1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn

74 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 3,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng BìnhĐánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tặng phẩm của tự nhiên ban cho con người, là yếu tố cấu thànhnên lãnh thổ mỗi quốc gia Đất đai có giới hạn về mặt diện tích và được cố định

về mặt không gian Nó không mất đi mà chỉ có thể biến đổi từ dạng này sangdạng khác, từ mục đích này sang mục đích khác theo nhu cầu của con người.Trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, đất đai có vị trí hếtsức quan trọng, là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sinh racủa cải vật chất cho xã hội Sự phát triển của xã hội, dân số tăng nhanh kéo theonhững đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như cácnhu cầu về văn hóa, xã hội đã gây sức ép đến việc sử dụng đất ngày càng lớn.Đây là vấn đề đã, đang và cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa của từng quốc gia,từng địa phương và chính bản thân mỗi người dân Việt Nam đang trong quátrình phát triển và chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

và là một trong năm nước chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nặng nề nhất đãtạo áp lực ngày càng lớn lên việc khai thác và sử dụng đất nông nghiệp Vì vậyviệc sử dụng đất đai hợp lý, bên vững có hiệu quả là một vấn đề hết sức cấpthiết, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp

Quảng Sơn là một xã miền núi cách thị xã Ba Đồn 8km Là một xã thuầnnông, tuy nhiên sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế trongquá trình phát triển cơ sở hạ tầng, phương thức canh tác chưa được chuyên mônhoá, trình độ thâm canh sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, tài nguyên đấtđai và nhân lực chưa được khai thác đầy đủ, thị trường tiêu thụ còn chưa pháttriển Trong những năm gần đây, việc dân số tăng nhanh, tách hộ gia đình ngàycàng phổ biến, quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiệnđại hóa đã làm giảm quỹ đất nông nghiệp của xã, nhu cầu lương thực, thực phẩmlại tăng nhanh tạo ra sức ép lớn đối với đất canh tác Vì vậy, đã đặt ra những vấn

đề cho các nhà quản lý ở địa phương trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất đấtnông nghiệp trên một đơn vị diện tích đất, việc điều tra, nghiên cứu đất đai đểnắm vững số lượng và chất lượng đất, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyếtđịnh về sử dụng và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể đượckhai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sản xuất của nó trong tương lai Xuất phát

từ thực tế đó, được sự đồng ý của khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông

Trang 2

nghiệp cùng sự hướng dẫn thầy giáo Lê Ngọc Đoàn, tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn,

thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Quảng Sơn

- Đánh giá tổng quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp xã Quảng Sơn

- Xác định các loại hình sử dụng đất chính của địa phương

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu sử dụng đất trên địa bàn xã

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá chính xác, khách quan, khoa học và phù hợp với thực tiễn ở điạphương

- Nắm vững kiến thức chuyên ngành và các kiến thức khác có liên quan đến

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp

Điều 42 Luật đất đai năm 1993 quy định: "Đất nông nghiệp là đất được xácđịnh chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi,nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp"

Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam được chialàm sáu loại: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất dân trung cưnông thôn, đất đô thị, đất chưa sử dụng Theo sự phân loại này đất nông nghiệp,đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại đất nằm trong sáu loại đất thuộcvốn đất quốc gia và được định nghĩa theo Điều 42, Điều 43 của Luật đất đai năm

1993 Tuy nhiên, sự phân loại này dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau, vừa căn cứvào mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẩn đến

sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lýgây khó khăn cho công tác quản lý đất đai

Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi chongười sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất Luậtđất đai năm 2003 và kế thừa là Luật đất đai 2013 đã chia đất đai làm 3 loại vớitiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu Trên cơ

sở đó, đất đai được chia theo ba nhóm sau là đất nông nghiệp, đất phi nôngnghiệp và đất chưa sử dụng

Như vậy, theo quy định của Luật đất đai năm 2013 có thể hiểu : “ Đất nôngnghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tưliệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệpnhư trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo

vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp” [4]

Trang 4

2.1.2 Phân loại đất nông nghiệp

Theo quy định tại khoản 1 điều 10 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ vào mụcđích sử dụng, đất nông nghiệp được chia thành các loại chính sau:

- Đất đất trồng cây hằng năm : gồm có đất trồng lúa và đất trồng các câyhằng năm khác

- Đất trồng cây lâu năm

cơ sở ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh [4]

2.1.3 Vai trò của đất đai

2.1.3.1 Vai trò của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp.

- Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồntại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất [2]

- Theo Các Mác: “ Đất đai là tài sản mãi mãi của loài người, là điều kiệncần để tồn tại, là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình sản xuất, là tưliệu sản xuất cơ bản trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp”

- Trong sản xuất nông nghiệp đất đai đóng vai trò vô cùng quan trọng Đấtkhông chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại màcòn là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất Điều này thể hiện ở chỗ đất luônphải chịu sự tác động của quá trình làm đất nhưng cũng đồng thời là công cụ sửdụng để trồng trọt

- Quá trình sản xuất nông nghiệp luôn gắn bó chặt chẽ với đất và các sảnphẩm làm ra được luôn phụ thuộc vào đặc điểm của đất mà cụ thể là độ phìnhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất Yếu tố tích cực của đất tham gia

Trang 5

vào quá trình sản xuất nông nghiệp được thể hiện ở chổ đất cung cấp cho câytrồng nước, không khí, chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng vàphát triển.

- Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất không thể thaythế Ruộng đất bị giới hạn về diện tích, con người không thể tăng theo ý muốnchủ quan nhưng sức sản xuất của đất là chưa có giới hạn [2]

2.1.3.2 Vai trò của đất sản xuất nông nghiệp với nền kinh tế quốc dân

a Cung cấp lương thực thực phẩm nhu cầu xã hội

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việcphát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở nhữngnước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên ở nhữngnước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệpkhông lớn, nhưng khối lượng nông sản cuả các nước này khá lớn và khôngngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩmtối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Lương thực thực phẩm là yếu tố đầutiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh

tế – xã hội của đất nước

Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng caothì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về

số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: sự giatăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người

Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể pháttriển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lươngthực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị vàthiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho cácnhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn

b Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ

Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ởhầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêudùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nôngthôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Pháttriển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăngsức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng,

Trang 6

thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm củanông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới [6].

c Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu

Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Cácloại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hànghóa công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để cóngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản Tuy nhiên xuất khẩunông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướnggiảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéokhoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làmcho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị

Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước [6]

d Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường

Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bềnvững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường

tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoáchất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … làm ô nhiễm đất và nguồnnước Quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi

và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… vì thế trong quá trình phát triển sảnxuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự pháttriển bền vững của môi trường

2.1.4 Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam giai đoạn 2010-2015

Qua thực hiện kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2010 - 2015), ta đạt được kếtquả như sau:

Trang 7

Bảng 2.1 Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam trong

So sánh 2015/2010

Từ bảng số liệu ta thấy, nhìn chung giai đoạn 2010 – 2015 diện tích đấtnông nghiệp có xu hướng gia tăng Năm 2015, diện tích đất nông nghiệp đạt26.791,58 nghìn ha, tăng 565,19 nghìn ha so với năm 2010 (bình quân tăng khoảng113,04 nghìn ha/năm), tuy nhiên mức độ gia tăng của các loại đất là khác nhau Đấtsản xuất nông nghiệp năm 2015 đạt 10.305,44 nghìn ha tăng187,55 ha so với năm

2010 Tuy nhiên, diện tích đất trồng lúa trong giai đoạn này tiếp tục bị suy giảm sovới năm 2010, năm 2015 đất trồng lúa đạt 4.030,75 nghìn ha, giảm 89,43 nghìn hacho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đây là một vấn đề đáng báo động khi

mà dân số ngày càng tăng, nhu cầu lương thực ngày càng lớn

Qua đó chúng ta có thể nhận thấy rằng áp lực về khai thác và sử dụng đấtngày càng lớn Trong giai đoạn hiện nay, việc khai thác đất sao cho đạt hiệu quảcao nhất là vấn đề đang nhận được sự quan tâm của các tổ chức từ Trung ươngxuống địa phương Đây là việc làm cần thiết nhằm đảm bảo sự phát triển không

Trang 8

2.2 Quan điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất

2.2.1 Quan điểm về hiệu quả

Theo Tổ chức Lương thực và Nông Nghiệp Liên hợp Quốc (FAO), nôngnghiệp bền vững bao gồm quản lý hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp ( đấtđai, lao động ) để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người đồng thời giữ gìn

và cải thiện tài nguyên thiên nhiên, môi trường và bảo vệ tài nguyên Hệ thốngnông nghiệp bền vững phải có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về anninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện môi trường tài nguyên cho đờisau [6]

- Tính bền vừng được đánh giá cho một kiếu sử dụng đất nhất định

- Đánh giá cho một đơn vị lập địa cụ thể

- Đánh giá là một hoạt động liên ngành

- Đánh giá cả 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường

- Đánh giá cho một thời gian xác định [6]

2.2.3 Phân loại hiệu quả

2.2.3.1 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạtđược và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạtđược là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phầngiá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần được xem xét cả vềphần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽgiữa hai đại lượng đó

Trang 9

Kinh tế sử dụng đất: Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra mộtkhối lượng của cải vật chất nhiều nhất với lượng đầu tư chi phí về vật chất vàlao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội [3].

Hiệu quả kinh tế là mục tiêu chính của các nông hộ sản xuất nông nghiệp

2.2.3.2 Hiệu quả xã hội.

Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác địnhbằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp, thu nhậpbình quân trên đầu người và bình quân diện tích trên đầu người

2.2.3.3 Hiệu quả môi trường.

Hiệu quả môi truờng là môi trường được sản sinh do tác động của hóa học,sinh học, vật lý, Chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của cácloại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gâynên gồm: Hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường, hiệu quảsinh vật môi trường :

- Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái

do phát sinh biến hóa của các loại yếu tố môi trường dẫn đến

- Hiệu quả hóa học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hóahọc gữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến

- Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫnđến [3]

2.2.4 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệthống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh

có thang bậc

- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính,các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêuchuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bồ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nộidung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn

- Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật vàđúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng sự lựachọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với

Trang 10

- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nôngnghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoạinhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu.

- Phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển [2]

2.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quátrình sản xuất cùa xã hội Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêuchuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT-XH khác nhau.Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưathống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản vàtổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiếtkiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dàicủa hiệu quả [2]

Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thểxem xét ở các mặt sau:

- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thoả mãnnhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra.Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mụctiêu KT-XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi,tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản chothị trường [2]

- Các tiêu chuẩn đó được xem xét với sự ứng dụng lý thuyết sản xuất cơbản theo nguyên tắc tối ưu hoá có ràng buộc Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểuhoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra mộtlượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có mộtlượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên một đơn

vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhấtvới chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất Đó là phản ánh kết quảquá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quátrình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hộivới hiệu quả cao

- Các tiêu chuẩn đó được xem xét với sự ứng dụng lý thuyết sản xuất cơbản theo nguyên tắc tối ưu hoá có ràng buộc Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu

Trang 11

hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra mộtlượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có mộtlượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác.

- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuấtngành nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những ngườisống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quanđiểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:

a Bền vững về mặt kinh tế

Hệ thống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao phát triển ổn định, được thịtrường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung,chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm

b Bảo vệ về môi trường: loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao phải bảo vệ

độ phì của đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường tự nhiên

c Bền vững về mặt xã hội : thu hút nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng

thu nhập, tăng năng suất, bảo đảm đời sống xã hội

- Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trongcung cấp tư liệu, sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả [2]

Trang 12

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ quỹ đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Quảng Sơn, thị xã BaĐồn, tỉnh Quảng Bình

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn,tỉnh Quảng Bình

- Hiệu quả sản xuất nông nghiệp về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường

- Đề xuất định hướng các giải pháp sử dụng đất bền vững

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Phạm vi không gian

- Đề tài thực hiện trên địa bàn xã Quảng Sơn

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất đi sâu vào đánh giá hiệu quả kinh tế cònhiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu định tính đểđánh giá

3.3.2 Phạm vi thời gian

- Đề tài thực hiện từ ngày 01/01/2015 – 01/5/2016

- Phạm vi số liệu thu thập từ năm 2010 đến 2015

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu, tài liệu.

3.4.1.1 Số liệu thứ cấp

Thông tin, số liệu được thu thập được từ các công trình khoa học và cácnghiên cứu liên quan đến tình hình sử dụng đất của thị xã Ba Đồn, tỉnh QuảngBình, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng: Internet, báo chí, tạpchí,…

- Các số liệu tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

- Tình hình quản lý đất nông nghiệp, phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng,các công trình đề tài có liên quan

- Các loại bản đồ của khu vực nghiên cứu

Trang 13

- Số liệu thống kê, kiểm kê hằng năm hoặc định kỳ.

3.4.1.2 Số liệu sơ cấp

Là số liệu chưa được công bố, được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấncác nông hộ bằng cách sử dụng các bảng câu hỏi, để điều tra ngẫu nhiên một sốnông hộ nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan, chính xác

3.4.2 Phương pháp kế thừa.

Đây là phương pháp mà trong quá trình nghiên cứu đã kế thừa các phươngpháp, các số liệu có sẵn để làm tài liệu tham khảo

3.4.2.1 Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế.

a Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ

được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

b.Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường

xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ

sử dụng trong quá trình sản xuất Bao gồm các chi phí về giống cây trồng, vậtnuôi, phân bón và chi phí cho các dịch vụ nông nghiệp khác

c Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian

(IC), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

VA = GO – IC

- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất

Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng CPTG, bao gồm: GO/IC, VA/IC, đây làchỉ tiêu tương đối hiệu quả Nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi vàthu dịch vụ

+ GO/IC: cho biết cứ một đồng chi phí vật chất và dịch vụ mà nông hộ

bỏ ra để sản xuất thu được bao nhiêu đồng doanh thu Hiệu suất này càng lớnphản ánh sản xuất càng có hiệu quả

+ VA/IC: cho biết cứ một đồng chi phí vật chất và dịch vụ mà nông hộ bỏ

ra để sản xuất thu được bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm

+ VA/GO: cho biết trong một đồng giá trị sản xuất thu được có bao nhiêuđồng giá trị tăng thêm

- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi bao gồm:GO/LĐ và VA/LĐ VA/LĐ chính là phản ánh giá trị ngày công lao động, nó biểuhiện một ngày một người lao động nhận được một khoản tiền công là bao nhiêu

Trang 14

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiềntheo giá trị hiện hành Các chỉ tiêu đạt được càng cao thì hiệu quả kinh tế đạtđược càng cao.

+ Hệ số sử dụng đất: là chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng đất canh tác haycho biết mức độ quay vòng đất canh tác trong năm, được tính như sau:

Tổng diện tích đất gieo trồng cây hàng năm

Hệ số sử dụng đất (lần) =

Tổng diện tích đất canh tác hàng năm

Diện tích gieo trồng là tổng diện tích đất trồng cây hàng năm của một đơn

vị sản xuất (hộ gia đình, doanh nghiệp ), của một địa phương (thôn, xã, huyện,tỉnh) hay cả nước Nó được tính bằng tổng số diện tích của các lần gieo trồngkhác nhau

3.4.2.2 Các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội.

Bao gồm các chỉ tiêu:

a Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người

b Thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm

c Thu nhập bình quân trên đầu người ở nông thôn

d Đảm bảo an toàn lương thưc và gia tăng lợi ích cho người dân

e Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội

3.4.2.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường

a Giảm thiểu xói mòn, thoái hoá đất đến mức chấp nhận được

b Bảo vệ nguồn nước

c Nâng cao đa dạng sinh học của hệ sinh thái tự nhiên

d.Tăng độ che phủ đất

Diện tích đất trồng cây lâu năm

+ Diện tích đất lâm nghiệp có rừng

+ Độ che phủ (%) =

Diện tích đất tự nhiên

3.4.3 Phương pháp phân tích xử lý số liệu.

Đây là phương pháp dùng để xử lý các số liệu thô đã thu thập được, từ đóthiết kế các bảng biểu so sánh, các biến động

3.4.4 Phương pháp phân tích so sánh

Thông qua các bảng biểu, biểu đồ, ta đưa ra các nhận xét, phân tích sự biếnđộng của các vùng nghiên cứu

Trang 15

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Hình 4.1 Bản đồ vị trí xã Quảng Sơn

Quảng Sơn là một xã miền nằm về phía Tây Nam của thị xã Ba Đồn, cáchthị xã Ba Đồn khoảng 7 km Với tổng diện tích tự nhiên là 5373,09 ha, chiếm8,82 diện tích tự nhiên của thị xã Ba Đồn, có vị trí tiếp giáp với các xã như sau:Phía Đông giáp xã Quảng Hoà và xã Quảng Minh; phía Nam giáp xã XuânTrạch và xã Lâm Trạch (thuộc huyện Bố Trạch); phía Tây giáp xã Cao Quảng và

xã Văn Hoá (thuộc huyện Tuyên Hoá); phía Bắc giáp xã Quảng Thuỷ, QuảngTiên và Quảng Trung

Trên địa bàn xã có 8 thôn, bao gồm: Tân Sơn, Linh Cận Sơn, Hà Sơn,Trung Thượng, Minh Sơn, Bắc Sơn, Diên Trường, Thọ Hạ

Trang 16

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Xã Quảng Sơn là xã miền núi có địa hình khá phức tạp, có 93,40 % là đấtnông nghiệp, đất phi nông nghiệp chiếm 6,26 % và đất chưa sử dụng 0,46 %.Phần lớn diện tích là đồi núi và một phần nhỏ là đồng bằng ven sông Nan là nơitập trung của các khu dân cư của xã Địa bàn xã có độ cao trung bình từ 5m –350m so với mức nước biển, địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Địa hình xãnhiều núi cao, sông sâu với nhiều khe suối chia cắt cộng với sông Rào Nan chiađịa hình thành hai phần trong khi đó chưa có cây cầu nào nối hai bờ để phục vụdân sinh dẫn tới việc đi lại khó khăn giữa các thôn xóm trong xã, đặc biệt làtrong mùa mưa lũ, đây là một khó khăn đối với địa phương

4.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn

Quảng Sơn là vùng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Hằngnăm, nhiệt độ trung bình ở xã Quảng Sơn khoảng 23,40C, lượng mưa trung bình

từ 1.680 – 1.700mm Thời tiết ở xã Quảng Sơn chia thành hai mùa: Mùa nóng là

từ tháng 4 đến tháng 10 dương lịch, nhiệt độ thường trên 250C Khi có gió mùaTây Nam (gió Lào) tràn vào đem theo khí nóng và khô làm cho nhiệt độ tăngnhanh, có khi lên tới trên 400C Mùa lạnh thường kéo dài từ tháng 11 năm trước

đến trước tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình của mùa lạnh từ 16 – 180C, khithấp nhất khoảng 5 – 70C Mùa đông thường có mây mù, mưa dầm và gió mùaĐông Bắc ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt của nhân dân và quá trìnhsản xuất nông nghiệp

4.1.1.4 Tài nguyên đất.

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 5373,09ha, trong đó: Đất nôngnghiệp chiếm 93,40 %; đất phi nông nghiệp chiếm 6,26 %; đất chưa sử dụngchiếm 0,46 % Phần lớn diện tích là đồi núi và một phần nhỏ là đồng bằng vensông - Nan là nơi tập trung của các khu dân cư của xã

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Trong năm 2015 với nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên và các chủtrương chính sách phát triển của các cơ quan chính quyền, kinh tế xã đã có nhiều

sự tiến bộ so với năm 2014 Cụ thể :

- Tổng thu nhập toàn xã 149.731.288.800 đồng đạt 121% kế hoạch

Trang 17

- Tổng sản lượng lương thực 2.895.92 tấn (trong đó tổng sản lượng lúa2.382.9 tấn), đạt 101% kế hoạch tăng 352.42 tấn so với năm 2014, bình quânđầu người 365 kg/người/năm.

- Về chăn nuôi: Tổng đàn trâu, bò có 1208con (trong đó trâu có 313 con,

bò có 895 con) đạt 101% kế hoạch, tăng 77 con so với năm 2014; đàn lợn có

4252 con đạt 96,2% kế hoạch tăng 90 con so với năm 2014; đàn dê có 105 conđạt 105% kế hoạch tăng 23 con so với năm 2014; đàn gia cầm có 10570 con đạt

104 % kế hoạch tăng 608 con so với năm 2014

- Về nuôi trồng thuỷ sản: Tổng sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sảnkhoảng 42 tấn trong đó sản lượng nuôi trồng 24 tấn và đánh bắt tự nhiên 18 tấn

4.1.2.2 Dân số và lao động.

Toàn xã có 1.587 hộ với 7.758 nhân khẩu (Nam: 3.686; Nữ: 3.872); lao độngtrong độ tuổi: 3.201 người; trong đó: lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ 91%, lao độngcông nghiệp chiếm tỷ lệ: 6%, lao động dịch vụ chiếm tỷ lệ 3% trong tổng số lao độngcủa xã Là xã có người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ 75%, đây là một trongnhững thuận lợi quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

4.1.2.3 Văn hóa – giáo dục

a Văn hóa :

Các sinh hoạt văn hóa, lễ hội, trò chơi dân gian ở xã Quảng Sơn rất phong phú và

đa dạng: Hằng năm vào dịp mồng 2/9, trên sông Rào Nan của Quảng Sơn luôn

có các hoạt động bơi thuyền truyền thống Khi Tết đến xuân về bà con, cô bác, anh

em, họ hàng đi chúc tết lẫn nhau và diễn ra nhiều lễ hội, các trò chơi dân gian Các trò

Trang 18

thu hút đông đảo bà con tham gia Các loại hình nghệ thuật ở Quảng Sơn cũng khá phổbiến Xuân đến tiếng hát rộn ràng trong thôn, nhân dân hát mừng xuân, hát mừng lễhội Hệ thống văn hoá xã bao gồm: xã có 8 thôn và các thôn đều có nhà văn hoáriêng, trong đó có 4 thôn đạt thôn văn hóa Xã có 3 sân vận động vừa là để luỵêntập thể dục thể thao, cũng vừa để tổ chức giao lưu, hội diễn văn nghệ cho toàn xãvào những dịp lễ Tết Xã cũng có một hệ thống đường truyền thanh, thông tin tuyêntruyền tới tận từng thôn.

b Giáo dục

Cả xã có 3 cấp trường học với 5 điểm trường học, đáp ứng được nhu cầu đihọc của các em tại xã (Trường mẫu giáo – với 322 cháu, Trường tiểu học có 226học sinh , trường trung học cơ sở có 427 học sinh) Chất lượng giảng dạy, học tậpcũng được tăng lên Đến nay tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100% Phong trào xâydựng đời sống sống văn hóa ở khu dân cư được đẩy mạnh, chất lượng từng bướcđược nâng lên

4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội của xã Quảng Sơn

4.1.3.1 Thuận lợi

- Được sự ưu đãi của tự nhiên, xã Quảng Sơn có quỹ đất nông nghiệp khá

lớn, chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất lâm nghiệp với

nhiều diện tích rừng trồng, đất đai màu mỡ, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, hệ

động thực vật rất phong phú Nếu biết kết hợp những ưu đãi này với nguồn tàinguyên nhân văn dồi dào của xã nhất định Quảng Sơn sẽ phát triển xứng tầm với

sự đầu tư và mong đợi của của các ban ngành địa phương và của thị nhà

- Có nhiều hồ, đập cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất Hệ thống kênhmương thủy lợi đã được bê tông hóa một số tuyến

- Là xã có thời tiết ôn hòa nên rất thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp với đa dạng cây trồng và vật nuôi

- Địa hình của xã thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp

- Nền kinh tế mặc dù còn là kinh tế thuần nông nhưng những năm gần đây

đã có bước phát triển khả thi

- Nguồn lao động dồi dào, ngày càng được cải thiện rõ rệt

Nếu biết kết hợp những ưu đãi của tự nhiên với nguồn tài nguyên nhân văndồi dào của xã nhất định Quảng Sơn sẽ phát triển xứng tầm với sự đầu tư vàmong đợi của của các ban ngành địa phương và của tỉnh nhà

Trang 19

4.1.3.2 Khó khăn

Vốn là một xã miền núi nên Quảng Sơn vẫn còn gặp nhiều khó khăn như:

- Sự khắc nghiệt của thiên nhiên, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên

- Trình độ người dân còn thấp

- Kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn yếu và thiếu, đời sốngnhân dân còn khó khăn

4.2 Hiện trạng sử dụng đất ở Thị xã Ba Đồn

Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất của Thị xã Ba Đồn năm 2015

STT Mục đích sử dụng đất Mã Diệntích năm 2015 (ha)

(Nguồn: Thống kê, kiểm kê đất đai năm 2015 của Thị xã Ba Đồn)

Theo số liệu thống kê của phòng thống kê Thị xã Ba Đồn năm 2015 thìtổng diện tích đất tự nhiên của Thị xã Ba Đồn là 16.230,11 ha.Trong đó, đấtchưa sử dụng và sông suối, núi đá chiếm 682,09 ha (bằng 4,20% diện tích tựnhiên của thị xã) và diện tích đất đã sử dụng là 15.548,02 ha (chiếm 95,8% diệntích đất tự nhiên của thị xã) Với diện tích đất nông nghiệp là 11.347,50 hachiếm 62,92 % diện tích đất tự nhiên của toàn thị xã, thì diện tích đất sản xuấtnông nghiệp là 4.384,67 ha chiếm 38,64 % diện tích đất nông nghiệp, giảm 4,2

ha so với năm 2014 nguyên nhân giảm diện tích là do các quyết định thu hồi đất

để làm quy hoạch khu dân cư nông thôn, diện tích đất lâm nghiệp chiếm phầnlớn là 6.496,32 havới 57,24 % và đất nuôi trồng thủy sản là 466,59 ha chiếm4,11 % diện tích đất nông nghiệp Còn lại là đất phi nông nghiệp 4200.52 ha,chiếm 25,88 % diện tích tự nhiên của toàn thị xã

Thuận lợi với diện tích đất nông nghiệp chiếm phần lớn trong quỹ đất tựnhiên và với sự đa dạng của các loại đất đã cho phép toàn thị xã phát triển một nềnnông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng cho nhiều sản phẩm khác nhau

Trang 20

4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại xã Quảng Sơn

4.3.1 Tình hình sử dụng đất của xã Quảng Sơn

Theo số liệu thống kê thực trạng sử sử dụng đất của xã Quảng Sơn năm

2015, tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là 5373,09 ha Trong đó:

- Diện tích đất nông nghiệp : 5018,66 ha chiếm 93,40 %

- Diện tích đất phi nông nghiệp : 336,13 ha chiếm 6,26 %

- Diện tích đất chưa sử dụng : 18,30 ha chiếm 0,34 %

Theo số liệu thống kê, ta thấy diện tích đất nông nghiệp của toàn xã chiếm

tỷ trọng nhiều nhất, tiếp đến là đất phi nông nghiệp và chiếm tỷ trọng bé nhất làđất chưa sử dụng với 18,30 ha, bao gồm đất bằng chưa sử dụng là 12,52 ha, đấtđồi núi chưa sử dụng là 5,78 ha, với diện tích chưa sử dụng trên xã cần đưa racác biện pháp để sớm được khai thác và sử dụng

4.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Quảng Sơn

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Quảng Sơn năm 2015

Trang 21

Theo số liệu của kết quả kiểm kê đất đai đến ngày 31/12/2015, tổng diệntích đất nông nghiệp của toàn xã là 5018,66 chiếm 93,40 % diện tích đất tựnhiên của xã

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã Quảng Sơn

Trang 22

Theo biểu đồ 4.1 và bảng biểu 4.2, ta thấy :

- Đất sản xuất nông nghiệp: chiếm 8,22 % trong tổng số diện tích đất tựnhiên của toàn xã và chiếm 8,81 % diện tích đất nông nghiệp của toàn xã Trong

đó, diện tích đất trồng lúa chiếm tỷ trọng cao nhất, tiếp đến là diện tích đất trồngcây lâu năm và cuối cùng là diện tích trồng cây hằng năm khác

- Đất lâm nghiệp: là xã miền núi, địa hình khá phức tạp cho nên diện tíchđất lâm nghiệp nhiều, chiếm 84,61 % tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã vàchiếm 90,59 % diện tích đất nông nghiệp của toàn xã Trong đó, diện tích đấtrừng sản xuất chiếm tỷ trong cao nhất là 69,85% đất lâm nghiệp của toàn xã, cònlại là đất rừng phòng hộ

- Đất nuôi trồng thuỷ sản: chiếm tỷ trọng nhỏ trong quỹ đất nông nghiệpcủa xã với 0,26 % diện tích đất nông nghiệp của toàn xã

4.3.3 Biến động diện tích đất đai nông nghiệp tại xã Quảng Sơn

Bảng 4.3 Biến động diện tích đất nông nghiệp của xã giai đoạn 2010-2015

Mục đích sử dụng Mã

Diện tích năm 2015 (ha)

Diện tích năm 2010 (ha)

So sánh tăng (+), Giảm (-) (ha)

1.2.1 Đất rừng sản xuất RSX 3175,75 2988,76 +186,991.2.2 Đất rừng phòng hộ RPH 1370,48 1709,36 -338,88

(Nguồn : Số liệu thống kê, kiểm kê đất đất năm 2015)

Trang 23

Số liệu bảng 4.3 cho thấy diện tích đất nông nghiệp của xã Quảng Sơn giaiđoạn 2010- 2015 có nhiều biến động, cụ thể:

Về tổng diện tích đất nông nghiệp của xã theo báo cáo của kết quả kiểm kê năm 2015 là 5018,66 ha tăng 67,38 ha so với năm 2010

Trong đó:

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng cao nhất, tăng 193,12ha so vớinăm 2010, bao gồm đất trồng cây hằng năm tăng 61,45 ha, đất trồng cây lâunăm tăng đến 131,67 ha Nguyên nhân của việc tăng cao này là do kỳ kiểm kê

2010 đã thống kê tổng diện tích tự nhiên của xã chưa đúng với hồ sơ địa giớihành chính, thống kê các loại đất và diện tích đất chưa chi tiết và phù hợp vớihiện trạng ngoài thực địa

- Diện tích đất lâm nghiệp lại giảm mạnh, giảm 151,89 ha so với năm 2010.Trong đó, diện tích giảm tập trung vào đất rừng phòng hộ Nguyên nhân là doviệc thống kê các loại đất nông nghiệp trong kỳ kiểm kê trước thực hiện chưaphù hợp với hiện trạng sử dụng đất, trong kỳ kiểm kê hiện tại, đất lâm nghiệp đãđược tổng hợp chi tiết và phù hợp với quy định kỹ thuật hiện hành theo dự án đođạc và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai địa bàn toàn tỉnh

- Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản tăng 9,13 ha so với năm 2010

- Diện tích đất nông nghiệp khác tăng 17,02 ha do việc xác định lại loại đấtnông nghiệp phù hợp hơn với tình hình sử dụng thực tế

4.4 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã

4.4.1 Diện tích một số cây trồng chính của xã

Là một xã vùng miền núi, đời sống nhân dân còn thấp, kỹ thuật canh tácmới chỉ là kinh nghiệm, chưa áp dụng được tiến bộ của khoa học kỹ thuật, dovậy cây trồng hàng năm vẫn là cây lúa trồng chiếm diện tích lớn của các hộ dânnơi đây Nhìn chung trong giai đoạn 2013 - 2015, diện tích gieo trồng cây hàngnăm có xu hướng tăng

Trang 24

Bảng 4.4 Diện tích một số cây trồng chính của xã Quảng Sơn giai đoạn

(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội xã Quảng Sơn các năm 2013, 2014,2015)

Đáng quan tâm nhất vẫn là diện tích cây lúa, chiếm một vị trí hàng đầutrong cơ cấu diện tích gieo trồng của các hộ Mặc dù hệ thống thuỷ lợi phục vụcho tưới tiêu chưa thực sự phát triển nhưng nhờ biết tận dụng nguồn nước đầunguồn nên trong những năm qua, diện tích trồng lúa luôn ổn định và có xuhướng tăng nhẹ, cây lúa chủ yếu là lúa 2 vụ Diện tích trồng ngô và lạc có tăngtrong giai đoạn 2013-2015 Ngoài ra, cây khoai cũng được người dân ở đâytrồng với diện tích khá nhiều, tuy nhiên qua ba năm diện tích cây Khoai đang có

Lúa chung, năm 2013 diện tích đạt 411,3 ha, năm 2015 tăng lên 444,96 ha,tăng 8,18% so với năm 2013 Diện tích gieo trồng tăng, đặc biệt là sự gia tăng vềnăng suất đã góp phần gia tăng sản lượng lúa qua các năm Năng suất lúa năm

2015 đạt 5,28 tấn/ha, tăng 1,5% so với năm 2013 Đạt được kết quả như vậy,ngoài nguyên nhân khách quan là do thời tiết thuận lợi, sâu bệnh ít, sự hỗ trợgiống vật tư của các chương trình dự án, nguyên nhân chủ quan chủ yếu là cấp

uỷ Đảng và chính quyền các cấp, các đoàn thể, các đơn vị trong ngành nôngnghiệp đã tích cực vận động nhân dân gieo cấy đúng thời vụ, đầu tư thâm canh

và sử dụng giống lúa phù hợp

Bảng 4.5 Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng hàng năm của xã

Quảng Sơn giai đoạn 2013 – 2015

Trang 25

SL (Tấn)

DT (ha)

NS (Tấn/ha)

SL (tấn)

DT (ha)

NS (Tấn/ha)

SL (Tấn) Lúa 411,30 5,20 2138,76 411,27 5,270 2167,4 444,96 5,28 2349,38 Ngô 26,00 6,50 169,00 28,00 7,00 196,00 34,00 7,00 238,00 Lạc 10,00 1,50 20,00 11,00 2,00 22,0 13,50 2,00 27,00 Khoai 5,00 11,0 60,0 4,50 1,20 54,0 40,00 12,00 48,00

(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội xã Quảng Sơn các năm 2013, 2014,2015)

Cây ngô là cây trồng đã có truyền thống trên địa bàn xã, góp phần đáng kểtrong việc đảm bảo an ninh lương thực cho cư dân địa phương Với việc đưagiống ngô HN888, VN10 vào trồng thay thế cho các giống ngô địa phương năngsuất thấp mạng lại hiệu quả kinh tế khá cao cho người dân nơi đây Năm 2015,diện tích trồng ngô đạt 34ha, tăng 30,7% so với năm 2013, việc diện tích vànăng suất tăng dẫn tới sản lượng tăng lên 40,82% so với năm 2013 Cây lạc vàkhoai chủ yếu được canh tác trên đất màu, ven sông do vậy diện tích cũng có sựbiến động qua các năm nhất là khi có bão lũ xảy ra

Trong khi diện tích cây lạc tăng thì cây khoai lại có xu hướng giảm, nguyênnhân theo điều tra các nông hộ thì là do các giống khoai đã bị thái hóa, việctrồng khoai không mang lại kinh tế cao như các cây trồng khác cho nên một sốdiện tích trồng khoai được chuyển qua trồng lạc, trồng ngô

Nhìn chung kết quả sản xuất của các cây trồng hàng năm của xã khá cao.Trong thời gian tới để nâng cao năng suất, sản lượng các cây trồng của xã hơnnữa cần vận động bà con nông dân tiếp tục đầu tư thâm canh, áp dụng các biệnpháp KHKT vào sản xuất đồng thời phải thực hiện đúng lịch thời vụ Bên cạnh

đó, cần có kế hoạch hỗ trợ giống cây trồng và phân bón giúp bà con tận dụng tối

đa số diện tích hiện có, đảm bảo khai thác có hiệu quả số diện tích này

Bảng 4.6 Cơ cấu cây trồng chính của xã Quảng Sơn

Trang 26

Loại hỡnh sử dụng đất Phương thức canh tỏc chớnh

Cõy lỳa

- Chuyờn canh :+ Lỳa đụng xuõn+ Lỳa hố thu

- Xen canh Khoai lang- NgụCõy khoai lang - Chuyờn canh

- Xen canh Ngụ- Khoai lang

- Xen canh Ngụ-Lạc

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)

Với loại hỡnh sử dụng đất trồng lỳa, được trồng với hai vụ chớnh là vụ ĐụngXuõn và vụ Hố Thu, với việc Quảng Sơn là xó đầu nguồn nước thủy lợi nờn diệntớch đất trồng lỳa gần như là 100%

Đối với cõy ngụ, khoai lang, lạc thường được người dõn canh tỏc dưới hỡnhthức chuyờn canh và xen canh giữa hai loại với nhau Việc xen canh này khụngnhững mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa cú thể giỳp cho đất khụng bị nghốo chấtdinh dưỡng mà cũn bổ sung dinh dưỡng cho đất

4.4.4 Tỡnh hỡnh sản xuất ngành chăn nuụi.

Tổng đàn trõu, bũ cú 1208 con (trong đú trõu cú 313 con, bũ cú 895 con)đạt 101% kế hoạch, tăng 77 con so với năm 2014; đàn lợn cú 4252 con đạt96,2% kế hoạch tăng 90 con so với năm 2014; đàn dờ cú 105 con đạt 105% kếhoạch tăng 23 con so với năm 2014; đàn gia cầm cú 10570 con đạt 104 % kếhoạch tăng 608 con so với năm 2014

4.4.5 Tỡnh hỡnh sản xuất lõm nghiệp

Tổng diện tích đất sản xuất lâm nghiệp 4830,4 ha, trong

đó đất rừng sản xuất 3798 ha, đất rừng phòng hộ 1032,4 ha Tổng thu nhập về lâm nghiệp 6.791.000.000đ, trong đóthu nhận từ rừng tràm và bạch đàn 4.971.000.000đ, rừngthông nhựa 2.000.000.000đ

UBND xã đã lập hồ sơ xin chuyển đổi mục đích sử dụng

đất rừng thông cho 24 hộ với diện tích 133,4 ha, xin cấp phépkhai thác nhựa thông cho 90 hộ với diện tích 340,05 ha, vớitổng diện tích cần khai thác và chuyển đổi 473,45 ha

Trang 27

Thường xuyên phối hợp với trạm Kiểm lâm, trạm Lâm trường tích cựckiểm tra và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm lâm luật, đẩy mạnh công táctuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh của xã và các thôn nên năm 2015mặc dù nắng nóng kéo dài nhưng không có xảy ra cháy rừng lớn gây thiệt hạinghiệm trọng về rừng.

4.4.6 Tình hình sản xuất thủy sản

Diện tích ao hồ là 13,6ha, trong đó diện tích nuôi trồng thực tế là 4ha, sốlượng các loại con giống của các bà con đăng ký mua theo chính sách hỗ trợ củatỉnh 1500 con Sản lượng ước tính nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản tháng đạt 42tấn ( trong đó đánh bắt 18 tấn và nuôi trồng là 24 tấn )

4.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đât sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra

4.5.1 Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra

Qua tìm hiểu và trao đổi với một số cán bộ của các ban ngành địa phương,tôi đã chọn điều tra 4 thôn: Trung Thượng, Linh Cận Sơn, Hà Sơn và Thọ Hạ.Trong đó, cứ hai thôn có cùng đặc điểm giống nhau và được xếp thành một khuvực để thực hiện sự so sánh, đó là những thôn đại diện tiêu biểu cho xã về điềukiện tự nhiên và các mặt kinh tế - xã hội

- Trung Thượng và Linh Cận Sơn là hai thôn nằm dọc đường liên xã, liênhuyện, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi, các thôn có tổng diện tích đất nôngnghiệp tương đối lớn, hệ thống thủy lợi được ưu tiên đầu tiên trong xã Tuynhiên đa số diện tích đất ở đây đều trồng lúa, riêng Linh Cận Sơn còn có một ítdiện tích trồng khoai Dân cư của hai thôn làm nông nghiệp là chủ yếu, tuy vậytrong thôn còn làm nhiều ngành nghề khác : cơ khí, xây dựng, hàn xì, dịch vụ

- Thôn Hà Sơn và Thọ Hạ có vị trí địa lý rất phức tạp, hai thôn nằm rải rácgiáp với con sông Nan, riêng thôn Hà Sơn nằm cách biệt một bên sông, điềukiện sống rất khó khăn do phải đi lại bằng đò Hai thôn có tổng diện tích đấtnông nghiệp tương đối lớn, trong đó bao gồm cả đất phù sa do sông bù đắp, rấtthuận lợi để trồng các cây Ngô, Lạc Dân cư của hai thôn này làm nông nghiệp

là chính, có tính cần cù, chịu khó

4.5.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất trồng lúa

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, chi phí đầu tư là một trong nhữngyếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh tế Trong chi phí sản xuất, chiphí cho các loại giống cây trồng chủ yếu là giống, phân bón, thuốc BVTV, cônglao động và chi phí cho các dịch vụ khác Tùy thuộc vào từng loại loại đất, loại

Trang 28

cây trồng và phương thức canh tác mà mức độ đầu tư của người dân khác nhau.Trong đó chi phí công lao động như chăm sóc, phơi sấy chủ yếu là công laođộng của hộ gia đình, còn công thuê ngoài chủ yếu là cày bừa, thu hoạch nhất làđối với đất lúa Giá một ngày công lao động tại địa phương bình quân khoảng

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Đối với cây lúa, chi phí cho giống là khá lớn, đa số giống là mua ngoài vớicác giống lúa địa phương lâu năm, đến năm 2014, 2015 đã cải tiến giống năngsuất hơn đó là các giống PC5, PC6, HT1, GL105 Chi phí cho giống bình quâncủa các hộ là 1929,59 ngàn đồng/ha, qua các năm chi phí giống có sự tăng độtbiến, cụ thể năm 2013 là 1610,2 ngàn đồng/ha thì năm 2015 là 2228,5 ngànđồng/ha, nguyên nhân là do các năm trước các hộ có sử dụng giống nhà, tuynhiên thì theo thời gian giống nhà thường bị thái hóa, cho năng suất thấp vì vậycác năm tiếp theo các hộ thường đăng ký giống tại xã Chi phí cho phân bón vô

cơ bình quân/ ha của các hộ dân cho ruộng lúa khá cao, đạt 4771,20 ngànđồng/ha, riêng phân bón hữu cơ trung bình mỗi mùa các hộ đầu tư khoảng52,3tạ/ha, phân chuồng tập trung nhiều ở các thôn Hà Sơn, Thọ Hạ, Linh CậnSơn do các thôn này chăn nuôi gia súc gia cầm nhiều Lúa cũng là loại cây trồngthường xuyên phải đầu tư thuốc BVTV, tuy nhiên thì chi phí mà các nông hộ bỏ

ra chỉ đạt 260,00 ngàn đồng/ha Khoản chi phí bằng tiền mà nông hộ bỏ ra đểthuê dịch vụ máy móc là khá lớn, chủ yếu chi phí cho khâu làm đất và thu hoạch

vì trong những năm gần đây thì máy cày, máy cắt lúa ngày càng hiện đại nên cácnông hộ thường thuê để làm đất và thu hoạch, chi phí bình quân/ha rơi vàokhoảng 6133,33 ngàn đồng Trong các giai đoạn làm đất, gieo cấy, chăm sóc thìchi phí đó đều là công của gia đình, tuy nhiên nếu quy đổi công gia đình thành

Trang 29

tiền cũng khá cao, bình quân/ha là 10946,67ngàn đồng Trong cơ cấu mùa vụ,lúa Đông Xuân luôn là vụ mùa mang lại năng suất cao hơn Chi phí cao nhất đó

là công gia đình tự bỏ ra, do vậy việc làm nông ở xã thường lấy công làm lãi

Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa tại xã Quảng

Sơn của các hộ điều tra

(ĐVT : ngàn đồng/ha)

1 Giá trị sản xuất (GO) 23490 26609 31140 27079,60

2 Tổng chi phí sản xuất 22679 24260 25183,30 24040,80

4 Chi phí trung gian (IC) 11927,01 13116,00 14239,37 13094,13

5 Giá trị gia tăng (VA) 11562,99 13493 16900,63 13985,54

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Qua bảng 4.9, do điều kiện khí hậu thời tiết và tình hình sâu bệnh hại giữacác năm rất phức tạp khác nhau nên năng suất lúa có sự thay đối đáng kể, năngsuất lúa bình quân năm 2013 là 46,98 tạ/ha thấp hơn so với năm 2015 là 51,90tạ/ha Giá trị sản xuất cây lúa qua các năm của xã Quảng Sơn đều tăng, năm

2015 giá trị sản xuất đạt 31.140 ngàn đồng, tăng 32,56% so với năm 2013, mặc

dù chi phí trung gian đạt mức cao nhất nhưng với giá trị sản xuất đạt được caohơn hẳn so với hai năm trước nên giá trị gia tăng năm 2015 đạt được 16.900,63ngàn đồng, cao gấp 1,46 lần so với năm 2013 và gấp 1,25 lần so với năm 2014.Việc năm 2013 giá trị gia tăng thấp như vậy là do công lao động gia đình bỏ ranhiều và sâu bệnh hại phức tạp hơn hơn so với hai năm sau đó Theo điều tracho thấy, năng suất cây lúa ở xã Quảng Sơn vẫn còn tương đối thấp so với kìvọng của người dân

So sánh và hiệu quả sử dụng đất trồng trồng lúa phân theo khu vực

Trang 30

Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng trồng lúa phân theo khu vực

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Cây lúa có năng suất cao hơn khi trồng ở khu vực 2, nguyên nhân là do khuvực 2 có nhiều điều kiện thuận lợi cho cây lúa phát triển như gần nguồn nước,đất đai bằng phẳng, đất tốt,…, bên cạnh đó, còn do sự đầu tư của các hộ là khácao, đặc biệt là về phân bón, chỉ số đầu tư giữa hai khu vực có sự chênh lệchkhông đáng kể, mặc dù giữa hai khu vực có sự khác nhau về điều kiện cơ bản.Chi phí về phân bón có sự chênh rõ rệt, khu vực 1 có lượng phân bón hữu cơ sẵnnhiều nên đã giảm lượng bón phân vô cơ, nguyên nhân là do khu vực 1 chănnuôi gia súc (trâu, bò,… ) nhiều, vì vậy làm cho lợi nhuận khu vực 1 là 8520,00ngàn đồng/ha cao hơn khu vực 2 là 8332,96 ngàn đồng/ha, mặc dù năng suất caohơn khu vực 1, nhưng do chi phí đầu tư cao hơn vì vậy mà giá trị gia tăng củahai vùng gần như không lệch nhau, khu vực 1 là 18493,33 ngàn đồng/ha còn khuvực 2 là 17977,41 ngàn đồng/ha Bình quân cứ 1 đồng chi phí trung gian bỏ rakhu vực 1 thu được 3,13 đồng giá trị sản xuất và 2,13 đồng giá trị gia tăng còn

ở khu vực 2 lần lượt là 3,14 đồng và 2,14 đồng Vì vậy, nhìn chung trồng lúa ởhai khu vực đều cho hiệu quả kinh tế cao

4.5.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất trồng Ngô

Sau lúa, cây ngô là loại cây được trồng phổ biến thứ hai tại xã Cây ngô đã

có truyền thống trên địa bàn xã, góp phần đáng kể trong việc đảm bảo an ninhlương thực cho cư dân địa phương Với việc đưa giống ngô HN888,VN10 vàotrồng thay thế cho các giống ngô địa phương năng suất thấp đã mạng lại hiệuquả kinh tế khá cao cho người dân nơi đây

Trang 31

Ngô được trồng chủ yếu ở các thôn Hà Sơn và Thọ Hạ, do hai thôn nàynằm hai bên con sôn Nan, hằng năm được bồi tụ đất phù sa rất nhiều, thuận lợicho cây Ngô phát triển.

Bảng 4.11 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất cho đất trồng

Ngô của các hộ điều tra

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Ta thấy cây ngô được các nông hộ chú trọng đầu tư, nguyên nhân: diện tíchtrồng ngô tương đối lớn, ngoài đất ruộng, ngô cũng trồng được trên đất vườn, đấtnương, ngô còn là cây trồng tương đối dễ Chi phí cao nhất vẫn là công lao động

do gia đình bỏ ra Chi phí giống bình quân đạt 1366,67 ngàn đồng/ha Giống ngôhoàn toàn là giống mua ngoài Ngô cũng là cây trồng sử dụng nhiều phânchuồng, vào khoảng 60,6 tạ/ha

Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng Ngô của các hộ điều tra

(ĐVT: ngàn đồng/ha)

1 Giá trị sản xuất (GO) 26000 29953,12 33906,25 29953,10

2 Tổng chi phí sản xuất (TC) 16248,89 18164,44 19848,89 18087,40

3 Lợi nhuận (LN) 9751,11 11788,68 14057,36 11865,70

4 Chi phí trung gian (IC) 7848,89 8442,22 9093,33 8461,48

5 Giá trị gia tăng (VA) 18151,11 21510,90 24812,92 21491,60

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Nhìn chung qua các năm thì năng suất của cây ngô tăng dần, nguyên nhân

là do việc cải tạo giống Ngô mới năng suất hơn, bên cạnh đó mức độ đầu tư quacác năm cũng tăng dần làm cho giá trị sản xuất của cây ngô khá cao, cụ thể năm

Trang 32

trị sản xuất cao trong khi chi phí đầu tư tương đối thấp nên giá trị gia tăng câyngô qua các năm là rất cao, bình quân 21491.6 ngàn đồng/ha Lợi nhuận mà câyngô đem lại rất cao, các nông hộ trồng ngô để bán là chính, ngoài ra một ít dùngcho chăn nuôi.

So sánh hiệu quả sử dụng đất trồng trồng ngô phân theo khu vực

Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng Ngô phân theo khu vực

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Qua bảng 4.13 cho thấy sự chênh lệch lớn về giá trị sản xuất ngô của haikhu vực, giá trị sản xuất của khu vực 1 là 32492,06 ngàn đồng/ha cao hơn khuvực 2 với giá trị sản xuất là 25106,06 ngàn đồng/ha, mặc dù mức đầu tư chi phítương đối gần giống nhau, tuy nhiên do đặc điểm đất đai khu vực 1 là đất phù saven sông và sử dụng lượng phân hữu cơ có sẵn nên năng suất cao hơn khu vực 2với đất trồng chủ yếu là đất nương, vườn, phân hữu cơ ít Bên cạnh đó, khu vực

1 trồng ngô với mục đích bán là chính, do vậy lợi nhuận do cây ngô đem lại chokhu vực 1 là cao hơn so với khu vực 2 Chi phí bằng tiền mà khu vực 1 bỏ ra là9.509,524 ngàn đồng/ha cao hơn khu vực 2 với 9.348,485 ngàn đồng/ha, dù vậy,

do giá trị sản xuất cao hơn nên giá trị gia tăng của khu vực 1 cao hơn khu vực 2

So với khu vực 2, khu vực 1 có tỷ lệ GO/IC, VA/IC cao hơn, cứ 1 đồng chi phítrung gian bỏ ra để sản xuất thu được 3,4đồng giá trị sản xuất, cứ 1 đồng chi phíbằng tiền mà hộ bỏ ra thu được 2,4 đồng giá trị gia tăng, trong khi tỷ lệ này củakhu vực 1 lần lượt là 2,6 và 1,68 lần Vì vậy, ngô trồng ở khu vực 1 cho hiệu quảkinh tế cao hơn

4.5.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất trồng lạc

Lạc cũng là một trong những cây trồng truyền thống của xã, tuy nhiên lạcđược trồng với diện tích ít và mục đích chính là để sử dụng trong gia đình và

Trang 33

làm quà Giống lạc L14 là giống chủ đạo của xã Chi phí đầu tư cho lạc của các

hộ được thể hiện dưới bảng sau :

Bảng 4.14 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất đất trồng

Lạc của các hộ điều tra

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Dựa vào bảng 4.14, ta thấy chi phí bằng tiền cho cây lạc lớn nhất vẫn làgiống, tuy nhiên thì giống ở đây chủ yếu là giống nhà tự sản xuất, trung bìnhmỗi mùa các hộ sẽ mất khoảng 2.996,55 ngàn đồng/ha tiền giống, các chỉ sốkhác của chi phí cho cây lạc còn lại tương đối thấp Công do gia đình bỏ ra khácao bao gồm công làm đất, gieo hạt, làm cỏ, vun xới, thu hoạch Nếu như ngôkhông cần phải làm cỏ, thì lạc lại tốn rất nhiều công lao động cho việc làm cỏ,chi phí công lao động cho cây lạc rơi vào khoảng 14519,5 ngàn đồng/ha Lạc làcây trồng sử dụng phân bón hữu cơ cao khoảng 61,20 tạ/ha

Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng Lạc của các hộ điều tra

(ĐVT: ngàn đồng/ha)

1 Giá trị sản xuất (GO) 46068,96 53862,06 65000 54977

2 Tổng chi phí sản xuất (TC) 21415,86 26536,84 29891,97 25948,20

3 Lợi nhuận (LN) 24653,10 27325,22 35108,02 29028,80

4 Chi phí trung gian (IC) 9002,06 12054,08 13229,90 11428,70

5 Giá trị gia tăng (VA) 37066,89 41807,98 51770,09 43548,30

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Nhìn chung qua mỗi năm giá trị sản xuất của lạc đều tăng mạnh, năm

2013 là 46068,96 ngàn đồng/ha đến năm 2015 tăng thành 65000 ngàn đồng/ha,năng suất bình quân của lạc khá cao và có sự ổn định và tăng khá cao qua các

Trang 34

đất đai của xã rất thuận lợi cho cây lạc phát triển Cũng như ngô, lạc cũng là loạicây trồng đem lại lợi nhuận rất cao trung bình mỗi năm khoảng 29028,80 ngànđồng/ha Mặc dù lợi nhuận từ việc trồng lạc là lớn, tuy nhiên với diện tích đất ít,

kỹ thuật trồng phức tạp hơn so với cây lúa và ngô cho nên lạc chỉ đứng vị trí thứ

ba trong hệ thống cây trồng của xã

So sánh và hiệu quả sử dụng đất trồng trồng lạc phân theo khu vực

Bảng 4.16 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng trồng Lạc phân theo khu vực

4 Chi phí trung gian (IC) 10078,10 9479,16

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Với điều kiện đất đai phù hợp cùng với kinh nghiệm lâu năm và mức đầu

tư cao cho cây lạc cho nên năng suất lạc khu vực 1 cao hơn nhiều so với khu vực

2, mức độ đầu tư chi phí bằng tiền cho cây lạc của hai khu vực gần bằng nhauvào khoảng 10.000 ngàn đồng/ha, tuy nhiên xét về tổng chi phí cho cây lạc thìkhu vực 1 cao hơn nhiều so với khu vực hai, nguyên nhân là do các hộ khu vực

1 đầu tư phân bón hữu cơ và bỏ công lao động ra nhiều hơn so với khu vực 2.Lợi nhuận thu được của khu vực 1 là 30634,88ngàn đồng cao hơn khu vực 2 với28504,17ngàn đồng Ở khu vực 1, bình quân trong 1 đồng chi phí trung gian bỏ

ra thu được có 5,53 đồng giá trị sản xuất và thu được 4,76đồng giá trị tăng thêm,cao hơn khu vực 2 lần lượt là 0,14 lần và 0,47 lần Như vậy hiệu quả sản xuấtlạc của khu vực 1 là cao hơn so với khu vực 2

Trang 35

4.5.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất trồng khoai lang

Cũng giống như lạc, khoai lang cũng được trồng với mục đích sử dụng làchính Nguyên nhân là do diện tích đất trồng ít, giống chưa được cải tiến Sảnphẩm chủ yếu dùng cho chăn nuôi, giá trị kinh tế cao nhất của khoai lang là củthì chất lượng củ ngày càng giảm Tuy nhiên thì chi phí đầu tư cho khoai langkhá cao

Bảng 4.17 Tình hình chi phí đầu tư sản xuất cho đất trồng khoai

lang của các hộ điều tra

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Giống khoai chủ yếu là giống địa phương được sử dụng mà chưa có giốngmới nào, qua nhiều năm sử dụng các nông hộ cho biết giống khoai đã bị tháihóa, chất lượng củ thấp Qua bảng 4.17, ta thấy chi phí cho phân bón khá cao,nguyên nhân là do trồng khoai mục đích là lấy thân cây dùng cho chăn nuôi vìvậy mỗi mùa thường tưới đạm rất nhiều lần Việc tưới nhiều lần vậy cũng làmgiảm chất lượng củ rất nhiều Công lao động gia đình bỏ ra khá cao, chủ yếu choviệc làm đất, ngoài ra còn công tưới nước nữa

Bảng 4.18 Hiệu quả kinh tê sử dụng đất trồng Khoai lang của các hộ điều tra

(ĐVT: ngàn đồng/ha)

Các chỉ số

Năm 2013

Năm 2014

4 Chi phí trung gian (IC) 7735,71 8458,57 9227,14 8473,80

5 Giá trị gia tăng (VA) 70264,28 74041,42 79344,28 74550

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Trang 36

Qua bảng 4.18, ta thấy được năng suất bình quân trên ha của khoai lang có

xu hướng giảm dần, năm 2013 là 111,4tạ/ha đến năm 2015 chỉ còn 100,7tạ/ha,tuy vậy giá trị sản xuất qua các năm lại tăng, nguyên nhân là do giá cả mỗi nămđều tăng và năng suất khoai giảm không nhiều lắm qua các năm, năm 2013 giátrị sản xuất là 78.000 ngàn đồng/ha, năm 2015 tăng lên là 88571,42 ngànđồng/ha Vì vậy, nếu xã và các nông hộ chú ý đầu tư, cải tiến giống thì tương lạikhoai lang sẽ còn tăng giá trị hơn nữa

So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng khoai lang phân theo khu vực

Bảng 4.19 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng khoai lang phân theo khu vực

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Khác với cây ngô, lạc, khoai lang được trồng nhiều hơn ở khu vực 2, do đó

mà giá trị sản xuất khoai lang ở khu vực 2 cao hơn so với vùng một, chi phí đầu

tư cho khoai lang ở hai khu vực là gần bằng nhau Qua bảng 4.19, ta thấy mặc

dù chi phí trung gian của hai khu vực đạt mức gần bằng nhau, nhưng với giá trịđạt được cao hơn hẳn so với khu vực 1 nên giá trị gia tăng đạt được của khu vực

2 là 74903,7 ngàn đồng, cao hơn khu vực 1 với 73300 ngàn đồng Bình quân cứ

1 đồng chi phí trung gian bỏ ra khu vực 2 thu được 9,94 đồng giá trị sản xuất,8,94 đồng giá trị gia tăng còn ở khu vực 1 lần lượt là 9,47 đồng và 8,47 đồng.

Do đó, trồng khoai lang ở khu vực 2 có hiệu quả cao hơn

4.5.6 So sánh hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính tại xã Quảng Sơn giai đoạn 2013 – 2015

Tiến hành so sánh hiệu quả sản xuất trên một đồng CPTG và giá trị gia tăngtrên một đồng CPTG của các loại hình sử dụng đất chính để có cơ sở đánh giá

Trang 37

và so sánh hiệu quả kinh tế cũng như tổng hợp hiệu quả sử dụng chung của cácloại hình sử dụng đất chính trong xã nghiên cứu.

Xã Quảng Sơn có 4 loại hình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính,gồm có loại hình sử dụng đất trồng lúa, trồng ngô, trồng khoai lang và trồng lạc

Để so sánh hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính trong cả giaiđoạn ta tiến hành lấy giá trị trung bình của cả giai đoạn để so sánh và đánh giá

Bảng 4.20 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính tại xã Quảng

Sơn giai đoạn 2013 – 2015

Giá trị sản xuất(GO) 1000 đồng 27079,67 29953,10 54977 83023,80Chi phí sản xuất (IC) 1000 đồng 13094,13 8461,48 11429 8473,80Giá trị gia tăng (VA) 1000 đồng 13985,54 21491,60 43548 74550

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)

Qua bảng 4.20, có thể thấy được loại hình sử dụng đất trồng khoai langmang lại giá trị gia tăng lớn nhất (74550 ngàn đồng), tiếp theo là loại hình sửdụng đất trồng lạc (43548,00 ngàn đồng), đất trồng ngô (21491,60 ngàn đồng)

và thấp nhất là đất trồng lúa với (13985,54 ngàn đồng)

So sánh hiệu quả sản xuất trên một đồng CPTG, ta thấy loại hình hình sửdụng đất trồng khoai lang là cao nhất (9,81 lần), tiếp theo là lạc (4,83 lần), ngô(3,5lần) và cuối cùng là lúa với (2,06 lần)

So sánh giá trị gia tăng trên một đồng CPTG, ta thấy loại hình hình sử dụngđất trồng khoai lang là cao nhất (8,79 lần), tiếp theo là lạc (3,81lần), ngô(2,53lần) và cuối cùng là lúa với (1,06 lần)

Như vậy, HQKT của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chínhtại xã Quảng Sơn đều tương đối cao, loại cây trồng mang lại hiệu quả cao nhấttrên địa bàn xã là khoai lang, tiếp đến là lạc, ngô và cuối cùng là lúa Giá trị giatăng từ những loại cây trồng chính này đều là thu nhập chính cho các hộ dân tại

Ngày đăng: 09/02/2020, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5]. Phòng Tài nguyên & Môi trường thị xã Ba Đồn, Báo cáo kiểm kê đất đai, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm kê đất đai
[7]. Thân Ngọc Thắng, khóa luận tốt nghiệp, Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đấtnông nghiệp tại xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
[10]. Tham khảo từ Internet. Bài viết từ trang web:http://quangbinh.gov.vn http://nhanong.net http://khokienthuc.vn Link
[1]. Báo cáo thuyết minh tổng hợp, Hà Nội, trang 6 – 21, Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) cấp quốc gia Khác
[2]. Lê Văn Hải, luận văn Thạc sỹ, Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây Khác
[3]. TS. Nguyễn Hữu Ngữ, Bài giảng quy hoạch sử dụng đất, Đại học Nông lâm Huế Khác
[6]. Trần Đức Quý, khóa luận tốt nghiệp: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp của các hộ gia đình giai đoạn 2011 - 2013 ở xã Trường Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Khác
[8]. UBND xã Quảng Sơn, Báo cáo tình hình KT - XH năm 2013, 2014, 2015 Khác
[9]. Viện nghiên cứu và phố biến tri thức bách khoa, Hà nội 2000, trang 262, 963. Đại từ điển kinh tế thị trường Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w