1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng nghị quyết tư7 khóa XI chính thức

79 1,4K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Nghị Quyết Tư7 Khóa Xi Chính Thức
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Việt Nam
Thể loại bài giảng
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 495 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết TW 7 khóa XI

Trang 1

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khoá XXIV, mặc dù tình hình quốc tế, trong nước có những diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới phục hồi chậm; thời tiết không thuận lợi do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nguy cơ dịch bệnh bùng phát cao đã tác động bất lợi đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân; song, Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung cao độ trong lãnh đạo; ban hành các chương trình, đề án

cụ thể, sát thực, phù hợp với tình hình của huyện để thực hiện nghị quyết Đại hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai, thực hiện chương trình, đề án; cùng với sự chỉ đạo điều hành quyết liệt, năng động, sáng tạo của UBND huyện và sự quyết tâm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, lực lượng vũ trang trong huyện đã nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi triển khai thực hiện, nên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực Nhiều mục tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt khá cao,

cơ cấu kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch đúng hướng, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng cao, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tiếp tục phát triển, thu ngân sách đạt khá; đặc biệt, chương trình xây dựng nông thôn mới được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ, bước đầu đạt kết quả quan trọng; cải thiện đáng kể đời sống xã hội khu vực nông thôn Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội phát triển rõ nét; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng vào

sự lãnh đạo của đảng, sự điều hành của chính quyền từ huyện

đến cơ sở.

Tuy nhiên, kết quả thực hiện một số mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV đề ra còn thấp (Số liệu so sánh

trong bảng tổng hợp).

Trang 2

- Diễn tả sự đứt

đoạn, không liên tục

nhưng tuần hoàn.

V.D : lấp ló, lập loè, bập bùng, nhấp

nhô, phập phồng,

- diễn tả tính chất đạt đến mức độ chuẩn mực, không chê được V.D : nhỏ nhắn, xinh xắn, tươi tắn,

ngay ngắn, vuông

vắn ,tròn trặn,

Trang 3

- Nếu các từ chỉ còn 1 tiếng có nghĩa , còn 1

Trang 4

nhưng 2 tiếng có

quan hệ về âm thì ta xếp vào nhóm từ láy.

Trang 5

V.D : chim chóc, đất

đai, tuổi tác , thịt thà, cây cối ,máy móc,

- Lưu ý : Những từ này nếu nhìn nhận dưới góc

độ lịch đại ( tách riêng các hiện tượng

ngôn ngữ, xét trong sự diễn biến , phát triển

theo thời gian làm đối tượng nghiên cứu )

và nhấn mạnh những đặc trưng ngữ nghĩa

của chúng thì có thể

Trang 6

coi đây là những từ

ghép

( T.G hợp nghĩa )

Nhưng xét dưới góc độ đồng đại ( tách ra một trang thái, một giai

có nghĩa khái quát

Trang 7

hệ về âm thì

đều xếp vào lớp từ láy V.D : nhí nhảnh, bâng khuâng, dí dỏm, chôm

Trang 8

chôm, thằn lằn, chích choè,

Trang 9

được xếp vào nhóm từ láy.

V.D : cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,

- Lưu ý : trong thực tế ,

có nhiều từ ghép ( gốc

Trang 10

Hán ) có hình tức ngữ

âm giống từ láy,

song thực tế các tiếng đều có nghĩa nhưng

H.S rất khó phân biệt,

ta nên liệt kê ra một số

từ cho H.S ghi nhớ

( V.D : bình minh, cần mẫn, tham lam, bảo

bối, ban bố, căn cơ,

hoan hỉ, chuyên chính, chính chuyên, chân

chất, chhân chính, hảo hạng,khắc khổ,

thành thực, )

Trang 11

- Ngoài ra, những từ

không có cả quan hệ

về âm và về nghĩa ( từ thuần Việt )

như : tắc kè, bồ hóng,

bồ kết, bù nhìn, ễnh

ương, mồ hôi, hay

các từ vay mượn như :

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 7, KHÓA XI

-Kính thưa ………

………

………

Thực hiện Kế hoạch số 41- KH/HU, ngày 5/7/2013 của Ban thường vụ Huyện uỷ

về học tập quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá XI Hôm nay, tôi rất phấn khởi về với Đảng bộ… để giới thiệu tới toàn thể các bác, các đ/c những nội dung cơ bản của các Nghị quyết, Kết luận Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá XI

Thưa các đ/c

Thực hiện Chương trình làm việc, Trung ương đã họp Hội nghị lần thứ 7, từ 02 đến 11/5/2013, để thảo luận, cho ý kiến chỉ đạo đối với các vấn đề: 1 Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; 2 Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ; 3 Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; 4

Trang 12

Một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người cócông, định hướng cải cách đến năm 2020" 5 Cho ý kiến tiếp thu, chỉnh sửa dự thảo sửađổi Hiến pháp năm 1992; 6 Sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 "Một sốvấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Quy hoạch BCH Trung ương, Bộ Chínhtrị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳtiếp theo; và một số vấn đề quan trọng khác

Mỗi một chuyên đề, tôi xin trình bày trên bố cục 3 phần cơ bản:

- Sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết; Kết luận

- Những kết quả đạt được, những hạn chế thiếu sót và nguyên nhân

- Quan điểm, mục tiêu và định hướng nhiệm vụ, giải pháp cơ bản để thực hiện Nghị quyết, Kết luận.

Sau đây tôi xin đi vào nội dung của các Nghị quyết và Kết luận mà Trung ươngbàn thông qua như sau:

CHUYÊN ĐỀ 1 NGHỊ QUYẾT số 25 - NQ/TW ngày 03/6/2013

VỀ TĂNG CƯỜNG VÀ ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI

CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

I- Sự cần thiết của việc ban hành NQ: Xuất phát từ 4 lý do sau đây:

Một là, Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định dân

vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của

Trang 13

Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân

Hai là, Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất

quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”

Ba là, Một trong những nguyên nhân quan trọng, quyết định thành công của

công cuộc đổi mới, đó là: Đảng ta đã kịp thời đổi mới công tác dân vận, giữ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

Bốn là, Tình hình thế giới phức tạp, các thế lực thù địch tăng cường thực hiện

âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhen nhóm các tổ chức đối lập, dùng các chiêu bài dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, tuyên truyền kích động lôi kéo, chống phá quyết liệt khối đại đoàn kết toàn dân, chống Đảng, chống chế độ Trong khi đó công tác dân vận còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém, chưa ngang tầm, chưa đạt yêu cấu của thực tiễn đặt ra Vì vậy phải ra Nghị quyết để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này.

1 Vị trí, vai trò của công tác dân vận

Công tác vận động nhân dân thường còn được gọi là dân vận

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dân vận là vận động tất cả lực

lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho” 1

2 Các chủ trương về công tác dân vận của Đảng từ đổi mới tới nay

Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận

Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta phát huy những bài học kinh nghiệm thànhcông của công tác vận động quần chúng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ, tiếp tục khơi dậy các nguồn lực của đất nước, đạt những thành tựu to lớntrong phát triển mọi mặt của đất nước Để cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đại hộilần thứ VI của Đảng về công tác vận động quần chúng, ngày 27/3/1990 Hội nghị lần thứ

8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VI) đã ban hành Nghị quyết 8B-NQ/TW “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.

Trên cơ sở Nghị quyết 8B, trong 22 năm qua cùng với các Nghị quyết Đại hộiĐảng nhiệm kỳ từ Khóa VII đến XI Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bảnnhằm tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa nội dung Nghị quyết này, để tổ chức thực hiện,đưa Nghị quyết vào cuộc sống, phù hợp với từng đối tượng, tầng lớp quần chúng nhândân; từng loại hình tổ chức chính trị - xã hội; đoàn thể nhân dân và với từng bối cảnhtình hình, giai đoạn phát triển của đất nước

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr 698.

Trang 14

Trên cơ sở tổng kết các chủ trương, đường lối về công tác dân vận, đặc biệt làNghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VI), tức là Nghịquyết 8B - NQ/TW “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan

hệ giữa Đảng và nhân dân”, Ban Chấp hành Trung ương Hội nghị lần thứ 7 (khóa XI) đãban hành Nghị quyết số 25 - NQ/TW ngày 03/6/2013 về "Tăng cường và đổi mới sựlãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới"

II ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỦ TRƯƠNG VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

1- Về ưu điểm.

Trong những năm qua, nhất là từ khi ban hành Nghị quyết Trung ương 8b (khóaVI), công tác dân vận của Đảng được tăng cường, từng bước đổi mới Đảng, Nhà nước

đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, phù hợp cho từng đối tượng, từng lĩnh vực

Đồng thời, đã thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, tăngcường, mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò củaNhà nước, MTTQ và các đoàn thể nhân dân, lực lượng vũ trang trong công tác dân vận

Từ đó, đã tạo ra phong trào quần chúng rộng lớn, huy động và phát huy được sứcmạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; thực hiện sự nghiệp đổi mới đạt nhiều thành tựu tolớn, có ý nghĩa lịch sử Kinh tế tăng trưởng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dânđược cải thiện, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập,chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đượcđẩy mạnh, vị thế đất nước ngày càng được nâng cao

2 Nguyên nhân

a) Nguyên nhân khách quan

Đảng ta là Đảng tiên phong có bản lĩnh, quan điểm chính trị, đường lối cáchmạng, kinh nghiệm lãnh đạo vững vàng; dân tộc ta, nhân dân ta có bề dầy truyền thốngcách mạng, luôn tin tưởng đi theo Đảng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, giành đượcnhững thành tựu to lớn, đánh đuổi mọi kẻ thù xâm lược, thống nhất, bảo vệ độc lập chủquyền đất nước và ngày nay đã và đang đạt được những thành tựu to lớn trong côngcuộc đổi mới đất nước

b) Nguyên nhân chủ quan

- Những thành tựu của công cuộc đổi mới mang lại đã giữ được lòng tin và khơidậy tinh thần tích cực hăng hái của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các phong tràocách mạng, thi đua yêu nước

- Nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị đối với công

tác dân vận của Đảng ngày càng được coi trọng, chuyển biến rõ nét

- Bộ máy tham mưu về công tác dân vận được tăng cường, củng cố; chức năng

nhiệm vụ của ban dân vận các cấp được xác lập cụ thể hơn Tổ chức Mặt trận và cácđoàn thể, các hội quần chúng được tăng cường củng cố, phát triển, có nhiều cố gắng đổi

Trang 15

mới nội dung, phương thức hoạt động thiết thực hơn với nhiệm vụ chính trị của đất nước

và quyền lợi, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên, của nhân dân

3- Về tồn tại, hạn chế.

Bên cạnh đó, công tác dân vận cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứngđược đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới

- Chậm cụ thể hóa cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

- Sự phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa thật chặt chẽ Một số

cơ quan Nhà nước chưa nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ trách nhiệm đối với công tácdân vận

- Một số nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đượcquán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả

- Những yếu kém, khuyết điểm của bộ máy công quyền tạo bức xúc, khiếu kiệntrong nhân dân, là kẽ hở để các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc,kích động quần chúng, ảnh hưởng tiêu cực đến khối đại đoàn kết toàn dân

- Một bộ phận nhân dân thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khó khăn chưa

được hỗ trợ, giải quyết kịp thời (Phải chăng là do bối cảnh, tình hình đã và đang có nhiều thay đổi Ví dụ như: Kinh tế thị trường phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời với những tác động tích cực, đã và đang xuất hiện những mặt trái, tiêu cực tác động hằng ngày, hằng giờ đến đời sống, tư tưởng, tình cảm của nhân dân Tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân cực, phân tầng xã hội; những biến đổi về quan hệ lợi ích, hệ giá trị xã hội; sự cách biệt về kinh tế, xã hội… làm nảy sinh tiền đề của sự phân hóa về nhận thức, tư tưởng đang tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân).

* Liên hệ: Theo số liệu thống kê, hệ số chênh lệch thu nhập bình

quân đầu người của nhóm 20% cao nhất so với nhóm 20% thấp nhấttrong cả nước năm 1990 là 4,1 lần, năm 1991 là 4,2 lần, năm 1993 là6,2 lần, năm 1994 là 6,5 lần, năm 1995 là 7,0 lần, năm 1996 là 7,3lần, năm 1999 là 7,6 lần, năm 2002 là 8,1 lần và năm 2010 là 8,5 lần.Trong 14 năm, hệ số chênh lệch tăng lên 2,05 lần

- Nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hộichậm đổi mới, có biểu hiện hành chính hóa Công tác xây dựng bộ máy, việc quy hoạch,đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ làm công tác vận động nhân dân chưa được quan tâmđúng mức, chưa đáp ứng yêu cầu tăng cường, đổi mới công tác dân vận của Đảng trong

giai đoạn hiện nay (Lợi dụng những vấn đề này, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động "diễn biến hòa bình", nói xấu chế độ, bôi nhọ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tìm mọi thủ đoạn phân hóa nội bộ Đảng, kích động chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước)

4 Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

Trang 16

2.1 Nguyên nhân khách quan:

- Công cuộc đổi mới đất nước là một quá trình vừa làm vừa nghiên cứu tổng kếtkinh nghiệm, hoàn thiện về quan điểm đường lối, cơ chế, chính sách, luật pháp, nênkhông thể tránh khỏi những hạn chế, yếu kém nói chung và công tác dân vận nói riêng

- Những tác động của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, những khó khăn về kinhtế-xã hội của đất nước, về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân do tác động củakhủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu âm mưu thâm độc của các thế lực thùđịch tăng cường các hoạt động chống phá chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mốiquan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

2.2 Nguyên nhân chủ quan:

Tình hình trên đây có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu do những nguyênnhân chủ quan

- Một số cấp uỷ đảng chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác dân

vận; chưa thấy hết trách nhiệm và chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo, chỉ đạo công tácnày

- Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý

còn thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận chậm được đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn:

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triểnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, có rất nhiều vấn đềmới đặt ra tác động đến tư tưởng, tình cảm, đời sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân

Sự phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội, cùng với tệ quan liêu, tham nhũng, xa dân,xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối vớiĐảng, là thách thức đối với mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng

* Liên hệ:

Bác Hồ luôn là tấm gương sáng về phong cách gần dân Sự gần gũi đó được thể hiện ngay từ phút đầu tiên Người ra mắt quốc dân Khi vừa đọc một đoạn Tuyên ngôn Độc lập, Người đã dừng lại hỏi: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?" Chỉ là một câu hỏi thôi, một câu hỏi bình dị, tự nhiên mà thực sự đã làm xúc động trái tim hàng chục triệu đồng bào toàn quốc! "Cả muôn triệu một lời đáp: Có! Như Trường Sơn say gió Biển Đông" Đó là một điển hình mẫu mực về mối quan hệ gần gũi, thân thiết hiếm có giữa lãnh tụ với quần chúng, ngay ở những giây phút lịch sử trang trọng nhất.

Trong đời sống hằng ngày, Người thường tranh thủ đi thăm, chuyện trò thân tình với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào các địa phương, để nắm tình hình và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Điều đó đã trở thành một nhu cầu, một nếp sống, thành điều tâm niệm suốt đời của Người, từ buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước đến khi trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, từ việc lớn đến việc nhỏ của Người đều thể hiện sự quán triệt tư tưởng "Nước lấy dân làm gốc", "Cách mạng là sự nghiệp của

Trang 17

quần chúng" Ta hiểu vì sao Người thưòng nhắc đến câu ca truyền miệng của nhân dân Quảng Bình "Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong” Giữ được chân lý quý báu này thì sự nghiệp dù khó mấy cũng thành công Xa rời chân lý này thì cơ đồ cha ông để lại có đồ sộ mấy rồi cũng sẽ ngả nghiêng, sụp đổ.

Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tác phong sâu sát Theo một thống kê chưa thật đầy đủ, chỉ tính trong vòng 10 năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955- 1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn, Bác Hồ đã thực hiện trên dưới 700 lượt

đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội, từ miền núi đến hải đảo, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc Tính ra mỗi năm có hơn 60 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần Người gặp gỡ quần chúng Đó là một kỷ lục khó ai có thể vượt qua, nhất là đối với một lãnh tụ ở tuổi 70.

Hồ Chí Minh khẳng định: "Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân" Vì vậy, "việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh" Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, kính dân, phải thân dân, gần dân để hiểu dân.

C CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

I BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC

1 Bối cảnh quốc tế:

- Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ diễn ra như vũ bão hình thành xã hội thông tin; toàn cầu hóa diễn ra mạnhmẽ; kinh tế thế giới phát triển, nhất là kinh tế tri thức, nền sản xuất sạch tạo cơ hội,điều kiện thuận lợi, môi trường hòa bình cho Việt Nam phát triển, thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội, nâng cao dân trí, mở rộng dân chủ

- Tuy hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễnbiến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường Những căng thẳng, xung đột tôngiáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bốvẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệcao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường sẽtiếp tục gia tăng

* Liên hệ: Có quan điểm phân chia các vấn đề an ninh phi truyền thống thành 6 nhóm chính: ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa địa chất.

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc tại Phnôm Pênh (Cam-pu-chia) đã ra Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống, xác định an ninh phi truyền thống là những vấn đề: tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu

vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế, tội phạm công nghệ cao.

Trang 18

Xu hướng đấu tranh tự phát đòi dân chủ ở các nước Bắc Phi và Trung Đông lanrộng Sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, vai trò và ảnh hưởng của nhiều đảng cộngsản trên thế giới giảm sút nghiêm trọng và trong tương lai gần khó có cơ hội phục hồi vàphát triển.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, vẫn sẽ

là khu vực phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây bất ổn định; tranhchấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt Xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng vàđan xen lợi ích mới Khối ASEAN tuy còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng tiếp tụcgiữ vai trò quan trọng trong khu vực Các nước lớn điều chỉnh chiến lược ở Châu Á -Thái Bình Dương, điều chỉnh chính sách về biển Các thế lực thù địch tăng cường gâysức ép và chia rẽ đối với các nước ASEAN Khối ASEAN vẫn tiềm ẩn một số nhân tốmất ổn định

Cuộc cách mạng công nghệ thông tin dẫn đến thông tin đa chiều; kẻ địch, phần tửchống đối lợi dụng tuyên truyền, tập hợp lực lượng và dành giật quần chúng chống Đảng

và Nhà nước

2 Bối cảnh trong nước

- Thành tựu to lớn, quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước đã khẳng định quan điểm, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng được nhân dân đồng tình, ủng hộ

và giúp cho Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành tổng kết được nhiều bài học kinh nghiệm toàn diện trên các lĩnh vực, trong đó có những bài học kinh nghiệm quan trọng

bộ máy tham mưu về công tác dân vận cơ bản đã được củng cố, ổn định, xác định rõchức năng nhiệm vụ

- Sự biến động cơ cấu dân số, lao động chuyển dịch mạnh đòi hỏi Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải tăng cường và đổi mới, có những nội dung, phương thức vận động mới phù hợp cho từng đối tượng.

Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mặt trái của nó cũng ngày càng tác độngảnh hưởng sâu sắc hơn: phân hóa giàu nghèo phân hóa xã hội mạnh mẽ hơn, khó khănhơn cho việc đấu tranh phòng chống tham nhũng tiêu cực

Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", nhennhóm thành lập các tổ chức đối lập, gây bạo loạn, lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dânchủ', "nhân quyền", “dân tộc", "tôn giáo" hòng làm tự chuyển hóa trong nội bộ Đảng,nội bộ nhân dân; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa,

Trang 19

lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam.

II MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM

1 Mục tiêu

Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình

hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước

* Liên hệ:

Theo ông Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, thực tiễn

đã chứng minh rằng: mọi tổ chức Đảng từ trung ương đến địa phương muốn đoàn kết

thống nhất thì phải làm tốt 4 nội dung cơ bản.

Thứ nhất là giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành Một tổ chức mạnh là một tổ chức vận hành đúng các nguyên lý xây dựng

Đảng.

Thứ hai là chọn đúng cán bộ chủ trì Theo nguyên Bộ trưởng Lê Doãn Hợp, muốn

đoàn kết trong Đảng phải chọn đúng cán bộ chủ trì có đủ đức, tài, bản lĩnh và trách

nhiệm thực thi nhiệm vụ Nhiều nơi mất đoàn kết, nội bộ không yên không vui đều do chọn và bố trí cán bộ không đúng Trên thực tế chỉ có người có đức mới tập hợp được người có tâm.

Chỉ có người có tài mới phát hiện, sử dụng và dám bảo vệ người có tài Cách

lựa chọn tốt nhất hiện nay là bỏ phiếu tín nhiệm để chọn người có đức, sau đó tổ chức thi tuyển, tranh cử công khai được truyền hình trực tiếp trên mạng, trên các phương tiện thông tin đại chúng cho toàn dân tham gia để chọn người có tài trong số những người

có đức.

Theo ông, chọn đúng cán bộ chủ trì thì mọi việc sẽ tốt đẹp Ngược lại chọn sai cán bộ chủ trì thì nhiều hậu quả sẽ phát sinh, trước tiên là ba hậu quả rất rõ Đó là cơ quan, đơn vị, địa phương, đất nước không thể tiến nhanh được vì thiếu người có tài chủ

trì dẫn dắt Người dốt chỉ huy người giỏi, nội bộ không bao giờ yên Và khi người

đứng đầu không ngang tầm thì dễ dẫn đến xu thế: Người tốt không có chỗ dựa, người xấu dễ chi phối, lộng quyền.

Thứ ba là quản lý tài chính tốt, phân phối lợi ích công bằng, dân chủ, công khai.

Về vấn đề này, theo ông, muốn đoàn kết phải coi trọng quản lý tài chính và phân bố lợi ích đúng với thành quả đóng góp của mỗi thành viên.

Trang 20

Thứ tư, phải quan tâm phê và tự phê để mọi người đều tiến bộ và trưởng thành: Đảng nắm cán bộ thì phải nắm vũ khí phê và tự phê bình Hàng năm phải nhận

xét, đánh giá cán bộ dân chủ công khai Nhận xét đánh giá cán bộ là cơ sở để bố trí, sử dụng và đề bạt cán bộ Phê và tự phê giúp cán bộ tự soi xét lại mình để sống và làm việc tốt hơn.

Phê và tự phê phải có phương pháp tốt, giàu tình đồng chí thương yêu lẫn nhau Phê và tự phê phải đạt mục tiêu: Người được góp ý tin tưởng đồng chí mình sẽ tiếp thu

và sửa chữa tốt Người đón nhận góp ý thì nhận thấy đồng chí của mình có tấm lòng thân thiện vì sự tiến bộ của chính mình.

"Yêu cầu cao nhất của phê và tự phê là giúp nhau tiến bộ, trưởng thành theo đạo

lý: Người thông minh nhất là người sớm nhận ra khuyết điểm của mình và sửa chữa

nhanh nhất Ai cũng có khuyết điểm thì cần phải sửa chữa khuyết điểm, nhưng một khi

đã tìm mọi cách để bào chữa cho khuyết điểm của mình thì phải chuẩn bị đón nhận một nguy cơ mới xấu hơn Vì thế tính chân thành và cầu thị trong phê và tự phê luôn luôn cần và phải được đề cao" - ông nhấn mạnh.

* Liên hệ: Câu chuyện: "Sợ thì mặc bà con nông dân chết đói à?"

Tấm gương tiêu biểu được biết tới nhiều nhất chính là "ông khoán hộ", nguyên Bí thưtỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc Sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo ởVĩnh Phúc

Càng thấu hiểu, Kim Ngọc càng thấy bức xúc trước năng suất lao động quá thấp của môhình hợp tác hóa nông nghiệp Chính trong một lần xuống ruộng gặt cùng bà con nhưthế, ông Kim Ngọc đã nghe Chủ nhiệm HTX của thôn Đại Phúc kiến nghị: "Phải khoáncho người lao động thì họ mới làm tốt được"

Kim Ngọc chợt nhận ra ánh sáng ở cuối đường hầm, ông hỏi dồn vị chủ nhiệm: "Ông códám làm thế không?" Khi vị chủ nhiệm còn ngập ngừng thì ông đã nói: "Ông sợ là phải,nhưng nếu tôi sợ, ông sợ, mọi người đều sợ thì cứ để mặc cho bà con nông dân chết đóià?"

Trang 21

Quyết định 69 của Tỉnh Vĩnh Phúc cho phép Khoán nông nghiệp do Kim Ngọc khởixướng năm 1966 đã khiến ông Bí thư bị mang tiếng là mất lập trường giai cấp, đi theoCNTB Nhưng quyết định công khai thách thức "phép Vua" ấy của ông sau này đã đượclịch sử ghi nhận là đột phá sáng tạo đầu tiên của quá trình đổi mới nông nghiệp.

2.3- Về phương thức lãnh đạo công tác dân vận

Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng, phải gắn liền với công tác xâydụng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh Mọi quan điểm, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dântin tưởng, noi theo

2.4- Về trách nhiệm đối với công tác dân vận

Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên,công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sỹ lựclượng vũ trang Trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoànthể làm tham mưu và nòng cốt

2.5 Về các hình thức công tác dân vận

Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhândân làm chủ” thành quy chế, quy định để các tổ chức trong hệ thống chính trị; cán bộ,đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang thực hiện côngtác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học và hiệuquả

III NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1 Về công tác xây dựng Đảng

Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc chính đáng của nhân dân; làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ máu thịt của nhân dân với Đảng và Nhà nước.

Kiên quyết, kiên trì thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựngĐảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh Thực hiện nghiêm túc nguyêntắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; ngăn chặn và đẩy lùitình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Sớm ban hành và thực hiệntốt quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị

- xã hội, quy định để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân thamgia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Không ngừng nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực, hiệu quả của

bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chứcphải hiểu dân, gương mẫu, tận tuỵ với công việc, nói đi đôi với làm để nhân dân tin

Trang 22

tưởng, noi theo Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn với nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền

và nghĩa vụ của công dân trên cơ sở tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện

để nhân dân phát huy đầy đủ quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ của mình

Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị tập trung giải quyết những bức xúc,nguyện vọng chính đáng của nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đờisống, việc làm, đền bù thu hồi đất đai, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội Trong xây dựngthể chế, chính sách, cần quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc : mọi chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải thuận với lòng dân, xuất phát từ lợi ích

và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Chú trọng cải thiện đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân, nhất là điều kiện sống, lao động, học tập, sáng tạo, nghỉ ngơi, chămsóc sức khoẻ

* Liên hệ: Một nhà lãnh đạo khác đã đi tiên phong trong mặt trận phá rào là Bí thư

tỉnh ủy Long An Nguyễn Văn Chính Thời bao cấp, việc ấn định giá nhà nước đã gâybiết bao khó khăn cho các hoạt động kinh tế An Giang không phải là ngoại lệ, giá cảkhông vận động theo quy luật cung cầu đã khiến cho tỉnh chìm sâu vào khủng hoảngcuối những năm 1970

Ông Nguyễn Văn Chính đã làm chuyện tày trời khi năm 1977, phá bỏ cơ chế giá áp đặtcủa nhà nước và áp dụng giá thỏa thuận theo thị trường Ngày đó, giá cả không chỉ làchuyện kinh tế mà còn là "lập trường", là "tính Đảng", vì thế, có người đã hỏi ông Chínhrằng ông có biết sợ không khi làm những chuyện liều lĩnh như vậy

Vị Bí thư tỉnh ủy ấy đã trả lời: "Có chứ, tôi không to gan như các anh tưởng đâu Tôi sợlắm chứ Nhưng trong nhiều cái đáng sợ, tôi sợ nhất là nếu cứ để cho tiếp tục khủnghoảng như thế này thì dân chết, mà Đảng cũng chết Tôi sợ cái đó nhất, nên tôi phải nghĩ

Xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng; giải quyết dứt điểmnhững vụ việc khiếu kiện đông người phức tạp, kéo dài

2 Về nhận thức đối với công tác dân vận

Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí công tác dân vận trong tình hình mới.

***Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có phong cách quang minh chính đại, thấy việc phải thì

dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: Cần, Kiệm,

Trang 23

Liêm, là gốc rễ của Chính Người cán bộ lãnh đạo, quản lý đã Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người có khí tiết cao thượng, xứng đáng là người dẫn dắt, điều khiển hành động của quần chúng nhân dân Người liêm chính không sợ hãi trước nhưng uy lực tăm tối, dám dũng cảm gạt bỏ những việc làm trái với đạo lý, không để cho chúng làm bận tâm Học và làm theo khí tiết cần kiêm liêm chính Hồ Chí Minh, một khi hình thành khí tiết cao thượng, thì bất

cứ những thứ danh tiếng, tiền tài, địa vị, sắc đẹp, lợi lộc không chính đáng nào cũng không thể khiến người lãnh đạo, quản lý dao động, ngả nghiêng, hoặc thoái hóa biến chất.

Đổi mới và nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, đảngviên và nhân dân nắm vững, nhất trí với mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ công tác dân

vận; quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh : "Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc

gì cũng thành công" Công tác dân vận trong tình hình mới phải phát huy sức mạnh đại

đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữaĐảng, Nhà nước với nhân dân, tạo động lực để nhân dân đóng góp tích cực vào pháttriển kinh tế - xã hội Làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo, công tác đối với người ViệtNam ở nước ngoài Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độclập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Không ngừng nâng cao vịthế, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới; góp phần thực hiện thắng lợimục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủnghĩa xã hội

Tăng cường lãnh đạo công tác thông tin, tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổnghợp của các cơ quan thông tin đại chúng; mở rộng các kênh thông tin truyền thông, đốithoại trực tiếp với nhân dân, góp phần giải toả bức xúc, hoài nghi trong xã hội Chútrọng việc định hướng và quản lý các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các mạng

xã hội; phát huy sức mạnh của dư luận xã hội lành mạnh hỗ trợ cho các biện pháp quảnlý của Nhà nước và các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động của Mặt trận và cácđoàn thể nhân dân Chủ động đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, kích động của cácthế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước vớinhân dân

Đẩy mạnh tuyên truyền, cổ vũ và nhân rộng các nhân tố mới, các điển hình tiêntiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực; phát huy tinh thần yêu nước, thực hànhdân chủ, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi côngcuộc đổi mới và phát triển đất nước Thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắccác quan điểm, giải pháp về công tác dân vận của Đảng để mỗi cán bộ, đảng viên, côngchức, viên chức là cán bộ dân vận của Đảng Phát hiện, bồi dưỡng kỹ năng vận độngnhân dân cho những người có uy tín trong cộng đồng dân cư, tạo điều kiện để họ thamgia tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,tạo sự lan toả, sức sống của công tác dân vận trong tình hình mới

3 Về công tác dân vận của các cơ quan nhà nước

Trang 24

Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của các cơ quan nhà nước: Thể chế hoá các quan điểm, chủ trương mới của Đảng về dân vận thành các văn bản pháp luật để các cấp chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân thực hiện; cán bộ, công chức, viên chức phải có trách nhiệm vận động nhân dân; Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết tốt các chính sách đối với người dân.

***Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở "Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà

tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích", "Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý" Người đã yêu cầu cán bộ, đảng viên nói là phải làm, "nói ít, bắt đầu bằng hành động", "tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước"

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với giai cấpcông nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiếnbinh, người cao tuổi Ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào định cư

ở nước ngoài ổn định cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hướng về

Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước; góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữanhân dân ta với nhân dân các nước

- Xây dựng và thực hiện phong cách : "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và

có trách nhiệm với dân", "nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin"; thường xuyên đicông tác cơ sở Các cơ quan nhà nước, nhất là những ngành, cơ quan, đơn vị có quan hệtrực tiếp với nhân dân cần công khai các quy định cụ thể về trách nhiệm, thái độ phục vụnhân dân của cán bộ, công chức, viên chức để nhân dân biết và giám sát, kiểm tra việcthực hiện Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đổi mới lề lối làm việc, chấn chỉnhthái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Tăng cường đốithoại, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân và giải quyết kịp thời đơn, thư khiếu tố của dân.Làm tốt công tác thanh tra nhân dân, công tác hoà giải ở cơ sở; thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở; chủ động nắm tình hình và giải quyết những công việc liên quan đến đờisống của nhân dân

- Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết tốt các chính sách đối với ngườinghèo, người khuyết tật và các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùngđồng bào dân tộc ít người, để các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình đẳng,đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển

4 Về các phong trào thi đua yêu nước

Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập chủ quyền, an ninh chính trị.

- Các phong trào thi đua cần thiết thực, tiết kiệm, tránh hình thức, sáo rỗng; lấyhiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội làm thước đo đánh giá từng phong trào thi đua.Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời

Trang 25

- Vận động và tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân phát huy cao độ tiềm năng,sức sáng tạo, tích cực lao động, học tập, sản xuất, kinh doanh, làm giàu cho mình, chocộng đồng và đất nước; tham gia đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tiêu cực, tệ nạn xãhội.

5 Về phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị

- xã hội, các hội quần chúng

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các hội quần chúng để tập hợp nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

6 Về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận

Quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ Ban Dân vận, Mặt trận, đoàn thể nhân dân các cấp vững mạnh.

- Củng cố ban dân vận các cấp; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận củaĐảng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược; có cơ chế, chính sách thu hútngười có năng lực, có uy tín, có kinh nghiệm làm công tác dân vận; chú trọng luânchuyển, đào tạo, bồi dưỡng bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất làcán bộ trẻ tuổi, có năng lực; khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếukém và không có uy tín về làm công tác dân vận

7 Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận của Đảng

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác dân vận.

- Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải đổi mới công tác lãnh đạo, chỉđạo tổ chức thực hiện để nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận sớm đi vàocuộc sống, có hiệu quả thiết thực Phải xác định công tác vận động và chăm lo lợi íchcủa nhân dân là một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình; có kếhoạch thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để

có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời Các cấp uỷ đảng lãnh đạo chínhquyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân phối hợp chặt chẽ trong giải quyết cáccông việc liên quan đến nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụcông dân

- Các cơ quan đảng ở Trung ương thường xuyên phối hợp, kiểm tra, giám sát chặt

chẽ quá trình triển khai thực hiện; đồng thời theo dõi, kiểm tra việc thể chế hoá các quan

điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận Quan tâm nghiên cứu lý luận, tổng kếtthực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là về xây dựng và củng cốniềm tin của nhân dân đối với Đảng, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, từ đó thammưu với cấp có thẩm quyền ban hành các chủ trương, chính sách phù hợp

Trang 26

có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc; đồngthời cũng là thách thức to lớn đối với nhân loại trong thế kỷ XXI

Việt Nam là quốc gia ven biển (với bờ biển dài 3.200 km, từ Móng Cái Quảng Ninh đến Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang - vùng biển Việt Nam rộng trên 1 triệu km 2 ), nên

Việt Nam là quốc gia dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu; tàinguyên có hạn trong khi nhu cầu khai thác, sử dụng tăng nhanh; môi trường chịu áp lựclớn từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã luôn chú trọnglãnh đạo, chỉ đạo công tác này, coi đây là một nhiệm vụ trọng yếu

Trong các văn kiện Đại hội IX, X, XI và nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng gầnđây đã có đề cập vấn đề này, nhưng chưa có một nghị quyết chuyên đề toàn diện, sâu sắccủa BCH Trung ương cho cả 3 nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tàinguyên và bảo vệ môi trường Nhiệm vụ đặt ra tại Hội nghị Trung ương 7 là phải bànbạc thấu đáo để có những chủ trương, phương hướng đúng đắn, kịp thời chỉ đạo thựchiện có kết quả lĩnh vực này, nhằm quán triệt, cụ thể hóa quan điểm phát triển bền vữngcủa Đại hội XI, thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020cũng như lâu dài của đất nước

Trung ương đã xem xét, thảo luận, đánh giá thật khách quan, khoa học tình hìnhbiến đổi khí hậu, tài nguyên, môi trường và công tác ứng phó với biến đổi khí hậu ởnước ta trong thời gian qua Nhất là tình trạng nước biển dâng, ngập lụt, triều cường,xâm nhập mặn; phòng tránh, giảm nhẹ tác hại của thiên tai, bão lũ, hạn hán; quản lý,khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, tìm kiếm, phát triển các nguồn mới thay thế;phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạngsinh học Đồng thời, dự báo đúng xu thế diễn biến trong từng lĩnh vực, những thách thức

và vấn đề lớn đặt ra cần phải nghiên cứu xử lý Trên cơ sở đó đề ra quan điểm, mục tiêu

và định hướng nhiệm vụ, giải pháp sát hợp, khả thi Có quan điểm chỉ đạo chung cho cả

ba lĩnh vực và cho mỗi lĩnh vực; mục tiêu tổng quát đến năm 2020, tầm nhìn 2050; mụctiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 và chiến lược 10năm 2011 - 2020 và BCH Trung ương đã nhất trí ra nghị quyết về "Chủ động ứng phóvới biến đổi khí hậu, đẩy mạnh quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường" Đây là vấn đềchiến lược có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển bền vững của nước ta

Trang 27

A VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

II CÁC CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍHẬU, QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RAHIỆN NAY

1 Các chủ trương của Đảng về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trong qúa trình xây dựng và phát trển đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn quantâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệmôi trường, đã được nêu trong Văn kiện Đại hội IX, X và XI, trong các Nghị quyết, chỉthị của Trung ương, Bộ chính trị, Ban Bí thư, trong chính sách, pháp luật về đất đai,chiến lược biển, khoáng sản và bảo vệ môi trường

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ

sung, phát triển năm 2011) nhận định: "Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc, chỉ ra phương hướng cơ bản phát triển đất nước là "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường", đồng thời xác định bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái Phát trìển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp úng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia’’.

Nghị quyết Đại hội Đảng XI xác định vị trí, vai trò quan trọng của quản lý tàinguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 2011 - 2020 khẳng định: "Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ

và cải thiện môi trường, chủ động úng phó với biến đổi khí hậu", đồng thời xác định

mục tiêu, định hướng nhiệm vụ, giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác, sửdụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường

Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa IX về Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn thời kỳ 2001 - 2010 có chủ trương ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi theohướng sử dụng tổng hợp tài nguyên nước

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có mục tiêu chủ động triển

Trang 28

khai các biện pháp thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu; ngăn chặn và xử lý tìnhtrạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn; tạođiều kiện sống an toàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và cácvùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai

Nghị quyết số 28- NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2003 của Bộ Chính trị về sắpxếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh với quan điểm nâng cao hiệuquả sử dụng bền vững tài nguyên đất rừng, bảo vệ môi trường sinh thái

Nghị quyết số 13 -NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơbản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại với quan điểm phát triển hệ thốngkết cấu hạ tầng phải gắn với tiết kiệm đất canh tác, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh

và ứng phó với biến đổi khí hậu

Quan điểm quản lý, bảo vệ tài nguyên đất được đề cập đến trong Nghị quyết số26-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước và trong Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm

2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật

về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước

ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25 tháng 4 năm 2011 của Bộ Chính trị về địnhhướng chiến lược khoáng sản và phát triển công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030 đã thể hiện rõ quan điểm, mục tiêu và giải pháp đồng bộ về quản lý,bảo vệ tài nguyên khoáng sản

Bảo vệ rừng luôn được đề cập trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng về bảo vệmôi trường Tỷ lệ che phủ rừng là chỉ tiêu quan trọng trong các Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội Nghị quyết số 41-NQTW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị

về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcnêu rõ nhiệm vụ bảo vệ nghiêm ngặt rừng tự nhiên, đặc biệt là đối với các khu rừngnguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn; hạn chế đến mức thấp nhất việc mởđường giao thông và các hoạt động gây tổn hại đến rừng; đẩy mạnh trồng rừng, phủxanh đất trống, đồi trọc và khôi phục rừng ngập mặn

Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Ban Chấp hành Trungương về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 nhấn mạnh thế kỷ 21 là thế kỷ biển vàđại dương, định hướng phát triển kinh tế biển đồng thời đề ra các chủ trương, giải pháp

về quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, đặc biệt là công tác điều tra cơ bản

Về bảo vệ môi trường, bên cạnh các chủ trương, giải pháp nêu trong Văn kiện củaĐại hội Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số Nghị quyết, Chỉ thị chuyên

đề về công tác bảo vệ môi trường

Trang 29

Chỉ thị số 36-CTITW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cườngcông tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu

quan điểm của Đảng về công tác bảo vệ môi trường, đó là "Bảo vệ môi trưòng là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc ".

Tiếp theo đó, Bộ Chính trị dã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng

11 năm 2004 về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Nghị quyết tiếp tục khẳng định các quan điểm của Chỉ thị số 36/TW và bổsung, phát triển các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn, cập nhật xu thế củathời đại và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đặt ra

Chỉ thị số 29-CT/BBT ngày 21 tháng 01 năm 2009 của Ban Bí thư về tiếp tụcthực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW cập nhật những nhận thức mới và đề ra các quanđiểm, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường phù hợp với tình hình mới

Thời gian qua, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai,quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được quan tâm, có bước chuyển biến và

đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng.

1 Về ứng phó với biến đổi khí hậu

- Nhận thức về biến đổi khí hậu của các nghành, các cấp, tổ chức và người dân

đã có bước chuyển biến tích cực.

Việt Nam đã sớm tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khíhậu và Nghị định thư Kyoto1; 3 Nghị định được các bên tham gia Công ước khung cửaLiên Hợp Quốc ký ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Kyoto (Nhật Bản), có hiệu lực từngày 16 tháng 2 năm 2005, theo đó, 36 nước phát triển (được gọi là các nước thuộc diệnđược yêu cầu cắt giảm phát thải khí nhà kính

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậuđược thực hiện; qua đó, nhận thức của các ngành, các cấp về biến đổi khí hậu, về nguy

cơ tác động của biến đổi khí hậu đã có chuyển biến tích cực

- Thể chế, chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu bước đầu được thiết lập.

- Nhiều hoạt động thích úng với biến đổi khí hậu 2 phòng chống thiên tai, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được thực hiện.

Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã được xây dựng, cập nhật và công

bố Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu được triển khai thực hiện đã đạtđược kết quả bước đầu Đã triển khai nghiên cứu, đánh giá được tác động của biến đổikhí hậu đến một số hình vực, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch hành động ứng phó

Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai được nâng lên một bước Hệ thống quan trắc

1 Nghị định được các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc ký ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Kyoto (Nhật Bản), có hiệu lực từ ngày 16 tháng 2 năm 2005, theo đó, 26 nước phát triển (được gọi là các nước thuộc phụ lục 1) được yêu cầu cắt giảm phát thải khí nhà kính.

2 Thích ứng với biến đổi khí hậu là việc điều chỉnh hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển trong điều kiện biến đổi khí hậu, hạn chế thấp nhất những tổn thất có thể xáy ra trong hiện tại và cả trong tương lai.

Trang 30

và dự báo khí tượng thủy văn từng bước được đầu tư, nâng cấp, bảo đảm thông tin thíchứng với biến đổi khí hậu; bước đầu thực hiện điều chỉnh hệ thống tự nhiên, kinh tế - xãhội để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển trong điều kiện biến đổi khí hậu; hạn chế thấpnhất những tổn thất có thê xảy ra trong hiện tại và tương lai Qua Đề án hiện đại hóacông nghệ dự báo và mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn, đến nay, một số côngnghệ dự báo hiện đại đã được đưa vào sử dụng, nhờ đó, đã tăng thời gian dự báo bão và

áp thấp nhiệt đới từ 24 giờ lên 36 giờ, dự báo cơn bão có quỹ đạo ổn định trước từ 60giờ đến 72 giờ, cảnh báo trước 48 giờ đến 72 giờ các đợt không khí lạnh gây rét đậm, réthại

2 Về quản lý tài nguyên

- Các cấp các ngành, tổ chức và người dân đã nhận thức được vai trò của tài nguyên, coi trọng nguồn lực tài nguyên trong quá trình xây dụng và phát triển đất nước.

- Hệ thống chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy về quản lý tài nguyên sớm được xây dụng, từng bước đổi mới và hoàn thiện; đầu tư cho điều tra cơ bản được chú ý hơn.

Pháp luật về đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, thuỷ sản sớm được xây

dựng, sửa đổi, bổ sung với 7 bộ luật chuyên ngành3, hình thành môi trường pháp lýtương đối đầy đủ cho việc khai thác, sử đụng tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế - xãhội Các chiến lược, quy hoạch tài nguyên cũng đã được xây dựng và phê duyệt địnhhướng hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên4

- Đầu tư cho điều tra cơ bản được chú ý hơn, nhiều chương trình, dự án điều tra

cơ bản về tài nguyên được thực hiện, nhất là điều tra địa chất khoáng sản.

-Tài nguyên đã đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua, đặc biệt trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới.

Quỹ đất cho phát triển công nghiệp, đô thị, hạ tầng và các mục đích phi nôngnghiệp khác được bảo đảm Nguồn thu từ đất đai đã đóng góp ngày càng lớn cho ngânsách Đất canh tác nông nghiệp, đất rừng về cơ bản được bảo vệ, nhờ đó an ninh lươngthực được giữ vững; Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sảnhàng đầu trên thế giới

Than, dầu khí, vật liệu xây dựng và một số loại khoáng sản khác đã góp phần bảođảm nguồn cung cho phát triển kinh tế - xã hội và tạo nguồn thu quan trọng cho ngânsách nhà nước Nhu cầu về nước tăng nhanh song vẫn được đảm bảo phục vụ sản xuất,kinh doanh, tưới tiêu, thuỷ điện và nhiều mục đích khác Khai thác nguồn lợi thuỷ sảngóp phần quan trọng tạo thu nhập và ổn định sinh kế của người dân ven biển

Bước đầu quan tâm đến khai thác các nguồn tài nguyên mới, năng lượng tái tạo,

3 Luật Đất đai; Luật Tài nguyên nước; Luật Khoáng sản; Luật Dầu khí; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Luật Thủy sản.

4 Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020; Chiến lược phát triển thùy sản Việt Nam đến năm 2020

Trang 31

năng lượng mới và vật liệu thay thế Diện tích đất chưa sử dụng của cả nước từng bướcđược khai thác đưa vào sử dụng5 Một số khoáng sản mới được phát hiện làm cơ sở pháttriển nguyên liệu mới6 Việc tìm kiếm, khai thác các nguồn năng lượng mới, vật liệuthay thế đã bước đầu được triển khai7.

Một số chương trình, dự án tìm kiếm, khai thác khoáng sản từ các nước khác đangđược triển khai Đã đầu tư thực hiện nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm một số vật liệuthay thế nguyên liệu tự nhiên góp phần giảm sức ép lên khai thác tài nguyên

3 Về bảo vệ môi trường

- Nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về bảo vệ môi trường đã được nâng lên.

Nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường của các cấp,các ngành, tổ chức đoàn thể và người dân đã có những chuyển biến tích cực; bảo vệ môitrường được đưa vào chương trình giáo dục, đào tạo các cấp học, tuyên truyền trênphương tiện truyền thông Báo cáo đánh giá, kiểm điểm, kế hoạch, chương trình hoạtđộng của nhiều cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đã đề cập đến công tác bảo vệ môitrường Đã xuất hiện nhiều gương tốt điển hình trong công tác bảo vệ môi trường

- Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường được hình thành về cơ bản; tổ chức bộ máy và nguồn lực cho bảo vệ môi trường có bước được tăng cường.

Từ năm 1991, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch Quốc gia về Môitrường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000 Tiếp sau đó, Thủ tướng Chính phủcũng đã phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia giai đoạn đến năm 2010, đếnnăm 2020 và các chiến lược có liên quan8

Hệ thống pháp luật, chính sách về bảo vệ môi trường được hình thành về cơ bản,từng bước hoàn thiện với 2 bộ luật cơ bản: Luật Bảo vệ môi trường và Luật Đa dạngsinh học Nhiều bộ luật liên quan9 cũng có các quy định về bảo vệ các thành phần môitrường

Bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được thiết lập từ Trung ương đến

địa phương, từng bước được kiện toàn; lực lượng cảnh sát môi trường được thành lập và

đi vào hoạt động Nhà nước đã dành 1% tổng chi ngân sách hàng năm cho các hoạt động

sự nghiệp môi trường; ban hành một số cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực trong

5 Giai đoạn 2001-2010, cả nước đã khai thác đưa vào sử dụng khoảng 5,6 triệu ha.

6 Serixit, vecmiculit, zeolit, nefelin và băng cháy.

7 Dự án điện gió ở Bình Thuận, Bạc Liêu; chương trình sử dụng thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời; 5 nhà máy sản xuất cồn ethanol phục vụ sản xuất xăng sinh học đã và đang được xây dựng với tổng công suất lên tới gần 500 triệu lít/năm Giai đoạn 2004 – 2012 đã có khoảng 600.000 công trình khí sinh học được xây dựng.

8 Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến.năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược

quốc gia về Tăng trưởng xanh; Chiến lược quản lý tổng hợp chất thải rắn .

9 Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển trung, Luật tài nguyên nước, Luật Thủy sản, Bộ Luật hình sự, Bộ Luật dân sự, Luật Đầu tư, Luật Thuế bảo vệ môi trường…

Trang 32

xã hội, vốn vay, tài trợ của các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước cho bảo vệ môitrường và đã huy động được nguồn vốn đáng kể cho bảo vệ môi trường.

Công tác xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường bước đầu cũng đã đem lạinhững kết quả đáng ghi nhận, đã có nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia cung ứng dịch

vụ vệ sinh môi trường như cấp thoát nước, xử lý nước thải, khí thải, thu gom và xử lýchất thải rắn và chất thải nguy hại, hoạt động tư vấn, thiết kế Việt Nam đã và đang tíchcực thực hiện các nghĩa vụ của nước thành viên; Việt Nam đã tích cực hội nhập, hợp tácquốc tế, tham gia 20 điều ước quốc tế về môi trường; đã có gần 40 chương trình, dự ánlớn về bảo vệ môi trường được thực hiện với các đối tác song phương và đa phương.Việt Nam cũng tham gia tích cực vào các diễn đàn thế giới và khu vực về bảo vệ môitrường, đặc biệt là các hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trong khu vựcchâu á, khối các nước ASEAN, các nước tiểu vùng sông Mê Công mở rộng

- Mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường được kiềm chế, làm chậm lại 10 ; nhiều cảnh quan thiên nhiên, giá trị của đa dạng sinh học được bảo vệ, bảo tồn.

Thời gian qua, kinh tế nước ta phát triển nhanh, đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn

ra mạnh mẽ nên môi trường chịu nhiều áp lực lớn, đặc biệt là nước thải, khí thải, chấtthải rắn Thông thường trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, ô nhiễm môi trường cóthể gia tăng ở mức gấp nhiều lần so với mức tăng GDP11 Tuy nhiên, những nỗ lực bảo

vệ môi trường đã góp phần kiềm chế, làm chậm lại tốc độ gia tăng ô nhiễm, mức độ suygiảm chất lượng môi trường sống ở nước ta

Trong công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, hoạt động đánh giá môi trườngchiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường đã được thựchiện Nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã được xử lý triệt để12, nhất làtrong các đô thị, khu dân cư Công tác quản lý chất thải được quan tâm hơn Tỷ lệ thugom chất thải rắn và chất thải nguy hại tăng13 Đã ban hành lộ trình áp dụng các tiêuchuẩn về khí thải đối với các phương tiện giao thông vận tải

Từng bước khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường Nhiều đoạnsông, kênh, mương, ao, hồ trong đô thị, khu dân cư được kè bờ, nạo vét, cải thiện môitrường Một số khu vục mỏ sau khai thác đã được cải tạo, phục hồi Điều kiện sống của

10 Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, với trình đọ phát triển như hiện nay của Việt Nam, khi GDP tăng lên gấp đôi,

ô nhiễm môi trường có thể tăng lên từ 3-5 lần Nếu vậy, trong 20 năm qua GDP tăng gần 4,5 lần ô nhiễm môi trường có thể tăng từ 15 đến 25 lần Tuy nhiên, trên thực tế ô nhiễm môi trường ở Việt Nam có tăng nhưng ở mức thấp hơn, chậm hơn.

11 Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, đối với các nước trong giai đoạn đang phát triển như Việt Nam khi GDP tăng lên gấp đôi, ô nhiễm môi trường có thể tăng lên từ 3-5 lần Đối chiếu với những nhận định trên đây, giai đoạn đổi mới, mở cửa của nước ta tính từ thập niên 90 của thế kỷ trước diễn ra trên 20 năm với GDP năm 2011 tăng gần 4,5 lần so với năm

1990 thì ô nhiễm môi trường có thể tăng lên từ 15 đến 23 lần Tuy nhiên, trên thực tế ô nhiễm môi trường ở Việt Nam có tăng nhưng ở mức thấp hơn.

12 Tính đến tháng 10 năm 2012, có 370/439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cơ bản đã hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để (chiếm 84,3%).

13 Năm 2012, Ở đô thị đạt khoảng 80 – 82% (năm 2003 là 60 – 70%), ở nông thôn đạt khoảng 40 – 55% (năm 2003 là 20%); tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng 65%; tỷ lệ chất thải rắn y tế được thu gom đạt trên 75%.

Trang 33

người dân dần được cải thiện, tỷ lệ dân được cung cấp nước sạch, hợp vệ sinh tăng14.

Độ che phủ của rừng được nâng lên, đạt gần 40% Quy hoạch hệ thống các khubảo tồn thiên nhiên được xây dựng

Số lượng và diện tích các vườn quốc gia, khu bảo tồn đã tăng lên trong nhữngnăm gần đây15 Nhiều khu bảo tồn thiên nhiên đã được công nhận là khu dự trữ sinhquyển quốc tế, di sản thiên nhiên của ASEAN, thế giới

II HẠN CHẾ, YẾU KÉM

Mặc dù đã đạt được những kết quả trên, nhưng việc ứng phó với biến đổi khí hậucòn lúng túng, bị động, thiên tai còn gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản; tàinguyên chưa được khai thác, sử dựng hợp lý, hiệu quả và bền vững; một số loại tàinguyên bị khai thác quá mức nên suy thoái, cạn kiệt; ô nhiễm môi trường còn diễn raphổ biến, vẫn trong xu hướng gia tăng, có nơi nghiêm trọng; đa dạng sinh học suy giảm,nguy cơ mất cân bằng sinh thái trên diện rộng

1 Về ứng phó với biến đổi khí hậu

- Nhận thức về biến đổi khí hậu chưa đầy đủ, chưa thống nhất về nguy cơ cũng như cách thức ứng phó.

Hiểu biết, nhận thức về biến đổi khí hậu còn chung chung; chưa đánh giá đầy đủtác động của biến đổi khí hậu theo vùng, miền, lĩnh vực

-Hệ thống chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy, nhân lực về ứng phó với biến đổi khí hậu hình thành còn chậm, nguồn lực hạn chế.

Chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu mới bước đầu được hìnhthành, chưa có hệ thống và thiếu đồng bộ, chưa rõ hướng đi và lộ trình Các quy định vềgiảm nhẹ phát thải khí nhà kính còn phân tán; các quy định về thích ứng chủ yếu vềphòng chống và giảm nhẹ thiên tai Phần lớn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội củacác ngành, lĩnh vực, địa phương chưa được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với diễnbiến của biến đổi khí hậu

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước mới được thiết lập ở Trung ương với đội ngũcán bộ còn mỏng, chưa đáp ứng về chuyên môn, nghiệp vụ

Nguồn lực đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu chỉ đáp ứng được một phầnrất nhỏ so với nhu cầu Công tác nghiên cứu khoa học cơ bản về biến đổi khí hậu cònyếu

- Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu thiếu đồng bộ, chưa đạt kết quả như yêu cầu của thực tiễn.

Năng lực cảnh báo, dự báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu chưa đáp ứng yêucầu Mặc dù đã được quan tâm đầu tư trong thời gian gần đây, nhưng hệ thống mạng

14 Khoảng 52% số hộ gia đình nông thôn có công trình vệ sinh đạt yêu cầu (năm 2003 xấp xỉ 30%); tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 79% (năm 2003 là 40%); tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch đạt 80%.

15 Đã thiết lập được 30 vườn quốc gia, 69 khu bảo tồn thiên nhiên, phê duyệt 45 khu bảo tồn vùng nước nội địa và 16 khu bảo tồn biển.

Trang 34

lưới các trạm khí tượng thủy văn, giám sát khí hậu còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu.Khả năng dự báo, cảnh báo còn hạn chế, thời gian dự báo so với các nước tiên tiến cònngắn, độ chính xác chưa cao.

Kịch bản biến đổi khí hậu chưa cụ thể cho từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn

2020 - 2030 và các giai đoạn sau đó để có kế hoạch ứng phó phù hợp

Công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai vẫn chủ yếu tập trung vào ứng phó

và khắc phục hậu quả mà chưa chú trọng đúng mức đến chủ động phòng ngừa Các hoạtđộng phòng chống thiên tai còn thiếu tính chuyên nghiệp, năng lực cứu hộ, cứu nạn cònhạn chế Chỉ tính trong 15 năm trở lại đây, thiên tai đã làm chết và mất tích hơn 10 nghìnngười, thiệt hại về tài sản ước tính lên đến 1,5% GDP/năm16

Các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính chưa được đẩy mạnh đúng mức.Phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP còn ở mức cao (khoảng hơn 2 tấn CO2 tươngđương/1.000 USD)17 Năng lượng sạch, năng tượng tái tạo vẫn chưa được phát triển, sửdụng tương xứng với tiềm năng18

Mức tiêu hao năng lượng trên đơn vị GDP còn cao hơn các nước trong khu vực19.Hoạt động sử dụng tiết kiệm hiệu quả năng lượng, dù đã đạt được một số kết quả, songcũng chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được như mong đợi

2 Về quản lý tài nguyên

- Công tác quản !ý tài nguyên chưa được quan tâm đúng mức, nhận thức về khai thác, sử dụng tài nguyên có chỗ còn chưa đúng, nhất là về mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lâu dài.

Mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên để khôi phục nền kinh

tế sau chiến tranh, thoát khỏi tình trạng kém phát triển, song kéo dài, kém hiệu quả Ởmột số nơi chỉ quan tâm đáp ứng nhu cầu về tài nguyên cho phát triển kinh tế, tạo nguồnthu lớn nhất cho ngân sách mà không chú ý đến bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệuquả và bền vững tài nguyên để gìn giữ cho các giai đoạn tiếp theo, cho các thế hệ tươnglai Việc giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân, giữa trướcmắt và lâu dài, giữa cục bộ và tổng thể chưa được nhận thức đầy đủ và coi trọng

- Chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên còn bất cập, thiếu đồng bộ, thiếu chặt chẽ và chưa sát với thực tế.

Chính sách, pháp luật về tài nguyên còn thiên về huy động nguồn lực tài nguyêncho phát triển kinh tế - xã hội, chưa chú trọng đến bảo vệ các nguồn tài nguyên quốc gia

16 Theo báo cáo của Cục Quản lý đê điều và phòng chống lụt bão (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

17 Phát thải khí nhà kính của Hàn Quốc hiện nay khoảng 0,62 tấn CO 2 tương đương/1.000 USD GDP.

18 Theo Quy hoạch của Tập đoàn Điện Lực Việt Nam, năng lượng tái tạo chỉ chiếm 4,5% tổng nhu cầu năng lượng vào năm 2020, trong khi đó ở Hàn Quốc, năng lượng tái tạo hiện chiếm 23% tổng năng lượng sử dụng Tính đến năm 2012, việc khai thác năng lượng tái tạo ở Việt Nam mới chỉ đạt tổng công suất khoảng 550 MW, chủ yếu là thủy điện nhỏ và sinh khối; điện mặt trời quy mô nhỏ với tổng công suất lắp đặt khoảng 10 MW.

19 Mức tiêu hao năng lượng của Việt Nam trên một đơn vị GDP cao hơn các nước trong khu vực từ 1,37 lần (Thái Lan) đến 4,65 lần (Hồng Kông).

Trang 35

Quy hoạch tài nguyên chưa thực sự dựa trên tiềm năng, khả năng cung ứng của cácnguồn tài nguyên, chưa là tiền đề, cơ sở để lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội,ngành, lĩnh vực Một số chính sách, cơ chế khai thác, sử dụng tài nguyên không còn phùhợp nhưng chậm được đổi mới Các quy định về khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả vàbền vững tài nguyên còn phân tán, thiếu đồng bộ, chưa thống nhất Công cụ kinh tế chưađược áp dụng triệt để, chưa phát huy hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.

Công tác điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, giá trị kinh tế của cácnguồn tài nguyên chưa được đầu tư đúng mức

Việc quản lý quy hoạch, cấp phép, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tàinguyên chưa tốt, có nơi còn buông lỏng quản lý

Còn thiếu cơ chế, chính sách, pháp luật đủ mạnh để khuyến khích phát triển, sửdụng năng lượng tái tạo, năng lượng mới; thúc đẩy, khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hợplý, hiệu quả và bền vững tài nguyên

Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, bộ phận chuyên môn quản lý nhà nước vềquản lý tài nguyên chưa thật rõ, chưa thống nhất, còn mâu thuẫn, chồng chéo Quản lýnhà nước đối với hoạt động điều tra cơ bản về tài nguyên còn bất cập, chậm đổi mới,chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường Còn thiếu các chuyên gia, cán bộ quản lýlàm công tác phân tích, dự báo về biến động tài nguyên, phân tích kinh tế trong khaithác, sử dụng tài nguyên Đầu tư cho công tác điều tra cơ bản về tài nguyên chưa đápứng yêu cầu

- Tài nguyên chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ tiềm năng, các giá trị, chưa được khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững, một số loại bị khai thác quá mức nên suy thoái, cạn kiệt.

Đất canh tác nông nghiệp, đất rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ bị thuhẹp diện tích do bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất20 Việc sử dụng đất còn lãng phí,manh mún21, hiệu quả thấp, nhất là đất trong các khu đô thị, dân cư Chất lượng đất đã

và đang có xu hướng giảm, tình trạng hoang hóa, sa mạc hóa đất nông nghiệp xảy ra ởnhiều nơi22

(có 7,5 triệu ha đất có nguy cơ hoang mạc, sa mạc hóa; 30 ngàn ha đất bị nhiễmmặn, phèn; 300 ngàn ha khô hạn theo mùa và cả năm Đây là một thách thức rất lớn)

Khai thác khoáng sản tràn lan, manh mún và kém hiệu quả; công nghệ khai thác,chế biến còn lạc hậu, gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường; chưa kiểm soát và ngănchặn hiệu quả hoạt động khai thác trái phép, xuất khẩu thô, gây thất thoát tài nguyên.Xung đột lợi ích trong khai thác khoáng sản chậm được khắc phục Tiềm năng, trữ

20 Giai đoạn 2001-2010, trung bình hàng năm nước ta mất đi khoảng 35.000 ha đất canh tác lúa; trong giai đoạn 2006-2010, diện tích đất rừng phòng hộ cả nước giảm 1.378.000 ha.

21 Cả nước có trên 70 triệu thửa đất nông nghiệp.

22 Hiện có khoảng 7,5 triệu ha đất có nguy có bị hoang mạc, sa mạc hóa; 30.000 ha đất bị nhiễm mặn, phèn; 3.000 ha khô hạn theo mùa và cả năm.

Trang 36

lượng các loại khoáng sản của Việt Nam không lớn so với một số nước khác, tuy nhiên,

số lượng các doanh nghiệp tham gia hoạt động khoáng sản lại lớn hơn nhiều lần23

Sử dụng tài nguyên nước còn lãng phí, hiệu quả thấp24; nhiều nơi thiếu nước ngọttrầm trọng; về lâu dài an ninh tài nguyên nước không được đảm bảo Tình trạng khaithác nước không có giấy phép còn phổ biến Đã xảy ra tranh chấp trong sử dụng nước ởmột số nơi

3 Về bảo vệ môi trường

- Ý thức tự giác chưa cao, bảo vệ môi trường chưa trở thành thói quen, nếp sống thường xuyên của người dân; còn một bộ phận không nhỏ thiếu ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường.

Ý thức trách nhiệm của một số cán bộ; ý thức tự giác của nhiều doanh nghiệp vàngười dân về bảo vệ môi trường còn thấp Vẫn còn tư tưởng chấp nhận đánh đổi môitrường quá mức để phát triển kinh tế Một bộ phận chưa nhận thức rõ vai trò, tầm quantrọng của công tác bảo vệ môi trường đối với sự nghiệp phát triển bền vững đất nước;chưa nhận thức được xu thế thế giới và thời đại về môi trường và phát triển bền vững.Phần lớn còn coi bảo vệ môi trường là việc của Nhà nước, của người khác, chưa thấy hếttrách nhiệm của cơ quan, tổ chức, bản thân mình và của cộng đồng Thái độ, hành vi, lốisống, thói quen tiêu dùng lãng phí, thiếu thân thiện với môi trường còn phổ biến ở nhiềunơi Việt Nam còn bị một số tổ chức quốc tế phê phán về thói quen tiêu thụ động vậthoang dã

Ý thức chấp hành Luật Bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh môi trường của các

hộ sản xuất kinh doanh, nhất là các hộ sản xuất kinh doanh thuộc các làng nghề cònkém Ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của một số nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sảnxuất, kinh doanh còn thấp, chưa chủ động, tự giác thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ bảo

vệ môi trường, phần lớn vẫn chạy theo lợi nhuận, coi nhẹ bảo vệ môi trường

- Hệ thống chính sách, pháp luật, tổ chúc bộ máy về bảo vệ môi trưòng còn thiều bất cập; nguồn lực cho bảo vệ môi trường chưa đáp úng yêu cầu.

Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường còn thiếu hệ thống, chồngchéo, chưa sát thực tế và không theo kịp yêu cầu của phát triển bền vững và hội nhậpquốc tế Còn thiếu các quy định hoặc đã có nhưng chưa đầy đủ, cụ thể về bảo vệ môitrường đất, nước, không khí, về tái chế chất thải, về khắc phục ô nhiễm, cải tạo, phục hồimôi trường, về tiêu dùng bền vững Chưa có cơ sở pháp lý về quy hoạch môi trường,phân vùng chức năng sinh thái, môi trường làm căn cứ để hoạch định chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội, lập quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng

23 Việt Nam hiện có hơn 2.000 doanh nghiệp tham gia hoạt động khoảng sản trong khi Úc là nước có tiềm năng và trữ lượng khoáng sản lớn hơn rất nhiều lần so với nước ta chỉ có gần 600 doanh nghiệp tham gia hoạt động khoáng sản.

24 Theo Báo cáo của Ngân hàng thê giới về chi sô phát triển năm 2010, chỉ số hiệu quả sử dụng nước trên một đơn vị GDP của Việt Nam là 0,4 trong khi của nhóm các nước thu nhập thấp là 1,2, nhóm các nước thu nhập trung bình là 2,9 và nhóm các nước thu nhập cao là 27,9.

Trang 37

Chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích phát triểnngành công nghiệp, dịch vụ môi trường và sản phẩm thân thiện với nôi trường Thiếucác cơ chế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, giải quyết tranh chấp,xung đột về môi trường Mặc dù đã có các quy định về tội phạm môi trường trong Bộluật Hình sự nhưng chưa đầy đủ và thiếu cụ thể nên chưa thực hiện được trên thực tế.Nhiều quy định về xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường mới chỉ dừng lại ở nguyêntắc, thiếu cơ chế phù hợp để thực hiện nên chưa phát huy được hiệu quả.

Cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế thịtrường Các loại thuế, phí về môi trường mới chỉ bước đầu tạo nguồn thu cho ngân sách

mà chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt độnggây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội theo hướnghài hòa với thiên nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững

Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa được quan tâm đúng mức, chậmđược phổ biến, hướng dẫn nên nhiều doanh nghiệp, người dân chưa hiểu biết về phápluật bảo vệ môi trường, thậm chí còn chưa biết đến

Công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật chưathường xuyên, chưa thực chất và chưa phát huy tác dụng như mong muốn Trong nhiềutrường hợp xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm nên vẫn còn tình trạng coi thường,

"nhờn" pháp luật hoặc chấp nhận chịu phạt vì chế tài chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe

Tổ chức bộ máy còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn, phứctạp của công tác bảo vệ môi trường, tính hội nhập chưa cao Chức năng quản lý nhànước về bảo vệ môi trường chưa được phân định thật rõ ràng; phân công trách nhiệmgiữa các Bộ, ngành, phân cấp giữa Trung ương và địa phương chưa hợp lý, chưa rõ, cònchồng chéo, phân tán, mâu thuẫn Thiếu cơ chế quản lý liên ngành, liên vùng hiệu quảnên sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương còn rời rạc, hànhđộng còn đơn phương Đội ngũ cán bộ nhà nước còn thiếu25, năng lực, trình độ chuyênmôn, kiến thức quản lý còn nhiều hạn chế, bất cập

Nguồn lực cho bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu Đầu tư cho tiêu thoát và

xử lý nước thải đô thị, quản lý chất thải rắn sinh hoạt, khắc phục, cải tạo môi trường tạicác khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái còn quá thấp so với yêu cầu Chưa có cơ chế huyđộng nguồn lực trong xã hội hoặc đã có nhưng chưa phù hợp nên nguồn lực huy độngđược còn nhỏ lẻ, không đáng kể Sử dụng nguồn lực đầu tư còn dàn trải, thiếu trọng tâm,trọng điểm nên hiệu quả thấp Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho bảo vệ môitrường còn thấp, phân tán và đang có xu hướng giảm dần Nguyên tắc "người gây ônhiễm phải trả chi phí xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi trường", "người hưởng

25 Số cán bộ quản lý nhà nước về môi trường trên 1 triệu dân: Trung Quốc: 40 người, Thái Lan: 42 người, Campuchia: 55 người; Malayxia: 100 người, Singapore: 350 người, Canada: 155 người, Anh: 204 người Trong khi đó, Việt Nam là 29 người.

Trang 38

lợi từ tài nguyên, môi trường phải trả tiền" chưa được áp dụng triệt để, mức chi chưađúng, chưa đủ để xử lý, giải quyết các vấn đề tài nguyên, môi trường.

- Ô nhiễm môi trường còn diễn ra phổ biến, có xu hướng gia tăng, đa dạng sinh học suy giảm nhanh, nguy cơ mất cân bằng sinh thái trên diện rộng.

Nguồn gây ô nhiễm môi trường tăng nhanh do quá trình công nghiệp hóa, đô thịhóa nhanh, mạnh26 Việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

còn chậm, chưa đạt mục tiêu đề ra Các nguồn gây ô nhiễm môi trường gia tăng nhanh

về số lượng, quy mô và mức độ tác động xấu lên môi trường, làm cho môi trường đất,nước, không khí nhiều nơi bị ô nhiễm, có nơi đã đến mức nghiêm trọng Phần lớn hồ,

ao, kênh, mương, các đoạn sông trong các đô thị, khu dân cư đã bị ô nhiễm nghiêmtrọng, một số chỉ số như nồng độ oxy sinh học (BOD), chất rắn lơ lửng đã vượt quychuẩn cho phép đến hàng chục lần27 Ô nhiễm do sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thựcvật, phụ phẩm sản phẩm nông nghiệp, rác thải sinh hoạt ở nông thôn, chưa được kiểmsoát; ô nhiễm ở các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề chậm được giải quyết; các đề

án bảo vệ môi trường lưu vực sông chậm được triển khai, đạt hiệu quả thấp

Quản lý chất thải rắn còn nhiều tồn tại, yếu kém Chất thải rắn sinh hoạt chưađược phân loại tại nguồn; chủ yếu được chôn lấp không hợp vệ sinh; tỷ lệ tái sử dụng,tái chế thấp Còn một tỷ lệ chất thải nguy hại chưa được quản lý tốt tiêu hủy chưa antoàn

Hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường còn lạc hậu, yếu kém Hầu hết các đô thị trên

cả nước và khoảng hơn 35% khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có hệ thống xử lý nướcthải tập trung hoặc có nhưng không đáp ứng yêu cầu Trên 60% trong số 1 triệu m3nước thải/ngày/đêm từ các khu công nghiệp xả thẳng ra môi trường, không qua xử lý

Việc phục hồi các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái chậm được thực hiện Ô nhiễmnguồn nước mặt nhiều nơi nghiêm trọng, đặc biệt trong các đô thị, khu dân cư, xungquanh các khu công nghiệp, làng nghề Ô nhiễm không khí, nhất là ô nhiễm bụi một sốnơi ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn khác vượt quá mức chophép nhiều lần

Các hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp diện tích nhanh Rừng nguyên sinh chỉ còn rất

ít, bị chia cắt và cô lập Các hệ sinh thái sông, hồ, đầm phá chịu áp lực lớn từ các dự ánphát triển kinh tế - xã hội Nhiều hệ sinh thái biển như rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏbiển trên đà suy thoái mạnh28

Nơi cư trú của động vật hoang dã bị thu hẹp hoặc mất đi Số loài và số cá thể các

26 Đến tháng 9/2012, cả nước đã có 283 khu công nghiệp (bao gồm cả khu chế xuất với tổng diện tích khoảng 80.000 ha trên.phạm vi 58 tinh, thành phố Số phương tiện giao thông cá nhân gia tăng bình quân năm là 15,2% (trong đó xe gắn máy 15,56%, ô tô 9%).

27 Hàm lượng BOD (mg/l) trên một sô sông chính ờ Việt Nam hiện nay: sông Cầu là 5 10 mg/l; sông Nhuệ Đáy là 5

-10 mg/l; sông Sài Gòn là 7 - 15 mg/l; sông Đồng Nai là 4 - 6 mg/l hàm lượng BOD trên một số sông ờ Hàn Quốc hiện nay: sông Hàn là mg/l; sông Kum là 1 ,0 mg/l; sông Nakdong là 2,4 mg/'l; sông Youngsan là 2,4 mg/l.

28 Năm 1943, rừng ngập mặn có khoảng 408.500 ha, đến năm 2007, chỉ còn khoảng 160.070 ha (giảm gần 2/3).

Trang 39

loài hoang dã, giống cây trồng, vật nuôi, trong đó có các loài quý hiếm giảm Công tácbảo tồn các nguồn gen bản địa, kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại, quản lý an toànsinh vật biến đổi trên vẫn còn nhiều yếu kém.

Số lượng loài nguy cấp, quý, hiếm bị đe dọa tăng lên Với tình trạng săn bắt, buônbán động, thực vật hoang dã tiếp tục diễn biến như hiện nay, số lượng cá thể của nhiềuloài động, thực vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng sẽ bị giảm nhanh về số lượng Ướctính ở Việt Nam hiện nay chỉ còn khoảng 50 cá thể hổ ngoài tự nhiên Theo dự báo củacác chuyên gia bảo tồn, đến năm 2015 phân loài hổ Đông dương có thể '(biến mất,nhanh hơn bất kỳ phân loài hổ nào khác trên thế giới Tê giác, bò xám, heo vòi, cầy rái

cá, cá trình Nhật, cá lợ thân thấp, hươu sao, cá sấu hoa cà là những loài đã bị tuyệtchủng ngoài thiên nhiên Trong Danh sách đỏ của IUCN năm 1996 liệt kê 25 loài độngvật của Việt Nam ở mức nguy cấp (EN) thì đến năm 2004, con số này đã lên đến 46 loài,

và đến năm 2010 là 47 Trong hệ thực vật, loài lan hài Việt Nam cũng đã tuyệt chủng

ngoài thiên nhiên

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính.

* Về khách quan:

- Trình độ phát triển của đất nước còn thấp, dân số tăng nhanh tạo sức ép lên vấn

đề sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường

- Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài, nằm trong vùng ảnh hưởng của bão từ TháiBình Dương, nhiều khu vực địa hình thấp nên dễ bị tổn thương trước tác động của biếnđổi khí hậu, nhất là nước biển dâng và thiên tai cực đoan…

* Về chủ quan:

- Về nhận thức:

Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ, chính quyền, doanh nghiệp và cộngđồng về công tác này chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, còn thiên về lợi ích kinh tế trướcmắt, chưa coi trọng phát triển bền vững

- Về việc tổ chức thực hiện chủ trương, quan điểm:

+ Một số chủ trương của Đảng chưa được quán triệt và thể chế hoá đầy đủ, kịpthời

+ Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ; một số cơ chế, chính sách chưa sát vớithực tế, thiếu tính khả thi

+ Chất lượng công tác dự báo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịpyêu cầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm

và nguồn lực thực hiện

+ Tổ chức bộ máy, quản lý nhà nước và việc phân công, phân cấp, phối hợpgiữa các bộ, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ

Ngày đăng: 19/09/2013, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

cụ thể, sát thực, phù hợp với tình hình của huyện để thực hiện nghị quyết Đại hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc  - Bài giảng nghị quyết tư7 khóa XI  chính thức
c ụ thể, sát thực, phù hợp với tình hình của huyện để thực hiện nghị quyết Đại hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc (Trang 1)
được hình vị gốc (tiếng gố c) nhưng có quan hệ về âm thì  đều xếp vào lớp từ láy. - Bài giảng nghị quyết tư7 khóa XI  chính thức
c hình vị gốc (tiếng gố c) nhưng có quan hệ về âm thì đều xếp vào lớp từ láy (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w