1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả giảm đau vết mổ của điện châm nhóm huyệt tứ mãn, đới mạch, địa cơ, tam âm giao với sản phụ sau mổ lấy thai

7 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 334,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mổ lấy thai đã trở thành một trong những quy trình phẫu thuật được thực hiện phổ biến nhất trên toàn thế giới. Một nghiên cứu từ Nigeria cho thấy có 95% sản phụ đau ở mức độ khác nhau ngay sau khi phẫu thuật mổ lấy thai và triệu chứng này cần điều trị vì sản phụ thường có mức độ đau nhiều. Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau vết mổ lấy thai của nhóm điện châm với nhóm chứng trong 72 giờ sau mổ thông qua giảm lượng thuốc giảm đau cần sử dụng.

Trang 1

HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU VẾT MỔ CỦA ĐIỆN CHÂM NHÓM HUYỆT TỨ MÃN, ĐỚI MẠCH, ĐỊA CƠ,

TAM ÂM GIAO VỚI SẢN PHỤ SAU MỔ LẤY THAI

Đặng Thanh Thế * , Nguyễn Thị Sơn **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Mổ lấy thai đã trở thành một trong những quy trình phẫu thuật được thực hiện phổ biến nhất

trên toàn thế giới Một nghiên cứu từ Nigeria cho thấy có 95% sản phụ đau ở mức độ khác nhau ngay sau khi phẫu thuật mổ lấy thai và triệu chứng này cần điều trị vì sản phụ thường có mức độ đau nhiều Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau vết mổ lấy thai của nhóm điện châm với nhóm chứng trong 72 giờ sau mổ thông qua giảm lượng thuốc giảm đau cần sử dụng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đoàn hệ, so sánh 2 nhóm chứng và không mù Nghiên cứu trên

64 sản phụ có chỉ định mổ lấy thai, theo dõi lượng thuốc giảm đau sử dụng trong 72 giờ, chia thành 2 nhóm: Nhóm chứng: 32 sản phụ, sử dụng thuốc giảm đau sau mổ Nhóm can thiệp: 32 sản phụ, sử dụng thuốc giảm đau kết hợp với điện châm

Kết quả: Nhóm can thiệp giảm được 14% lượng diclofenac cần sử dụng trong 24 giờ đầu sau mổ so với

nhóm chứng, p < 0,016 Và giảm được 24,50% lượng paracetamol cần dùng trong 24 – 72 giờ sau mổ so với nhóm chứng, p < 0,0001

Kết luận: Điện châm có hiệu quả giảm đau vết mổ sau mổ lấy thai thông qua giảm lượng thuốc giảm đau diclofenac và paracetamol sử dụng sau mổ

Từ khóa: điện châm, đau sau mổ lấy thai

ABSTRACT

EFFECT OF ELECTROACUPUNCTURE AT SANYINJIAO (SP6), DIJI (SP8), SIMAN (KI14), DAIMAI

(GB26) POINTS ON POST CAESAREAN PAIN

Dang Thanh The, Nguyen Thi Son

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 159 – 165

Objectives: Caesarean section has become one of the most commonly performed surgical procedures

worldwide A study from Nigeria showed that 95% of pregnant women suffered from varying degrees immediately after cesarean surgery and that the symptom needed treatment because women often had a high level

of pain For the above reasons, we conduct this research to aims: To compare the pain relief effect of electroacupuncture group with control group for 72 hours after caerarean section by reducing the amount of pain medication needed

Materials and Methods: In this cohort study, 64 women with caerarean section were assigned to

either control group only using postoperative analgesic (n = 32) or intervention group using postoperative analgesic plus electroacupuncture (n = 32) The amount of pain medication was monitored for 72 hours

Results: Compared to controls, the intervention group had a 14% reduction of diclofenac needed during

*Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai

**Khoa Y học cổ truyền, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BSCKII Đặng Thanh Thế ĐT: 0984300472 Email: dangthanhthe.bh@gmail.com

Trang 2

Conclusion: Electroacupuncture is effective for incision pain relief after caesarean section through reducing

the amount of pain medication

Keywords:electroacupuncture, caesarean pain

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau sau mổ lấy thai là một triệu chứng quan

trọng cần phải điều trị vì phẫu thuật này tuy có

mức độ đau khác nhau ở từng sản phụ nhưng

thường có mức độ đau nhiều(3) và kéo dài ít nhất

2 ngày sau mổ hoặc lâu hơn

Hiện nay giảm đau đa mô thức – kết hợp

giữa phương pháp sử dụng và không sử dụng

thuốc đang là xu hướng của thế giới vì đạt được

hiệu quả giảm đau đồng thời giảm liều, giảm tác

dụng phụ của các thuốc giảm đau và tăng sự hài

lòng của người bệnh(1,6,10) Trong đó châm cứu

giảm 30 – 35% lượng thuốc sử dụng so với nhóm

chứng và giảm tác dụng phụ của opiad như

chóng mặt, buồn nôn(12,13)

Sản phụ sau mổ lấy thai thường đau nhiều

do vừa trải qua một cuộc phẫu thuật lớn, xâm

lấn nhiều, vì vậy một phương pháp giảm đau

hiệu quả, không dùng thuốc, ít tác dụng phụ sẽ

là phương pháp tối ưu Điện châm là dùng dòng

điện nhất định tác động lên các huyệt để phòng

và chữa bệnh, là phương pháp kết hợp chặt chẽ

giữa chữa bệnh bằng châm cứu với chữa bệnh

bằng dòng điện Phương pháp này đã được một

số nghiên cứu cho thấy có tác dụng giảm đau

sau mổ, tính an toàn cao và ít có tác dụng phụ

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh hiệu quả giảm đau vết mổ lấy thai

của nhóm điện châm với nhóm chứng trong 72

giờ sau mổ thông qua giảm lượng thuốc giảm

đau cần sử dụng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ, so sánh 2 nhóm chứng

và không mù

Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai

Đối tượng nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu

Xác định cỡ mẫu để kiểm định giả thuyết về

2 số trung bình:

Các thông số cần có:

Mức ý nghĩa  = 0,01 => Z1-  /2 = 2,81, kiểm định 2 phía

Lực mẫu = 95%

Hồi cứu y văn(13)

µ1: 15,28 – số trung bình nhóm không điện châm

µ2: 9,89 – số trung bình nhóm kết hợp thuốc

và điện châm

σ1: 4,99 – phương sai nhóm không điện châm

σ2: 5,18 – phương sai nhóm kết hợp thuốc và điện châm

Sử dụng phần mềm Stata 13.0 => Cỡ mẫu cho mỗi nhóm là 32

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Sản phụ có đau sau mổ lấy thai đủ 18 – 35 tuổi Tình trạng sức khỏe trước mổ ASA I – II Đồng ý hợp tác và tham gia vào nghiên cứu

Có thể hiểu và sử dụng thang điểm VAS Phương pháp vô cảm: gây tê tủy sống

Sử dụng đường mổ ngang trên vệ (Pfannensteil)

Tiêu chuẩn loại trừ

Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Băng huyết sau sinh

Trạng thái tâm thần kinh không ổn định, khiếm khuyết nghe, nhìn, phát âm

Có đau mạn tính trước mổ hoặc sử dụng thường xuyên các thuốc giảm đau

Nghiện hoặc phụ thuộc vào các opioid, rượu Nhiễm HIV, bệnh đái tháo đường

Trang 3

Các biến số

Biến số nghiên cứu chính

Lượng thuốc giảm đau sử dụng sau mổ

Lượng diclofenac trong 24 giờ đầu sau mổ là

biến định lượng với đơn vị là mg

Lượng paracetamol từ 24 – 72 giờ sau mổ là

biến định lượng đơn vị là mg

Biến số nghiên cứu phụ

Tuổi: là biến định lượng, đơn vị là năm

Cân nặng: là cân nặng của sản phụ lúc nhập

viện; là biến định lượng, đơn vị kg

Tăng cân trong thai kỳ: tính từ lúc sản phụ

có thai đến lúc sinh, là biến định lượng, đơn vị kg

Lý do mổ là biến định tính với các giá trị

được ghi nhận từ chẩn đoán trước mổ trong hồ

sơ bệnh án

Phương pháp nghiên cứu

Điện châm

Huyệt sử dụng: Tứ mãn, Đới mạch, Địa cơ,

Tam âm giao

Huyệt Tứ mãn, Địa cơ: chọn theo nguyên tắc

tại chỗ và lân cận, huyệt cùng tiết đoạn thần

kinh với vùng bụng dưới

Huyệt Tam âm giao: là một trong “lục tổng

huyệt” chủ trị vùng bụng dưới, huyệt nằm trong

vùng giải phẫu chi phối bởi tiết đoạn thần kinh

L4, có vùng chi phối ngoài da từ T12 – S3(9) chứa

tiết đoạn thần kinh chi phối vùng bụng dưới

Huyệt Địa cơ: huyệt nằm trong vùng giải

phẫu chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L4, cùng

tiết đoạn thần kinh với huyệt Tam âm giao, có

tác dụng trong điều trị bệnh của tử cung

Máy điện châm: KWD 808I – do Trung Quốc

sản xuất

Kỹ thuật châm

Tư thế bệnh nhân: nằm ngửa; kim châm số 4

(4 cm), châm sâu, thẳng vào mỗi huyệt (độ sâu

0,5 đến 2 thốn), tìm cảm giác đắc khí

Xung điện ở tần số 80 Hz vì với tần số này có

tác dụng ức chế cảm giác và tác dụng này đến

nhanh khi tần số xung lớn hơn 60 Hz(8) Trước

khi nghiên cứu có tiến hành thử trên sản phụ và

đa số chấp nhận cường độ 80 Hz

Chế độ sóng liên tục và cường độ thích hợp

ở từng sản phụ, thời gian lưu kim: 30 phút cho mỗi lần châm

Liệu trình điện châm: ngày 01 lần, trong ba ngày liên tiếp tại các thời điểm: lúc sản phụ phục hồi cảm giác VAS = 1 (khoảng 60 phút sau mổ),

24 giờ và 48 giờ sau mổ

Các bước tiến hành

Tại khoa sản

Các sản phụ có chỉ định sinh mổ được tiếp cận khi có đủ tiêu chuẩn được tư vấn về thông tin nghiên cứu, đồng ý sẽ được ký vào giấy đồng thuận

Tại phòng hồi sức

Các sản phụ sau mổ được kiểm tra lại nếu

đủ điều kiện và khi phục hồi cảm giác (VAS = 1)

sẽ tiến hành như sau:

- Nhóm can thiệp điện châm và đặt hậu môn diclofenac 100 mg khi VAS = 3

- Nhóm chứng: sử dụng thuốc diclofenac

100 mg đặt hậu môn

Sau khi chuyển về khoa sản tiếp tục điện châm mỗi 24 giờ trong 2 ngày tiếp theo

Thời gian sau mổ đến 24 giờ nếu sản phụ đau khi VAS ≥3 điểm thì đặt hậu môn diclofenac

100 mg; từ 24 – 72 giờ sau mổ, nếu sản phụ đau khi VAS ≥3 điểm thì sử dụng paracetamol 500

mg uống

Sản phụ được theo dõi liên tục trong 72 giờ sau mổ

Theo dõi và đánh giá

Lượng thuốc giảm đau sử dụng trong 24 giờ đầu, từ 24 – 48 giờ và từ 48 – 72 giờ

Tác dụng phụ của thuốc gây tê tủy sống; tác dụng phụ của điện châm

Phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu nghiên cứu được phân tích và xử

lý bằng phần mềm SPSS 20.0

Trang 4

Biến định lượng

Nếu có phân phối chuẩn: sử dụng phép

kiểm t – Student Nếu không có phân phối

chuẩn: sử dụng phép kiểm Mann-Whitney

Với p <0,05 được xem là sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê

Biến đị nh tính

Để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ dùng

phép kiểm chi bình phương (χ2)

Nếu số ô có tần suất kỳ vọng nhỏ hơn 5

chiếm hơn 20% trong bảng 2 x n thì thay bằng

phép kiểm Fisher

Y đức

Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Y

đức Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh số

344/ĐHYD-HĐ ngày 14/10/2017

KẾT QUẢ

Đặc điểm về tuổi, chiều cao, cân nặng, tăng cân

trong thai kỳ

Bảng 1 So sánh tuổi, chiều cao, cân nặng, tăng cân

trong thai kỳ giữa 2 nhóm (n=32)

TV TB (ĐLC) TV TB (ĐLC)

Tuổi đến lúc sinh 28,68±3,01 29 ± 2,96 0,67

Chiều cao (cm) 155 154,65±4,01 155 154,78±4,23 0,44

Cân nặng lúc

nhập viện (kg) 63 62,71±8,80 63 63,78±10,64 1,00

Tăng cân trong

thai kỳ (kg) 13,5 13,31 ± 5,28 12 13,21±4,48 0,61

TV: Trung vị, TB: Trung bình; ĐLC: Độ lệch chuẩn

Đặc điểm về tuổi, chiều cao, cân nặng, tăng cân trong thai kỳ lúc nhập viện khác biệt không

có ý nghĩa thống kê giữa nhóm chứng và nhóm

can thiệp với p >0,05 (Bảng 1)

Đặc điểm phẫu thuật mổ lấy thai

Bảng 2 So sánh lý do mổ lấy thai trong 2 nhóm (n=32)

Lý do phẫu thuật lấy thai

Nhóm chứng

Nhóm can thiệp p

Bất xứng đầu chậu 0 0,00 1 3,10

0,61

Cổ tử cung không thuận lợi 0 0,00 1 3,10 Khác (Ngôi mông, ngôi ngang) 8 25,00 5 15, 70

Lý do mổ lấy thai giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp khác biệt không có ý nghĩa

thống kê với p >0,05 (Bảng 2)

Lượng diclofenac

Lượng diclofenac sử dụng đến 12 giờ và 24 giờ sau phẫu thuật mổ lấy thai ở 2 nhóm khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) (Bảng 3)

Lượng paracetamol sử dụng sau mổ

Lượng paracetamol sử dụng từ 24 – 48 giờ,

từ 48 – 72 giờ và từ 24 – 72 giờ sau mổ lấy thai ở nhóm chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê với

nhóm can thiệp (p <0,05) (Bảng 4)

Bảng 3 So sánh lượng diclofenac sử dụng sau mổ giữa 2 nhóm (n=32)

Lượng diclofenac

(mg)

p*

* Nonparametrics (Mann-Whitney) test, TB: Trung bình; ĐLC: Độ lệch chuẩn; TV: Trung vị; KTV: Khoảng tứ vị

Bảng 4 So sánh lượng paracetamol sử dụng sau mổ giữa 2 nhóm (n=32)

24 − 48 giờ sau mổ 1546,90 ± 367,20 1500 (1500-1500) 1156,30 ± 447,90 1000 (1000-1500) 0,0001

48 – 72 giờ sau mổ 1328,10 ± 300,80 1500 (1000-1500) 1015,60 ± 483,30 1000 (500-1500) 0,005

24 − 72 giờ sau mổ 2875 ± 523,60 3000 (2500-3000) 2171,90 ± 747,10 2000 (1750-2500) 0,0001

TB: Trung bình, ĐLC: Độ lệch chuẩn, TV: Trung vị, KTV: Khoảng tứ vị

Trang 5

BÀN LUẬN

Đặc điểm về tuổi, chiều cao, cân nặng, tăng

cân trong thai kỳ

Kết quả nghiên cứu Bảng 1 cho thấy độ tuổi

trung bình của trong nghiên cứu là 28,68 ± 3,01

tuổi ở nhóm chứng và 29 ± 2,96 tuổi nhóm can

thiệp, là tương đồng nhau Không khác biệt so

với các nghiên cứu Wu HC (2009), độ tuổi trung

bình của nhóm dùng thuốc giảm đau sau mổ là

30,80 ± 3,20 và nhóm dùng thuốc kết hợp với

điện châm 30,10 ± 4,10(13)

Chiều cao trung bình ở nhóm nghiên chứng

là 154,65 ± 4,01 cm tương đương với chiều cao

trung bình ở nhóm can thiệp là 154,78 ± 4,23 cm

Trong nghiên cứu chiều cao trung bình của sản

phụ tương đương với nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Trung Cường, Nguyễn Thị Thanh

(2013), chiều cao trung bình của nhóm A: là

154,8 ± 5,50 cm, nhóm B: là 154,90 ± 5,30 cm(7)

Tương tự, cân nặng trung bình lúc nhập

viện ở 2 nhóm nghiên cứu khoảng 63kg So với

tác giả Nguyễn Trung Cường, Nguyễn Thị

Thanh (2013) thì cân nặng trung bình nhóm A:

61,10 ± 7,90 kg và nhóm B: là 64,30 ± 6,20 kg(7);

tác giả Đinh Ngọc Đức nhóm chứng, nhóm can

thiệp lần lượt là 61 ± 7 kg và 64 ± 8 kg(2); kết

quả này cho thấy rằng cân nặng, chiều cao

trong nghiên cứu tương đồng với nghiên cứu

của các tác giả trước

Mức độ tăng cân trong thai kỳ trung bình

của nhóm chứng 13,31 ± 5,28 kg tương đương

với mức độ tăng cân trong thai kỳ trung bình

của nhóm can thiệp là 13,21 ± 4,48 kg Mức tăng

cân trong thai kỳ này cao hơn khoảng 1 kg so với

mức tăng cân trong thai kỳ trung bình của người

Việt Nam (trong thai kỳ tăng khoảng 12,50 kg)(5)

So sánh với nghiên cứu của Suzuki (2018), thì

tăng cân tối ưu khi mang thai ở phụ nữ Nhật

Bản là 11,40 kg(11) Mức tăng cân trong nghiên

cứu có cao hơn so với các tác giả nhưng không

nhiều, sự khác biệt này có thể do chế độ dinh

dưỡng trong thai kỳ không giống nhau

Lý do mổ lấy thai

So sánh lý do mổ lấy thai giữa 2 nhóm, kết

quả nghiên cứu Bảng 2 cho thấy lý do mổ phổ

biến nhất là vết mổ cũ chiếm tỷ lệ 71,90% ở nhóm chứng không khác biệt với nhóm can thiệp là 75% Lý do vết mổ cũ chiếm đa số chứng

tỏ là sản phụ từng trải qua cuộc mổ lấy thai nên phần nào biết rõ quy trình mổ diễn ra như thế nào nên ít có tâm lý lo lắng cho cuộc mổ

Đánh giá tác dụng giảm đau vết mổ sau sinh của điện châm

Trong nghiên cứu sản phụ được sử dụng thuốc diclofenac đặt hậu môn để giảm đau trong

24 giờ đầu và paracetamol uống từ 24 – 72 giờ sau sinh mổ Do đó, để đánh giá hiệu quả giảm đau của điện châm trong 72 giờ sau sinh, thì cần xác định xem lượng thuốc giảm đau diclofecnac

sử dụng trong 24 giờ đầu và lượng paracetamol

sử dụng từ 24 – 72 giờ sau sinh mổ của nhóm chứng và nhóm can thiệp

Lượng thuốc giảm đau diclofenac sử dụng trong 24 giờ sau mổ

Theo phác đồ của bệnh viện, sản phụ sau khi sinh mổ được đặt hậu môn một viên diclofenac

100 mg khi sản phụ phục hồi cảm giác (VAS = 1)

và 12 giờ sau mổ Vì diclofenac là một loại thuốc

có tác dụng giảm đau sau phẫu thuật, thuộc nhóm kháng viêm không steriod

Kết quả nghiên cứu ở Bảng 3 cho thấy ở

nhóm can thiệp đã giảm được 19% lượng diclofenac trong 12 giờ đầu và 14% trong 24 giờ sau mổ lấy thai Lượng diclofenac trong nhóm chứng và nhóm can thiệp khác biệt có ý nghĩa thống kê, cho thấy điện châm có tác dụng giảm đau vết mổ thông qua việc giảm lượng thuốc giảm đau sử dụng nhờ tác dụng của huyệt châm cứu và tác dụng của dòng điện

So sánh với nghiên cứu của Wu(13) tác giả chia 60 sản phụ sau mổ lấy thai thành 3 nhóm bằng nhau Nhóm chứng chỉ sử dụng thuốc giảm đau, nhóm kết hợp thuốc giảm đau và châm cứu, nhóm kết hợp thuốc giảm đau và điện châm Huyệt sử dụng là Tam âm giao 2

Trang 6

bên, nhóm điện châm được kích thích với tần số

là 2Hz trong 30 phút và chỉ một lần sau mổ lấy

thai Kết quả Wu thấy rằng nhóm kết hợp châm

cứu và nhóm kết hợp điện châm giảm được 30 –

35% lượng thuốc giảm đau cần dùng thêm trong

24 giờ sau mổ so với nhóm chỉ sử dụng thuốc

giảm đau Sự khác biệt này là do trong nghiên

cứu của Wu sử dụng morphin là thuốc giảm bậc

3, khi đề tài nghiên cứu sử dụng diclofenac là

thuốc giảm đau xếp bậc 1

Lượng thuốc giảm đau paracetamol sử dụng từ

24 – 72 giờ sau mổ

Tương tự như diclofenac, thì theo phác đồ

của bệnh viện thuốc paracetamol 500 mg được

sản phụ uống mỗi 8 giờ, mỗi lần uống một viên,

trong thời gian từ 24 đến 72 giờ sau sinh mổ

Kết quả nghiên cứu Bảng 4 cho thấy nhóm

can thiệp đã giảm được 25,30% lượng

paracetamol cần dùng từ 24 – 48 giờ, giảm 24%

từ 48 – 72 giờ và tổng lượng paracetamol giảm

trong 24 – 72 giờ sau mổ là 24,50% Cụ thể lượng

paracetamol trong nhóm chứng và nhóm can

thiệp khác nhau ở các thời điểm có ý nghĩa

thống kê, cho thấy điện châm có tác dụng giảm

đau vết mổ thông qua việc giảm lượng thuốc

giảm đau sử dụng nhờ tác dụng của huyệt và tác

dụng của dòng điện So sánh với nghiên cứu của

Hesse(4), tác giả kết hợp nhĩ châm với châm cứu

60 phút trước khi phẫu thuật và kim được cài tại

huyệt trong 3 ngày sau mổ lấy thai (chiều dài 6

mm và đường kính 0,14 mm); điều trị giảm đau

sau mổ gồm paracetamol 1g uống bốn lần mỗi

ngày, diclofenac 50 mg đặt hậu môn 3 lần mỗi

ngày, khi điểm đau theo thang điểm VAS ≥4 Kết

quả ghi nhận tổng lượng paracetamol trong giai

đoạn hậu phẫu 11,20 ± 4,30 g Cường độ đau khi

vận động ngày phẫu thuật đầu tiên là 4,30±2,40

và giảm xuống 2,20 ± 1,20 vào ngày xuất viện

Lượng paracetamol sử dụng trong nghiên cứu

của Hesse nhiều hơn lượng paracetamol trong

đề tài nghiên cứu Sự khác nhau có thể do thiết

kế nghiên cứu của Hesse sử dụng paracetamol

ngay sau mổ, cài kim tại huyệt nên kích thích liên tục và nghiên cứu không có nhóm chứng Tuy nhiên, kết quả của 2 nghiên cứu cho thấy sản phụ đều giảm đau tốt sau sinh mổ và sản phụ chấp nhận tốt (≥95%) điều trị bằng phương pháp châm cứu Điều này chứng tỏ rằng điện châm không những có hiệu quả giảm đau tốt thông giảm lượng thuốc paracetamoml mà còn giảm cường độ đau

KẾT LUẬN

Nghiên cứu tiến hành trên 64 sản phụ đau sau sinh mổ lấy thai, được chia thành 2 nhóm Nhóm chứng 32 sản phụ và nhóm can thiệp 32 sản phụ để đánh giá hiệu quả giảm đau của điện châm nhóm huyệt Tứ mãn, Đới mạch, Địa cơ, Tam âm giao, đạt được kết quả như sau:

Điện châm giảm được 14% lượng thuốc diclofenac trong 24 giờ đầu so với nhóm chứng Điện châm giảm được 24,50% lượng thuốc paracetamol trong 24 – 27 giờ so với nhóm chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Adamou N, Tukur J, Muhammad Z et al (2014) "A randomised controlled trial of opioid only versus combined opioid and non-steroidal anti inflammatory analgesics for pain relief in the first

48 hours after Caesarean section" Niger Med J, 55(5):369-73

2 Đinh Ngọc Đức (2016) "Đánh giá tác dụng giảm đau vết mổ của nhĩ châm sử dụng hạt dáng loa tai dối với sản phụ sau mổ

lấy thai" Y Học TP Hồ Chí Minh, 20(6):93-101

3 Gramke HF, de Rijke JM, van Kleef M, et al (2007) "The prevalence of postoperative pain in a cross-sectional group of

patients after day-case surgery in a university hospital" Clin J Pain, 23(6):8-543

4 Hesse T, Henkel B, Zygmunt M et al (2016) "Acupuncture for pain control after Caesarean section: a prospective observational

pilot study" Acupunct Med, 34(1):9-14

5 Lê Văn Điển (2004) "Thay đổi giải phẫu và sinh lý người mẹ

trong lúc mang thai - Sản phụ khoa Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, pp.105-119

6 Mugabure B, Tranque I, Gonzalez S, et al (2007) "[Multimodal approaches to postoperative pain management and

convalescence]" Rev Esp Anestesiol Reanim, 54(1):29-40

7 Nguyễn Trung Cường, Nguyễn Thị Thanh (2013) "Đánh giá hiệu quả giảm đau sau mổ lấy thai của morphine trong khoang

dưới nhện" Y Học TP Hồ Chí Minh, 17(6):209-213

8 Phan Quan Chí Hiếu (2002) Châm cứu học – tập 2 Nhà xuất bản

Y học, pp.179

Trang 7

9 Phan Quan Chí Hiếu, Võ Thị Thanh Thảo (2014) "Khảo sát

vùng ảnh hưởng ngoài da của huyệt ủy dương, tam âm giao và

nhóm huyệt vùng bụng" Y Học TP Hồ Chí Minh, 18(1):21-29

10 Polomano RC, Fillman M., Giordano NA, et al (2017)

"Multimodal Analgesia for Acute Postoperative and

Trauma-Related Pain" Am J Nurs, 117(3 Suppl 1):S12-S26

11 Suzuki S (2018) "Optimal Weight Gain During Pregnancy in

Japanese Women: Is It Okay?" J Clin Med Res, 10(3):279-280

12 Usichenko TI, Streitberger K (2014) "Perioperative acupuncture:

why are we not using it?" Acupunct Med, 32(3):4-212

13 Wu HC, Liu YC, Ou KL, et al (2009) "Effects of acupuncture on

post-cesarean section pain" Chin Med J, 122(15):8-1743

Ngày nhận bài báo: 28/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 14/09/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w