1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dịch tễ học - lâm sàng và các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng ở trẻ em dưới 5 tuổi

8 105 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 429,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác định được các nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) nặng góp giảm tỉ lệ mắc và tử vong do NKHHCT. Nghiên cứu chúng tôi nhằm: khảo sát dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến NKHHCT nặng. Trẻ từ 1 tháng - 5 tuổi có biểu hiện ho hoặc dấu hiệu nặng liên quan đến NKHHCT được điều trị tại khoa Nhi bao gồm hồi sức Nhi – bệnh viện Khánh Hòa từ 6/2015 - 12/2018. Việc phân tích để xác địch các yếu tố nguy cơ của NKHHCT nặng được so sánh giữa hai nhóm: đơn vị hồi sức (ICU) và không ICU dựa vào dịch tễ, lâm sàng và kết quả xét nghiệm.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC - LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH NẶNG Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI

Võ Minh Hiền * , Nguyễn Ngọc Huy * , Keisuke Yoshihara ** , Lay Myint Yoshida **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Việc xác định được các nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) nặng góp giảm

tỉ lệ mắc và tử vong do NKHHCT Nghiên cứu chúng tôi nhằm: khảo sát dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến NKHHCT nặng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trẻ từ 1 tháng - 5 tuổi có biểu hiện ho hoặc dấu hiệu nặng liên

quan đến NKHHCT được điều trị tại khoa Nhi bao gồm hồi sức Nhi – bệnh viện Khánh Hòa từ 6/2015 - 12/2018 Việc phân tích để xác địch các yếu tố nguy cơ của NKHHCT nặng được so sánh giữa hai nhóm: đơn vị

hồi sức (ICU) và không ICU dựa vào dịch tễ, lâm sàng và kết quả xét nghiệm

Kết quả: Với 376 trường hợp NKHHCT nặng điều trị tại ICU, tỉ lệ tử vong (5%), tuổi trung bình (5,1

tháng), thời gian nằm viện (7 ngày) Tuổi < 6 tháng, suy dinh dưỡng là một trong những yếu tố nguy cơ NKHHCT nặng được tìm thấy Về lâm sàng, rút lõm ngực (93,1%), thở nhanh (91,8%), khò khè (83,2%), rale

nổ (63,6%) chiếm tỉ lệ cao ở trẻ nhập ICU (p <0,001) Ngoài ra, Human rhinovirus/enterovirus chiếm 31,4% ở nhóm ICU

Kết luận: Nhiễm trùng HRV/ENT liên quan với NKHHCT nặng Trẻ <6 tháng, suy dinh dưỡng là một

trong những yếu tố nguy cơ của NKHHCT nặng

Từ khóa: nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng ở trẻ em, các yếu tố nguy cơ

ABSTRACT

EPIDEMICOLOGIC - CLINICAL CHARACTERISTICS AND RISK FACTORS FOR SEVERE ACUTE

RESPIRATORY INFECTIONS IN CHILDREN UNDER 5 YEARS OLD

Vo Minh Hien, Nguyen Ngoc Huy, Keisuke Yoshihara, Lay Myint Yoshida

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 112 - 119

Objectives: It is important to identify the risks of severe ARIs to reduce morbidity and mortality caused by

acute respiratory infections (ARIs) Our study aims to: investigate epidemiological-clinical characteristics and

clarify risk factors relating to severe ARIs

Methods: Children aged from 1 month - 5 years presented cough or signs of severe ARIs admitted to

Pediatric department including Intensive Care Unit (ICU) - Khanh Hoa general hospital from 6/2015 - 12/2018 were enrolled The analysis to identify the major risk factors for severe ARIs were compared between two groups:

ICU and non-ICU based on epidemiology, clinical presentations and result of investigations

Results: A total of 376 ARIs admitted ICU during the study period In which, the mortality rate (5%),

median age was 5.1 months, the duration of hospitalization was 7 days Age <6 months, malnutrition were considered to be risk factors for severe ARIs in our study Concerning clinical features, chest wall indrawing (93.1%), tachypnea (91.8%), wheezing (83.2%), crackles (63.6%) were associated with severe ARIs (p <0.001)

Moreover, HRV/ENT was responsible for 31.4% of the ICU cases

Conclusions: HRV/ENT infection asscociated with severe ARIs Age < 6 months, malnutrition were

*Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa **Viện nghiên cứu bệnh Nhiệt đới Nagasaki

Tác giả liên lạc: ThS.BS Võ Minh Hiền ĐT: 0906456350 Email: doctorhien80@yahoo.com

Trang 2

identified to be risk factors for ICU related ARIs

Key words: severe ARIs in children, risk factors

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính

(NKHHCT) vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây

tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới(6)

Theo tác giả Nair H(12), ước tính rằng 15 triệu trẻ

em nhập viện vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

nặng và rất nặng trong năm 2010, và sẽ có 3 trẻ

mất do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính mỗi 2

phút Năm 2008, tổ chức y tế thế giới (WHO)(15)

đã bao gồm Việt Nam là một trong số 15 quốc

gia có tỷ lệ mắc NKHHCT cao với ước tính

khoảng 2,9 triệu ca trong một năm Mặc dù đã có

tiến triển trong trong những năm gần đây,

nhưng tỷ lệ mắc NKHHCT và đặc biệt tỷ lệ

NKHHCT nặng dẫn đến tử vong vẫn cao gấp 10

lần so với các nước Úc, Nhật Do đó, việc phát

hiện sớm những yếu tố nguy cơ có liên quan đến

NKHHCT nặng góp phần quan trọng nhằm

giảm tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong đặc biệt ở

trẻ em dưới 5 tuổi(11) Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu

về vấn đề này được thực hiện ở các nước đang

phát triển, nơi mà tỷ lệ mắc và tử vong do

NKHHCT vẫn là nguyên nhân hàng đầu Do đó,

nghiên cứu của chúng tôi nhằm:

Khảo sát đặc điểm dịch tễ học - lâm sàng của

nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng ở trẻ em

dưới 5 tuổi nhập viện

Xác định các yếu tố nguy cơ của nhiễm

khuẩn hô hấp cấp tính nặng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu, địa điểm và thời gian

nghiên cứu

Đây là một thiết kế nghiên cứu tiến cứu

được thực hiện tại khoa Nhi, bệnh viện đa khoa

tỉnh Khánh Hòa trong thời gian từ tháng 8 năm

2015 đến tháng 12 năm 2018

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả trẻ em tuổi từ 1 tháng đến 5 tuổi biểu

hiện nhiễm khuẩn hô hấp (ho hoặc thở nhanh)

nhập viện vào phòng hô hấp (không ICU); hoặc

có dấu hiệu nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng nhập vào phòng hồi sức cấp cứu Nhi (ICU) thuộc khoa Nhi - bệnh viện đa khoa Khánh Hòa

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bao gồm cả ICU và không ICU

Tiêu chuẩn nhập ICU

Theo hướng dẫn của APLS trong nhận biết trẻ bị bệnh nặng có liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được xá định trên lâm sàng (định nghĩa các triệu chứng được mô tả trong APLS)

Tiêu chuẩn nhập phòng hô hấp (không ICU)

Trẻ có biểu hiện nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không có địa chỉ cư trú thuộc 16 khu vuecj

xã phường nha trang (theo vùng địa lý thì 16 khu vực này có thể ddaih diện cho quần thể nghiên cứu)

Thu thập mẫu bệnh phảm và cách phân loại dữ liệu

Việc thu thập mẫu bệnh phẩm bằng dịch mũi họng để làm PCR các loại virus (đính kèm với bản fulltex Hiền gửi)

Cách đánh giá các tổn thương trên Xquang

và phân loại NKHHCT nặng, hoặc không dữa theo hướng dẫn của WHO

Tiêu chuẩn nhập vào phòng cấp cứu (ICU) - Khoa Nhi

Dựa theo dướng dẫn của Cấp cứu Nhi nâng cao APLS, 2015(18) trong thực hành lâm sàng cách nhận biết và phát hiện trẻ bị bệnh nặng, Theo đó, đối tượng nghiên cứu bao gồm những trẻ biểu hiện triệu chứng lâm sàng nặng có liên quan đến tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính:

Hôn mê,

Co giật, Tắc nghẽn hô hấp, Tím tái trung tâm, Suy hô hấp nặng:

Rút lõm hõm ức,

Co kéo cơ hô hấp,

Trang 3

Thở rên,

Phập phồng cánh mũi,

Rút lõm lồng ngực nặng,

Dấu hiệu suy tuần hoàn:

Mạch nhẹ,

Thời gian đổ đầy mao mạch kéo dài,

Nhịp tim bất thường,

Hạ huyết áp,

Dấu hiệu của choáng

Tiêu chuẩn nhập vào phòng hô hấp (không ICU) –

khoa Nhi

Chương trình giám sát nhiễm khuẩn hô hấp

cấp tính dựa trên dân số ở Nha Trang, tỉnh

Khánh Hòa, Việt Nam được thành lập vào tháng

2 năm 2007 Khu vực nghiên cứu hiện tại bao

gồm hơn 350.000 cá nhân với với khoảng 25.000

trẻ em dưới 5 tuổi từ 16 xã phường trong thành

phố Theo đó, trẻ em từ 1 tháng đến 5 tuổi ở khu

vực khai thác (16 xã phường) có biểu hiện ho và/

hoặc khó thở nhập vào khoa Nhi được chọn vào

nghiên cứu(21)

Thu thập mẫu bệnh phẩm và phân loại dữ liệu

Thông tin về đặc điểm dịch tễ học, đánh giá

triệu chứng lâm sàng ở phiếu thu thập số liệu

được thực hiện bởi bác sĩ Nhi sau khi được sự

đồng ý của người giám hộ trẻ Mẫu bệnh phẩm

dịch mũi họng được làm PCR để xác định tác

nhân gây NKHHCT bao gồm RSV, Cúm A và B,

Rhinovirus, Metapneumovirus ở người,

Parainfluenza loại 1-4, Coronavirus (229E và

OC43), Adenovirus, Bocavirus và Enterovirus

Trong các nghiên cứu dựa vào cộng đồng,

định nghĩa trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp

cấp tính dưới (LRTI) nếu trẻ nhập viện có biểu

hiện thở nhanh ≥ 60/phút đối với trẻ < 2 tháng,

≥ 50/phút đối với trẻ 2 – 11 tháng, và ≥ 40/phút

đối với trẻ 12 - 59 tháng Thêm vào đó, nếu trẻ

có biểu hiện dấu hiệu nguy hiểm toàn thân

nặng, rút lõm lồng ngực nặng được phân loại

LRTI nặng(3,1) Việc xác định phân loại các tổn

thương phổi trên X-quang dựa theo hướng

dẫn của WHO(19)

Quản lý dữ liệu và phân tích thống kê

Tất cả các thông tin dịch tễ học lâm sàng được nhập hai lần vào cơ sở dữ liệu và được xác nhận bởi các nhân viên quản lý dữ liệu được đào tạo tại Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa bằng FoxPro ver.9.0 (Microsoft, Redmond, WA, Hoa Kỳ) Phân tích để xác định các yếu tố nguy cơ chính đối với NKHHCT nặng được so sánh giữa hai nhóm (ICU và không ICU) dựa trên dịch tễ học, lâm sàng và kết quả xét nghiệm Đối với các biến định tính, thử nghiệm Chi bình phương hoặc Fisher’s exact được thực hiện để so sánh sự khác biệt về tỷ lệ giữa 2 hoặc 3 nhóm độc lập Đối với các phép so sánh biến liên tục, phép thử T-Student test hoặc Mann-Whitney U-test được thực hiện, giá trị p <0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê Phân tích hồi quy logistic được thực hiện để xác định các yếu tố nguy cơ của NKHHCT nặng, tất cả các biến có p < 0,05 được đưa vào phân tích hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố độc lập liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng (ICU) Yếu tố nguy

cơ được xác định có ý nghĩa khi p <0,05 trong phân tích hồi qui đa biến

Y đức

Nghiên cứu đã được thông qua bởi Hội đồng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa số 141/QĐ-BVĐKT

KẾT QUẢ

Tác nhân vi rút liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong giai đoạn nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 6 năm

2015 đến tháng 12 năm 2018 tại khoa Nhi, đã có

376 trường hợp nhập viện tại khoa chăm sóc đặc biệt (ICU), trong đó 50,3% (189/376) dương tính với ít nhất với một loại vi rút Trong 376 trường hợp ICU, HRV/ENT (31,4%), RSV (18,4%), PIV3 (6%) Influenza A (6%) là những vi rút phổ biến nhất được phát hiện trong nghiên cứu của chúng

tôi (Hình 1A) Liên quan đến trường hợp nhập

vào khoa hô hấp (không ICU), 4167 ca được chọn vào nghiên cứu, trong đó có 55,8% (2326/4167) dương tính với ít nhất một trong các

Trang 4

loại vi rút được phát hiện bằng kỹ thuật PCR,

theo đó Rhino (32,5%), RSV (15,2%), Influenza A

(6,7%) là những virus phổ biến (Hình 1B)

Hình 1 Tác nhân virus ở nhóm ICU và không ICU A: Tác nhân virus ở nhóm ICU, B: Tác nhân virus ở nhóm

không ICU

Đặc điểm dịch tể học ở trẻ nhiễm khuẩn hô hấp

cấp tính nhập ICU

Trong tổng số 376 trẻ bị NKHHCT nặng

nhập ICU (nhóm ICU) và 4167 NKHHCT

không nhập ICU (nhóm không ICU) trong thời

gian nghiên cứu, tuổi trung bình là 5,1 tháng

(IQR: 2,0 - 12,5) đối với nhóm ICU và 17,9

tháng (IQR: 9,3 - 29,6) đối với nhóm không

ICU (p <0,001) Như thể hiện trong bảng 1,

nam giới (64,4%), trẻ em dưới 6 tháng tuổi

(54,5%), suy dinh dưỡng (13,3%), liên quan tỷ

lệ nhập điều trị tại ICU (p < 0,001) Tuy nhiên,

tỷ lệ trẻ có đi nhà trẻ (11,4%), trong gia đình có

người hút thuốc (5,4%) và sử dụng kháng sinh

trước khi nhập viện (58,0%) thấp hơn so với

nhóm không ICU (p <0,001) (Bảng 1)

Đặc điểm lâm sàng liên quan đến nhiễm khuẩn

hô hấp cấp tính nặng

Liên quan đến các biểu hiện về mặt lâm

sàng, sự khác biệt rõ rệt có ý nghĩa thống kê giữa

nhóm bệnh nhân NKHHCT điều trị tại ICU và

nhóm bệnh nhân NKHHCT không điều trị tại

ICU (p <0,001) Theo đó, tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm

ICU có biểu hiện khò khè (83,2%), thở nhanh

(91,8%), rút lõm lồng ngực (90,2%), phổi có biểu hiện ran nổ và ẩm (63,6%)

Ngoài ra, bằng cách sử dụng các hướng dẫn của IMCI, ở nhóm ICU có 97% (367/376) được chẩn đoán là NKHHCT dưới (LRTI), trong đó 93% (351/376) được xác định NKHHCT dưới nặng Hơn nữa, tỷ lệ bất thường trên phim X-quang phổi là 74,5% và tỷ lệ viêm phổi được xác định trên X-quang (68,9%) cao hơn nhiều so với nhóm không ICU (p <0,001)

Trong 376 trường hợp ICU, 6,7% (25/376) cần

hỗ trợ máy thở và 77,7% (292/376) có chỉ định thở oxy Thời gian nằm viện ở nhóm ICU dài hơn so với nhóm không ICU (7,0; IQR: 5,0 - 10 so với 4,0; IQR: 3,0 - 6,0; p <0,001) Tuy nhiên, không có sự khác biệt được tìm thấy giữa hai nhóm dựa trên số lượng bạch cầu qua kết quả

xét nghiệm công thức máu (p >0,05) (Bảng 2)

Các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng

Sau khi điều chỉnh tác động gây nhiễu của các yếu tố khác được nghiên cứu và sau khi lựa chọn mô hình phân tích đa biến hồi qui logistic,

có mối liên quan đáng kể giữa các biến số nguy

Trang 5

cơ đến tình trạng NKHHCT nặng được tìm thấy:

nhóm trẻ 0 - 6 tháng (5,35 với KTC 95%: 4,43 -

6,46) và trẻ suy dinh dưỡng (16,91 với KTC 95%:

3,07 - 693,11) (Bảng 3)

Bảng 1 So sánh đặc điểm chung giữa nhóm ICU và nhóm không ICU

Trung vị của tuổi (tháng) 5,1 (IQR: 2,0 - 12,5) 17,9 (IQR: 9,3 - 29,6) <0,001

Có đi nhà trẻ (%) 44 (11,7%) 2142 (51,4%) <0,001 Gia đình có người hút thuốc (%) 15 (5,4%) 1052 (31,7%) <0,001

Nhóm tuổi (%)

Tiền sử

Sử dụng kháng sinh trước nhập viện (%) 218 (58,0%) 3162 (75,9%) <0,001 Đang mắc bệnh lý nào đó (%) 189 (50,3%) 2493 (59,8%) <0,001

Bảng 2 So sánh đặc điểm lâm sàng giữa hai nhóm ICU và không ICU

Giá trị p

Số lượng bạnh cầu (103 tế bào / uL) 11,5 (IQR: 8,8 - 15,8) 11,3 (IQR: 8,6 - 15,1) 0,223

Dấu hiệu lâm sang

Ran nổ ở phổi (%) 239 (63,6%) 1071 (25,7%) <0,001 Rút lõm lồng ngực (%) 339 (90,2%) 152 (3,7%) <0,001

LRTI và kết quả X quang ngực

Sự bất thường trên X-quang (%) 280 (74,5%) 2232 (53,6%) <0,001 X-quang xác định viêm phổi (%) 259 (68,9%) 1939 (46,5%) <0,001

Điều trị và kết quả Thời gian khởi bệnh (ngày) 3,0 (IQR: 1,0 - 4,0) 3,0 (IQR: 2,0 - 5,0) 0,040 Thời gian nằm viện (ngày) 7,0 (IQR: 5,0 - 10,0) 4,0 (IQR: 3,0 - 6,0) <0,001 Chỉ định steroid (%) 171 (45,5%) 1432 (34,4%) <0,001

Bảng 3 Các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng nhập ICU

Nhóm tuổi

Tình trạng xã hội

Trang 6

BÀN LUẬN

Tác nhân gây bệnh của nhiễm trùng đường hô

hấp cấp tính nặng trong số trẻ nhập viện ICU

từ tháng 6, 2015 đến tháng 12, 2018

Trong giai đoạn nghiên cứu, chúng tôi ghi

nhận rằng vi rút là một trong những nguyên

nhân chủ yếu của nhiễm trùng hô hấp cấp tính

nặng ở trẻ em nhập ICU ở khoa Nhi – bệnh viện

Khánh Hoà Trong số 376 mẫu bệnh phẩm dịch

mũi họng từ bệnh nhi nhập ICU được xét

nghiệm định danh bằng kỹ thuật PCR thì có

50,3% (189/376) dương tính với ít nhất 1 trong

các loại vi rút trên Tuy nhiên, sự khác biệt rõ rệt

về tác nhân gây bệnh NKHHCT khác nhau giữa

bệnh nhân NKHHCT có biểu hiện nặng (ICU) và

bệnh nhân không có biểu hiện nặng (không

nhập ICU) được ghi nhận ở trong nghiên cứu

của chúng tôi, theo đó ở nhóm bệnh nhân không

có biểu hiện NKHHCT nặng thì không tìm thấy

sự hiện diện của Enterovirus, trong khi đó ở

bệnh nhân nhập ICU thì Rhino/Entero virus là

nguyên nhân hàng đầu chiếm 31,4%; tiếp đến là

RSV (18,4%), PIV3 (6%) Một trong các tác giả

Asner (2014)(2) cho thấy ở bệnh nhân nhập viện

vì NKHHCT nặng thì HRV/ENT chiếm 31,8%

Tương tự, tác giả Engelmann (2107)(8) đã chứng

minh rằng 57% trường hợp nhiễm Enterovirus

có dấu hiệu NKHHCT nặng cần được theo dõi

và điều trị tại ICU Tuy nhiên, kết quả của chúng

tôi khác với kết quả của tác giả Holly M Biggs(5)

khi ghi nhận HRV/EV chiếm 25% ở bệnh nhân

NKHHCT và 11% nhập ICU, và tác giả Savage

(2018)(16) cho thấy Enterovirus chịu trách nhiệm

28% tổng số bệnh nhân NKHHCT bao gồm ICU

và không ICU

Như chúng ta biết rằng, sở dĩ có sự khác

nhau cũng có thể do bệnh nhân nhiễm

Enterovirus có biểu hiện không có triệu chứng

hoặc từ nhẹ như viêm long hô hấp trên hoặc

rối loạn tiêu hóa cho đến một số trường hợp

thể rất nặng như là EV-D68 có thể gây ra các

triệu chứng hô hấp nghiêm trọng hoặc

Enterovirus 71 gây các triệu chứng tay chân

miệng(16) Do đó, sự hiện diện của Enterovirus

không được tìm thấy ở bệnh nhân không nhập ICU có thể do bệnh nhân có những dấu hiệu hoặc triệu chứng khác nổi bật hơn so với viêm long hô hấp nên được chẩn đoán và theo dõi ở các bệnh phòng khác trong nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy rằng sự nhiễm trùng HRV/ENT liên quan đến NKHHCT nặng

Các dấu hiệu lâm sàng liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nặng

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở nhóm ICU thì 6,7% có chỉ định thở máy và 77%

có chỉ định thở oxy, thời gian điều trị kéo dài hơn so với nhóm không ICU (7 với 3, p <0,001) Ngoài ra, số bệnh nhân nhập ICU được chẩn đoán NKHHCT nặng là 93,4% (p <0,001), theo

đó tỷ lệ khá cao (69,5%) bệnh nhân được xác định viêm phổi trên X-quang so với nhóm không ICU (46,5%) Thêm vào đó, các triệu chứng lâm sàng như khò khè (83,2%), khó thở (93,1%), rút lõm lồng ngực (90,2%), thở nhanh (91,8%), phổi có biểu hiện rale ẩm nổ (63,6%) đều liên quan với việc chỉ định theo dõi và điều trị tại ICU (p <0,001)

Các nghiên cứu khác nhau ở trẻ em bị NKHHCT đã chỉ ra rằng thiếu oxy là yếu tố nguy cơ cao gây tử vong và việc phát hiện kịp thời các triệu chứng nặng để chỉ định can thiệp sớm góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong do NKHHCT(7,10)

Theo tác giả Yashwant (2012), ở các nước đang phát triển nơi có phương tiện đo SpO2 hoặc việc thực hiện khí máu không dễ dàng có sẵn ở tất cả các trung tâm, do đó việc phát hiện thiếu oxy bằng những triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân NKHHCT có thể đóng một vai trò rất quan trọng trong thực hành lâm sàng nhằm giảm nguy cơ diễn biến nặng nếu không được can thiệp kịp thời Theo đó, các dấu hiệu lâm sàng tiên đoán cho tình trạng thiếu oxy như rút lõm thành ngực thành ngực (độ nhạy = 90%), rale nổ (độ nhạy = 87%), phập phồng cánh mũi (độ nhạy

= 84%), thở nhanh (độ nhạy = 81%), tím tái (tiên đoán thiếu oxy = 88%)(14)

Trang 7

Các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn hô hấp

cấp tính nặng

Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính(12) là

nguyên nhân chính gây bệnh tật và là một trong

những lý do thường gặp nhất đối với việc sử

dụng các dịch vụ y tế trên toàn thế giới, và người

ta đã ước tính rằng có thể ngăn chặn tới 25% các

bệnh NKHHCT nghiêm trọng nếu giải quyết

yếu tố nguy cơ chịu trách nhiệm cho những

nhiễm trùng này Trong nghiên cứu hiện tại, sau

khi điều chỉnh tác động gây nhiễu của các yếu tố

khác được nghiên cứu và sau khi lựa chọn mô

hình phân tích đa biến hồi qui logistic, các biến

số nguy cơ liên quan đến tình trạng NKHHCT

được tìm thấy trong nghiên cứu của chúng tôi là

nhóm tuổi 0 - 6 tháng và suy dinh dưỡng

Với kết quả từ việc phân tích đa biến,

nhóm trẻ từ 0 - 6 tháng nhập ICU là 54,5% và

không ICU là 14,9% Sự khác biệt này cho thấy

nhóm tuổi 0 - 6 tháng có nguy cơ mắc

NKHHCT nặng cao gấp 5,35 lần (95%CI 4,43 -

6,46) Tuy nhiên, nghiên cứu ở Greeenland(9),

cho thấy ở những trẻ > 6 tháng tuổi thì nguy cơ

NKHHCT cao hơn so với nhóm trẻ < 6 tháng

tuổi Tương tự, nghiên cứu khác được thực

hiện tại năm khu ổ chuột của thành phố

Dhaka(4) cho thấy ở trẻ sơ sinh >6 tháng tuổi

nguy cơ mắc NKHHCT cao gấp 1,85 lần so với

nhóm trẻ <6 tháng Sở dĩ, nghiên cứu của

chúng tôi nhận thấy trẻ 0 - 6 tháng có nguy cơ

bị NKHHCT nặng hơn có thể do cơ quan hô

hấp và miễn dịch của trẻ phát triển chưa hoàn

chỉnh ở lứa tuổi 0 - 6 tháng, ngoài ra dấu hiệu

lâm sàng nhận biết trẻ có biểu hiện ban đầu

của NKHHCT rất khó để phát hiện nên chỉ

đến khi trẻ có có biểu hiện nặng gia đình mới

thực sự tìm kiếm sự giúp đỡ của nhân viên y

tế nên tỷ lệ trẻ biểu hiện NKHHCT nặng có tỷ

lệ cao nhất ở nhóm 0 - 6 tháng trong nghiên

cứu của chúng tôi

Ngoài yếu tố tuổi, nghiên cứu của chúng tôi

đã cho thấy trẻ có biểu hiện suy dinh dưỡng(20)

(thiếu cân: cân nặng theo tuổi < 2 SD, thấp còi:

chiều cao cho tuổi <2 SD và gầy: cân nặng cho

chiều cao <2 SD) trong nhóm ICU là 13,3% và ở nhóm không ICU là 0,1% (p <0,001) Kết quả cũng ghi nhận rằng trẻ bị suy dinh dưỡng có nguy cơ NKHHCT nặng gấp 16,91 lần (95% CI 3,07 – 93,11) Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu từ các tác giả(13,17) ở các quốc gia đang phát triển khi ghi nhận có mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và nguy cơ mắc NKHHCT nặng bằng cách sử dụng phân tích đa biến Ngoài ra, các tác giả cũng cho rằng suy dinh dưỡng là yếu

tố liên quan rõ rệt đến viêm phổi nặng và có nguy cơ tử vong cao

KẾT LUẬN

Trẻ nhiễm HRV/ENT liên quan với NKHHCT nặng Ngoài ra các triệu chứng lâm sàng liên quan đến NKHHCT nặng bao gồm khò khè, rút lõm lồng ngực, thở nhanh, phổi có ral nổ và ẩm Thêm vào đó, trẻ nhỏ dưới 6 tháng, suy dinh dưỡng là một trong những yếu tố nguy

cơ dẫn đến NKHHCT nặng

Lời cám ơn: Chúng tôi nhân cơ hội này xin bày

tỏ lòng biết ơn chân thành đến các cán bộ y tế tại Bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa và cán bộ Sở Y tế Khánh Hòa trong việc thu thập mẫu lâm sàng và quản lý dữ liệu lâm sàng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Chúng tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến bệnh nhân và gia đình bệnh nhân đã tham gia vào nghiên cứu của chúng tôi Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, cám ơn nhân viên hành chính và giáo sư tại Khoa Nhi nhiễm của Viện nghiên cứu bệnh Nhiệt đới ở Nagasaki

LỢI ÍCH CẠNH TRANH

Các tác giả đã tuyên bố rằng không có lợi ích cạnh tranh tồn tại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Agweyu A, Lilford RJ, English M (2018) “Appropriateness of clinical severity classi cation of new WHO childhood pneumonia guidance: a multi-hospital, retrospective, cohort

study” Lancet Glob Health, 6(1):e74-83

2 Asner SA, Petrich A, Hamid JS, et al (2014) “Clinical severity

of rhinovirus/enterovirus compared to other respiratory

viruses in children” Influenza Other Respir Viruses, 8(4):436-42

3 Ayieko P, English M (2007) “Case Management of Childhood

Pneumonia in Developing Countries” Pediatr Infect Dis J,

26(5):432-440

4 Bhuyan GS, Hossain MA, Sarker SK, et al (2016) “Bacterial and viral pathogen spectra of acute respiratory infections in

Trang 8

under-5 children in hospital settings in Dhaka city” PloS One,

12(3):e0174488

5 Biggs HM, McNeal M, Nix WA, et al (2017) “Enterovirus D68

Infection Among Children with Medically Attended Acute

Respiratory Illness, Cincinnati, Ohio, July–October 2014” Clin

Infect Dis, 65(2):315-323

6 Bryce J, Shibuya K, Black RE, et al (2005) “WHO estimates of

the causes of death in children” Lancet, 365 (9465):1147-52

7 Djelantik IG, Gessner BD, Sutanto A , et al (2003) “Case fatality

proportions and predictive factors for mortality among

children hospitalized with severe pneumonia in a rural

developing country setting” J Trop Pediatr, 49(6):327-32

8 Engelmann I, Fatoux M, Lazrek M (2017) “Enterovirus D68

detection in respiratory specimens: Association with severe

disease” J Med Virol, 89(7):1201-1207

9 Koch A, et al (2002) “Population-Based Study of Acute

Respiratory Infections in Children, Greenland” Emerg Infect

Dis, 8(6):586-593

10 Lazzerini M, Sonego M, Pellegrin MC (2015) “Hypoxaemia as

a Mortality Risk Factor in Acute Lower Respiratory Infections

in Children in Low and Middle-Income Countries: Systematic

Review and Meta- Analysis” Plos One, 10(9): e0136166

11 Liu L, Hogan D, Perin J, Rudan I, et al (2015) “Global, regional,

and national causes of child mortality in 2000- 13, with

projections to inform post-2015 priorities: an updated

systematic analysis” Lancet, 385(9966):430-40

12 Nair H, Rundan I, Gessner BD, et al (2013) “Global and

regional burden of hospital admissions for severe acute lower

respiratory infections in young children in 2010: a systematic

analysis” Lancet, 381(9875):1380-1390

13 Paynter S, Lucero MG, Tallo V, et al (2014) “Malnutrition: a

risk factor for severe respiratory syncytial virus infection and

hospitalization” Pediatr Infect Dis J, 33(3):267-71

14 Rao YK, Midha T, Kumar P, Tripathi VN, Rai OP (2012)

“Clinical predictors of hypoxemia in Indian children with acute respiratory tract infection presenting to pediatric

emergency department” World J Pediatr, 8(3):247-251

15 Rudan I, Biloglav Z, Mulhollandd K, et al (2008)

“Epidemiology and etiology of childhood pneumonia”

Bulletin of the World Health Organization, 86(5):408–416

16 Savage TJ, Kuypers J, Chu HY, et al (2018) “Enterovirus D-68

in children presenting for acute care in the hospital setting”

Influenza Other Respir Viruses, 12(4):522-528

17 Singleton RJ1, Wirsing EA, Haberling DL, et al (2009) “Risk Factors for Lower Respiratory Tract Infection Death Among

Infants in the United States, 1999-2004” Pediatrics, 124(4):e768–

e776

18 Teo S, Stanford J, Rao A, et al (2016) “Paediatric acute care: Highlights from the PAC-APLS conference, Sydney, 2015”

Emerg Med Australas, 28(6):746-748

19 WHO (2005) “Technical updates of the guidelines on the Integrated management of childhood illness (IMCI): evidence

and recommendations for further adaptations” WHO,

2005:1-45

20 WHO (2009) “Child growth standards and the identi cation of

severe acute malnutrition in infants and children” WHO,

https://wwwwhoint/maternal_child_adolescent/

21 Yoshida LM, Yamamoto T, et al (2010) “Viral pathogens associated with acute respiratory infections in central

vietnamese children” Pediatr Infect Dis J, 29(1):75-77.

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/07/2019 Ngày bài báo được đăng: 05/09/2019

Ngày đăng: 09/02/2020, 22:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w