Ở mức độ nhất định, cách phân loại này xuất phát từ nhận thức cho rằng có sựkhác nhau về đặc điểm và những yêu cầu trong bảo đảm hai nhóm quyền này.Nhận thức được tầm quan trọng và cần t
Trang 1ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH NỘI DUNG NHÓM QUYỀN CHÍNH TRỊ TRONG LUẬT
QUỐC TẾ
MỤC LỤC:
Trang:
I.LỜI NÓI ĐẦU: 2
II.NỘI DUNG: 3
1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÓM QUYỀN CHÍNH TRỊ: 3
1.1.Lịch sử hình thành nhóm quyền chính trị: 3
1.2.Tính chất cơ bản của nhóm quyền con người về chính trị: 5
1.2.1.Tính chất chung của nhóm quyền chính trị với tư các là các quyền con người: 5
1.2.2.Tính chất riêng của quyền con người về chính trị: 5
2.MỘT SỐ QUYỀN CƠ BẢN THUỘC NHÓM QUYỀN CHÍNH TRỊ:6 2.1.Quyền tự do biểu đạt: 7
2.2.Quyền tự do lập hội: 12
2.3.Quyền tự do hội họp một cách hòa bình: 16
2.4.Quyền tham gia vào đời sống chính trị: 20
3.THỰC TIỄN VIỆC THAM GIA VÀ ĐẢM BẢO THỰC HIỆC CÁC QUYỀN CHÍNH TRỊ Ở CÁC QUỐC GIA: 23
III.KẾT BÀI: 27
Tài liệu tham khảo: 27
Trang 2I.LỜI NÓI ĐẦU:
Quyền con người-có thể nói đây là một phạm trù đa diện Bởi tiếp cậntrên những phạm vi khác nhau, ta sẽ thấy được những đặc tính đa dạng và phongphú khác nhau của nó.Tuy nhiên, nhìn ở cấp độ nào thì quyền con người cũngđược hiểu với nghĩa khái quát nhất là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có,được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lýquốc tế
Đây được xem là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận vàtuân thủ.Những chuẩn mực này kết tinh nên những giá trị nhân văn của toànnhân loại, chỉ áp dụng với con người, với tất cả mọi người Nhờ có chuẩn mựcnày mà mỗi thành viên trong gia đình nhân loại mới được nảo vệ nhân phẩm và
có điều kiện phát triển đầy đủ năng lực của cá nhân với tư cách là một conngười Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định,một điều rõ ràng làquyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi
xã hội và trong mọi giai doạn của lịch sử
Theo các lĩnh vực của đời sống xã hội, quyền con người được phân thànhhai nhóm chính : các quyền dân sự , chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Ở mức độ nhất định, cách phân loại này xuất phát từ nhận thức cho rằng có sựkhác nhau về đặc điểm và những yêu cầu trong bảo đảm hai nhóm quyền này.Nhận thức được tầm quan trọng và cần thiết của việc bảo vệ quyền con người,bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích một trong những nhóm quyền cơ bản của
con người “nhóm các quyền chính trị trong luật quốc tế
Bài viết chắc hẳn còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sựchỉ bảo và góp ý của thầy cô cũng như bạn đọc để bài viết được hoàn thiện hơn!
Trang 3về sau này, người ta thường xếp chung các quyền dân sự và chính trị thuộc cùngmột nhóm và gọi là “thế hệ quyền con người thứ nhất” (trongtương quan với
“thế hệ thứ hai” là các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa), các quyền chính trị(quyền hội họp, lập hội, bầu cử, ứng cử, tham gia đời sống chính trị…) trên thực
tế ra đời chậm hơn nhiều so với các quyền dân sự
Trong khi những bộ luật đầu tiên của nhân loại, ví dụ như Bộ luậtHammurabi (khoảng 1780 TCN), Bộ luật của Cyrus Đại đế (khoảng 550 TCN),
Bộ luật Ashoka (khoảng 273 – 231)… đã đề cập đến việc bảo vệ các quyền dân
sự thì các quyền chính trị phải đợi đến sau cách mạng tư sản mới được ghi nhậnchính thức vào luật pháp
Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, việc Liên Hợp Quốc ra đời vào ngày 10tháng 12 năm 1948 và thông qua bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền(UDHR) đã ghi nhận trang trọng lần đầu tiên các quyền dân sự và chính trị cơbản, bên cạnh các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, cho mọi cá nhân trong cộngđồng nhân loại Bản Tuyên ngôn, với 30 điều khoản, cũng chính là nền tảng chohai công ước quốc tế về quyền con người cùng được thông qua vào năm 1966,bao gồm Công ước về các quyền dân sự, chính trị ( ICCPR)
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đặc biệt là sau Hội nghị nhân quyềnthế giới tại Viên (Áo) năm 1993, khuynh hướng phân chia giữa hai nhómquyền(dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa) giảm dần, quan điểm nhấn mạnhcực đoan các quyền dân sự và chính trị của các nước phương Tây cũng nhẹ bớt.Tuyên bố Viên 1993 đã liên kết các vấn đề dân chủ, quyền con người và phát
Trang 4triển bền vững, cũng như nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền conngười trên mọi lĩnh vực.
Nếu như trước đây, các tổ chức phi chính phủ quốc tế như Giám sát nhânquyền (HRW)hay Ân xá quốc tế (AI)chủ yếu quan tâm đến các quyền dân sự vàchính trị thì hiện nay đã mở dần đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Mặc
dù vậy, nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế khác và chính phủ của một số quốcgia khi soạn báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền của các nước trên thếgiới hay trên các diễn đàn quốc tế vẫn thường chỉ tập trung vào các quyền dân
sự và chính trị1
1.2.Tính chất cơ bản của nhóm quyền con người về chính trị:
1.2.1.Tính chất chung của nhóm quyền chính trị với tư các là các
quyền con người:
Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người nói chung
và các quyền chính trị nói riêng có các tính chất cơ bản là : tính phổ biến, tínhkhông thể tước bỏ , tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Tính phổ biến: đây là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người và
được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại,không có sự phân biệt đối xử bởi bất kỳ lý do gì
Tính không thể chuyển nhượng: những quyền này không thể bị tước bỏ
hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả bởi nhà nước Mọigiới hạn , hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quyđịnh và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng haycủa cá nhân khác
Tính không thể phân chia: các quyền con người đều có tầm quan trọng
giống nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn
1 Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1996)- Nhà xuất bản Hồng Đức-Hà Nội 2012
Trang 5quyền nào, bởi lẽ việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêucực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: việc barp đảm quyền con người, toàn
bộ hay một phần, nằm trong mối liên hệ hay tác động lẫn nhau Sự vi phạm mộtquyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm cácquyền khác, và ngược lại2
1.2.2.Tính chất riêng của quyền con người về chính trị:
Với tính chất là các quyền mang các giá trị nền tảng, bất khả xâm phạmtrong đời sống và xã hội, các quyền chính trị mang những đặc trưng nhất định:
Nhóm quyền chính trị chủyếu chỉcần thái độthụ động của nhà nước: Nhà
nước, tronghầu hết các trường hợp, không cần chủ động thực hiện các biện pháphỗtrợmà chỉ đơn thuần là kiềm chếkhông can thiệp vào việc hưởng thụcác quyềndân sự,chính trịcủa người dân
Việc hiện thực hóa các quyền chính trị là mang tính tức thời:Bởi vì trên
thực tế việc đảm bảo các quyền này không đòi hỏi phải tiêu tốn quá nhiều nguồnlực vật chất, do đó bất cứ quốc gia nào, giàu hay nghèo , đều có thể tiến hànhđược ngay
Nội hàm rõ ràng : Thểhiện ởdễdàng định lượng, đánh giá được mức
độbảođảm các quyền Các tòa án có thể phân xửcác cáo buộc vềsựvi phạm cácquyền này (do nội hàm của các quyền rõ ràng)
Mang dấu ấn của khối tưbản chủnghĩa: Đây là nhóm quyền được
cổvũmạnh mẽbởi khối các nước tưbản chủnghĩa trong thời kỳChiến tranh Lạnh
và không có sự mâu thuẫn lớn về quan điểm giữa các quốc gia trên thế giới vềcác quyền này 3
2 Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người-Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội-Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội –Hà Nội 2011
3 Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1996)- Nhà xuất bản Hồng Đức-Hà Nội 2012
Trang 62.MỘT SỐ QUYỀN CƠ BẢN THUỘC NHÓM QUYỀN CHÍNH TRỊ:
Cùng với cơ chế quốc tế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, nhữngchuẩn mực quốc tế về quyền con người trong đó, nhóm quyền về chính trị làmột trong những nhóm quyền chính cấu thành các quyền và tự do cá nhân cơbản của con người Có nhiều cách khác nhau để phân chia các quyền thuộcnhóm quyền chính trị, tuy nhiên một cách cơ bản nhất, nhóm quyền chính trị bao
gồm các quyền: quyền tự do biểu đạt, quyền tự do lập hội, quyền tự do hội họp
một cách hòa bình, quyền tham gia vào đời sống chính trị
Việc phân chia này chỉ mang tính ước định và tương đối, bởi có một sốquyền có thể xếp vào nhiều hơn một nhóm (ví dụ quyền tự do lập hội đôi khicũng được xếp vào nhóm quyền xã hội ) hay một số quyền ở trên đôi khi cònđược chia tách thành những quyền khác cụ thể hơn Tuy nhiên, mọi sự phân loạiđều không làm mất đi những đặc trưng cơ bản của nhóm quyền chính trị Dướiđây là nội dung một số quyền tư do cơ bản thuộc nhóm quyền này
2.1.Quyền tự do biểu đạt:
2.1.1 Khái niệm về quyền tự do biểu đạt:
Hiểu một cách thông thường nhất:
Biểu đạt là hình thức đểbày tỏ quan điểm, tư tưởng hay cảm xúc củamình Có những biểu đạt bằng cơ thể hoặc thông qua giọng nói, tiếng nói hayngôn ngữ, chữ viết, chữ in, báo chí, sách vở, thông qua hình vẽ, tranh vẽ, ảnhchụp, ký hiệu, chữ ký… Trong nhiều tình huống, sự im lặng cũnglà một cáchbiểu đạt
Trên góc độ pháp lý:
Quyền tự do biểu đạt được quy định lần đầu tiên tại Điều 19 Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người 1948 với nội dung : “mọi người đều có quyền tự
do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can
Trang 7thiệp, cũng như tự do tìm kiếm ,tiếp nhận , truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên giới”.
Điều này cũng lưu ý là “các quan điểm tư tưởng phải đảm bảo đúng nguyên tắc,
đúng pháp luật, không được đi ngược lại lợi ích và đạo đức xã hội”.
Nội dung của quyền tự do hội họp còn được tái khẳng định và cụ thể hóatrong các Điều 19, 20.Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị , sau đócòn được làm rõ trong Bình luận chung số 10 thông qua phiên họp lần thứ 19năm 1993 của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về người tỵ nạn
2.1.2.Nội dung cơ bản của quyền tự do biểu đạt:
Thứ nhất,theo luật nhân quyền quốc tế, tự do biểu đạt bao gồm cả tự dongôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do Internet, triển lãm, biểu diễn nghệ
thuật… Khoản 2.Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị có quy
định : “Mọi người có quyền tự do biểu đạt Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm,
tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phânbiệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”.
Trong Bình luận chung số 34 (đoạn 11), Ủy ban quyền con người giải
thíchcụ thể Điều 19 rằng:“quyền nàybao gồm các tranh luận chính trị, bình
luận về một người và về các vấn đề chung, vận động, thảo luận về quyền con người, báo chí, các biểu đạt về văn hóa và nghệ thuật, giáo dục và tranh luận tôn giáo”
Trong thực tiễn, phán quyết về một số vụ việc, ví dụ như vụ Mpandanjila
và những người khác kiện Zaire (mã số 138/83), Kalenga kiện Zambia (mã số326/88), Kivenmaa kiện Phần Lan (mã số 412/90) , Ủy ban quyền con ngườikhẳng định rằng phạm vi tự do biểu đạt được bảo vệ bao gồm các phát biểu, thảoluận về chính trị
Trang 8Ví dụ :Trong vụ Ballantyne và những người khác kiện Canada (mã số
359, 385/89), Nguyên đơn khiếu nại về việc bắt cô vì phân phát tờ rơi và giươngmột biểu ngữ phê phán sự vi phạm nhân quyền của một nguyên thủ quốc gianước ngoài đến thăm Phần Lan Cả hai hành vi này diễn ra tại một cuộc biểutình Lập luận trong vụ việc xoay quanh khả năng vi phạm Điều 21 về quyền tự
do hội họp.Ủy ban quyền con người nêu rằng quyền tự do biểu đạt bao trùm cảlĩnh vực thương mại và nhiều lĩnh vực khác
Thứ hai, Khoản 3.Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự
chính trị còn quy định rằng: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản
2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt Do đó, việc này cóthể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: tôn trọng các quyền hoặcuy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc giahoặc trật tự công cộng ; sức khoẻ hoặc đạo đức công chúng”.
Nhưvậy, quyền tự do biểu đạt có thể phải chịu một số hạn chế nhất định
theo quy định của pháp luật Theo đó, một trong số hạn chế cần thiết là “mọi
hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù
địch hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm”(Điều 20.Công uớc quốc
tế về các quyền dân sự chính trị).
Bình luận chung số 11 tại phiên họp lần thứ 19 năm 1983 của Văn
phòng cao ủy Liên Hợp quốccũng có quy định về vấn đề này:“việc cấm các
hình thức tuyên truyền cho chiến tranh, gây hằn thù, chia rẽ dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch , bạo lực là cần thiết và không mâu thuẫn với quyền tự do biểu đạt quy định tại Điều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị” Bởi điều này nêu rõ, việc thực
hiện quyền tự do biểu đạt “phải kèm theo những trách nhiệm và nghĩa vụ đặc
biệt.”
Trang 9Trong thực tế, nhiều chính quyền thường lạm dụng việc giới hạn cácquyền tự do biểu đạt và tự do thông tin Để hạn chế sự lạm dụng tùy tiện nhưvậy, Liên Hợp quốc và các tổ chức bảo vệ nhân quyền đã thông qua một số vănkiện để xác định nội hàm của các khái niệm nêu trên nhưcác nguyên tắcSiracusa về Giới hạn và đình chỉ các điều khoản trong Công ước quốc tế về cácquyền dân sự và chính trị năm 1984, nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốcgia, tự do biểu đạt và tiếp cận thông tin năm 1995 ở phần Phụ lục của sách
Ví dụ, chỉ có thể viện dẫn “an ninh quốc gia” để giới hạn một số quyền
“khi chúng được thực hiện để bảo vệ sự tồn tại của quốc gia hay toàn vẹn lãnhthổ của nó hoặc độc lập chính trị chống lại việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ
lực” (Đoạn 10 M.Nowak, UN Covenant on Civil and Political Rights CCPR Commentary, 1993, trang 340 52 29, Các nguyên tắc Siracusa)
-Hay “hạn chế được biện minh với lý do an ninh quốc gia là không chínhđáng nếu mục đích thực chất hoặc hiệu quả có thể thấy được là để bảo vệ lợi íchkhông liên quan đến an ninh quốc gia, bao gồm, ví dụ, để bảo vệ một chính phủ
khỏi xấu hổ hay khỏi phô bày những hành động sai lầm” (Nguyên tắc 2, Các nguyên tắc Johannesburg).
Thứ ba, quy định cấm tại Điều 20.Công ước quốc tế về các quyền dân sựchính trị cũng áp dụng cho tất cả những hình thức tuyên truyền đe dọa thực hiệnhành động xâm lược hay phá hoại hòa bình trái với Hiến chương Liên hợp quốc
Tuy nhiên , tại Khoản 1.Điều 20“ mọi hình thức tuyên truyền cho chiến
tranh đều bị pháp luật nghiêm cấm” không ngăn cấm việc cổ vũ các quyền tự
quyết, quyền độc lập hay quyền tự vệ của các dân tộc mà phù hợp với quy định
của Liên hợp quốc Trong khi đó khoản 2.Điều 20 “Mọi chủ trương gây hằn thù
dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc,
sự thù địch, hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm” lại được áp dụng
với những hành động khơi gợi lòng hận thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, từ đó
Trang 10kích động sự phân biệt đối xử, sự thù địch hay bạo lực bất kể sự tuyên truyềndiễn ra ở trong hay bên ngoài các quốc gia có liên quan.
Cần có sự phân biệt giữa “quyền tự do biểu đạt” và “quyền giữ quanđiểm” Có thể khẳng định rằng, quyền được giữ quan điểm của mình mà không
bị ai can thiệp quyền tuyệt đối, không được hạn chế hay tước bỏ trong bất cứhoàn cảnh nào, kể cả trong tình huống khẩn cấp của quốc gia Tuy nhiên, quyền
tự do biểu đạt có thể phải chịu những hạn chế nhất định, với điều kiện nhữnghạn chế đó phải được quy định trong pháp luật và chỉ để nhằm các mục đích như
đã nêu Việc giữ quan điểm của cá nhân là hành vi thụ động và là một tự dotuyệt đối Tính chất tuyệt đối của quyền giữ quan điểm sẽ kết thúc khi mộtngười bày tỏ, biểu đạt hay phát ngôn quan điểm của mình Hành động này đãsang lĩnh vực của “tự do biểu đạt” Tuy vậy, một chuyên gia nổi tiếng về nhânquyền là M.Nowak cho rằng có thể khó phân biệt giữa hành vi can thiệp khôngđược phép vào tự do quan điểm của một người (chẳng hạn như việc tẩy não) vàhành động chỉ nhằm tác động vào quan điểm của người đó (chẳng hạn như bị hệthống tuyên truyền dồn dập tác động).4
2.1.3.Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên:
Mục 7,8 Bình luận chung số 34 của Ủy ban nhân quyền tại phiên
họp số 102 có quy định : “Nghĩa vụ tôn trọng tự do quan điểm và tự do biểu
đạt là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi Quốc gia thành viên như một chỉnh thể Nghĩa vụ này cũng yêu cầu các Quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng mọi người được bảo vệ khỏi bất kỳ hành vi nào của cá nhân hay pháp nhân thuộc khu vực tư có thể ảnh hưởng xấu đến việc thụ hưởng các quyền tự do quan điểm và tự do biểu đạt đến mức độ những quyền theo Công ước này dễ bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng của các cá nhân hoặc pháp nhân thuộc khu vực
4 Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1996)- Nhà xuất bản Hồng Đức-Hà Nội 2012
Trang 11tư.” Cụ thể theo quy định tại Bình luận chung, các quốc gia thành viên có một
số nghĩa vụ cơ bản sau:
Các Quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng các quyền tự do biểu đạt cóhiệu lực trong hệ thống nội luật của quốc gia, và có tinh thần nhất quán vớinhững chỉ dẫn của Ủy ban trong Bình luận chung số 31 về bản chất của cácnghĩa vụ pháp lý chung đối với Nước thành viên Công ước Nói cách khác cácQuốc gia thành viên phải cung cấp cho Ủy ban, trong các báo cáo những quy tắctrong nội luật, các thủ tục hành chính và quyết định tư pháp, cũng như các chínhsách liên quan và các thực tiễn bởi các ngành khác nhau liên quan đến các quyềnđược bảo vệ Nội dung báo cáo cũng phải có thông tin về các biện pháp khắcphục sẵn có nếu những quyền này bị vi phạm
Quốc gia thành viên cần cân nhắc đến mức độ phát triển công nghệ thôngtin và truyền thông, đã làm thay đổi đáng kể các hành vi thông tin trên toàn thếgiới, như các hệ thống truyền thông dựa vào internet và điện thoại di động,.Ngày nay có cả một mạng lưới toàn cầu để trao đổi thông tin và quan điểm màkhông nhất thiết phải dựa vào những hình thức truyền thông đại chúng truyềnthống.Quốc gia thành viên phải tiến hành những bước cần thiết để thúc đẩy tínhđộc lập của những phương tiện truyền thông mới này và để đảm bảo các cá nhân
có thể tiếp cận được với những phương tiện ấy
Quốc gia thành viên phải chứng minh cơ sở pháp lý để đưa ra bất kỳbiện pháp nào hạn chế tự do biểu đạt Nếu, liên quan đến một Quốc gia thànhviên cụ thể, Ủy ban phải xem xét liệu một biện pháp cụ thể có thể được áp dụngtheo luật, Quốc gia thành viên đó phải cung cấp thông tin chi tiết về luật ấy và
về các hành động nằm trong phạm vi của luật ấy Quốc gia thành viên khôngbao giờ được “những hạn chế của quyền tự do biểu đạt” ra làm căn cứ để bịtmiệng bất kỳ việc vận động cho nền dân chủ đa đảng, các nguyên tắc dân chủ vàcác quyền con người.Cũng không dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, việc tấn công mộtngười, vì việc thực hành quyền tự do quan điểm hay biểu đạt của người ấy, baogồm các hình thức tấn công như bắt giữ trái luật, tra tân, đe dọa mạng sống và
Trang 12sát hại, có thể coi là phù hợp Các nhà báo thường là đối tượng của những nguy
cơ này, bị đe dọa, và bị tấn công vì hoạt động của họ Tương tự với những ngườitham gia vào việc thu thập và phân tích thông tin về tình hình nhân quyền vànhững người công bố các báo cáo liên quan đến nhân quyền, bao gồm các thẩmphán và luật gia.Những tấn công này phải được điều tra triệt để một cách nhanhchóng, và người tấn công phải bị truy tố,và các nạn nhân, hay, trong trường hợp
bị sát hại thì là đại diện của họ, phải nhận được các hình thức bồi hoàn thíchđáng
2.
2 Quyền tự do lập hội:
2.2.1.Khái niệm quyền tự do lập hội:
Hiểu một cách thông thường:
Khái niệm “hội” nhắc đến bất kỳ nhóm cá nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp
lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổihoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung.5
Tự do lập hội là việc các cá nhân liên kết lại với nhau thành nhóm để theođuổi lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung Các nhóm đó có thể là các câulạc bộ thể thao, hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn,
tổ chức tôn giáo, chính đảng và công ty
Trên góc độ pháp lý:
Quyền tự do lập hội lần đầu tiên được ghi nhận trong Điều 20.Tuyên
ngôn thế giới về quyền con người 1948 Ngoài việc quy định “mọi người đều
có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình”, điều này còn nêu rõ
“không ai bị bắt cbuộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào”.
Điều 22.Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị tái khẳng định và
cụ thể hóa quyền tự do hội họp tại Điều 20 như sau :“Mọi người có quyền tự
5 Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về tự do hội họp và lập hội, Maina Kiai ( về năm hoạt động đầu tiên
Trang 13dolập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”.
Ủy ban quyền con người hiện chưa có bình luận chung nào giải thích choĐiều 22 tuy nhiên, từ nội dung của nó, có thể thấy quyền này bao gồm cả bakhía cạnh: (i) Thành lập ra các hội mới, (ii) gia nhập các hội đã cósẵn (iii) Hoạtđộng, điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinhphí
2.2.2.Nội dung cơ bản quyền tự do lập hội:
Thứ nhất, quyền thành lập và gia nhập các hội là nội dung chủ yếu củaquyền tự do lập hội Quyền này bao hàm cả quyền thành lập và gia nhập cáccông đoàn để bảo vệ lợi ích của người lao động Cũng cần lưu ý là quyền thànhlập và gia nhập các công đoàn được bảo vệ cả trong Điều 22.Công ước quốc tế
về quyền dân sự chính trị và Điều 8.Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa,
xã hội
Pháp luật quốc gia cũng như quốc tế luôn hướng tới việc thủ tục thành lậphội càng đơn giản, càng tiết kiệm thời gian và chi phí thì càng tốt Một số ví dụtốt đã được nhắc đến là việc thành lập hội không mất chi phí gì (ở Bungary), rấtnhanh chóng (ở Nhật, việc nộp đơn có thể qua mạng Internet Cả hai thủ tụcthông báo và thủ tục cấp phép đều đòi hỏi sự nhanh chóng Việc chậm trễ đăng
ký, cấp phép cho một hội có thể coi là sự vi phạm quyền lập hội Mặt khác, nếutừchối đơn xin thành lập hội thì phải nêu rõ lý do và thông báo một cách rõ ràngcho chủ thể đứng đơn thành lập Những cá nhân, tổ chức bị từ chối có quyền
được khiếu nại, khiếu kiện ra trước một tòa án độc lập và không thiên vị Ủy ban về tựdo lập hội của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) đã có phán quyết
rằng: “việc không thể đưa ra trước cơ quantư pháp để xem xét sự từchối bởi cơ
quan Bộ cho phép thành lập một công đoàn là vi phạm các nguyên tắc tự do lập hội.”