiểu cầu

Trang 6

do NNNB cao hơn có ý nghĩa thống kê so với

nhóm giảm tiểu cầu do BLTT (p <0,0001)

Điểm cắt của %IPF để chẩn đoán phân biệt

giảm tiểu cầu do NNNB và BLTT theo mức giảm

tiểu cầu:

+ Tiểu cầu <100.000/µL: 7,50% với độ nhạy

77,30% và độ đặc hiệu 70,45%

+ 50.000 ≤tiểu cầu <100.000/µl: 5,77% với độ

nhạy 82,4% và độ đặc hiệu 72,2%

+ 20.000 ≤tiểu cầu <50.000/µL: 9,3% với độ

nhạy 72% và độ đặc hiệu 66,7%

+ Tiểu cầu <20.000: 10,6% với độ nhạy 81,2%

và độ đặc hiệu 73,3%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abe Y, Wada H, Tomatsu H, Sakaguchi A, et al (2006) A simple

technique to determine thrombopoiesis level using immature

platelet fraction (IPF) Thrombosis Research, 118:463–469

2 Briggs C, Kunka S, Hart D, et al (2004) Assessment of an

thrombocytopenia British Journal of Haematology, 126:93-99

3 Huỳnh Văn Mẫn, Nguyễn Tấn Bỉnh (2015) Bệnh suy tuỷ

xương, Bài giảng huyết học lâm sàng Nhà xuất bản Y học TP

HCM, pp.212

4 Jung H, Jeon HK, Kim HJ, Kim SH (2010) Immature Platelet Fraction: Establishment of a Reference Interval and Diagnostic

Measure for Thrombocytopenia Korean J Lab Med, 30(5):451–459

5 Ko YJ, Hur M, Kim H, et al (2015) Reference interval for immature platelet fraction on Sysmex XN hematology analyzer:

a comparison study with Sysmex XE-2100 Clin Chem Lab Med,

53(7):1091-1097

6 Naz A, Mukry SN, Shaikh MR, et al (2016) Importance of immature platelet fraction as predictor of immune

thrombocytopenic purpura Pak J Med Sci, 32(3):575–579

7 Phạm Quý Trọng (2015) Bệnh suy tuỷ xương, Bài giảng huyết

học lâm sàng Nhà xuất bản Y học TP HCM, pp.181

8 Pons I (2010) Correlation between immature platelet fraction and reticulated platelets Usefulness in the etiology diagnosis of

thrombocytopenia European Journal of Haematology, 85(2):158-63

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 22:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w