1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(2009) Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên một số địa bàn tỉnh Quảng Trị

3 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CứU TìNH HìNH Sử DụNG THUốC BảO Vệ THựC VậT TRÊN MộT Số ĐịA BàN TỉNH QUảNG TRị Nguyễn Minh Sơn - Trường Đại học Y Hà Nội TóM TắT Mục tiêu.. mô tả tình hình sử dụng, bảo quản v

Trang 1

y học thực hành (716) - số 5/2010 17

Kết luận

Sau 6 tuần điều trị viêm da dầu người lớn thể từ

trung bình đến nặng bằng uống Itraconazol cho kết

quả như sau:

Kết quả đạt rất tốt là 76,7%; tốt chiếm 20%; trung

bình là 3,3%; không có bệnh nhân nào không đáp

ứng với điều trị

Tài liệu tham khảo

1 Lê Anh Tuấn (2006) " Nghiên cứu tình hình, đặc

điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan và kết quả điều

trị viêm da dầu bằng kem ketoconazole và kem

corticoid" Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, đại học Y Hà Nội

2 Avner Shemer MD (2008) "IMAJ.Vol10.June

2008"

3 Betty Anne Johnson và cs (2000) "treatment of

seborrheic dermatitis "

4 Am Fam Physician, 61: 2703-10, 2713-4

5 Elewski B, Ling MR, Philips TJ (2006) Efficacy

and safety of a new once-daily ketoconazole 2 %gel in thetreatment of seborrheic dermatitis : a phase III trial J Drugs Dematol ;5:646-50

6 Faergemann J (1986) Seborrheic dermatitis and

Pityrosporum orbiculare: treatment of seborrheic dermatitis of the scalp with miconazole-hydrocortisone

(Daktacort), miconazole and hydrocortisone Br J Dermatol ; 114:695-700

7 Robert A.Schwartz và cs (2006) "Seborrheic dermatitis: An overview" Am Fam Physician,

74(1):125-30

8 Skinner RB và cs (1985) "Double-blind treatment

of seborrheic dermatitis with 2% ketoconazole cream" J

Am Acad Dermatol, 12(5 Pt 1):852-6

NGHIÊN CứU TìNH HìNH Sử DụNG THUốC BảO Vệ THựC VậT

TRÊN MộT Số ĐịA BàN TỉNH QUảNG TRị

Nguyễn Minh Sơn - Trường Đại học Y Hà Nội

TóM TắT

Mục tiêu mô tả tình hình sử dụng, bảo quản và

hướng xử trí ở những đối tượng sử dụng hóa chất bảo

vệ thực vật Đối tượng và phương pháp: sử dụng

nghiên cứu ngang mô tả trên 659 đối tượng Là thành

viên trong gia đình trong năm qua có tham gia phun

hóa chất trừ sâu ít nhất mỗi vụ 1 lần, cả năm ít nhất là

2 lần Kết quả nghiên cứu: 665 đối tượng được phỏng

vấn, nam chiếm 83% phát hiện 12,9% đối tượng trả

lời hóa chất bảo vệ thực vật luôn được giữ trong nhà

Nguồn cung cấp hóa chất bảo vệ thực vật trên địa

bàn tỉnh chỉ có 58,6% do các cơ sở nhà nước quản lý

cung cấp Số người phun được hướng dẫn cách sử

dụng và bảo quản hóa chất bảo vệ thực vật chỉ có

29,5% Không có hướng xử trí khi xuất hiện các dấu

hiệu ngộ độc là 32,8%, chỉ có 9% đến trạm y tế và

1,1% đến khám các y bác sĩ tư nhân khi xuất hiện các

dấu hiệu ngộ độc sau phun thuốc

Từ khóa: hóa chất bảo vệ thực vật

ĐặT VấN Đề

Hóa chất vệ thực vật là một loại vật tư nông nghiệp

đặc thù, rất cần thiết để bảo vệ năng suất, chất lượng

cây trồng Ngoài công dụng phòng trừ dịch hại bảo vệ

cây trồng hầu hết các loại hóa chất bảo vệ thực vật

đều có khả năng gây ngộ độc cho người, động vật, cây

trồng, sinh vật có ích, gây ô nhiễm môi trường [1]

ở Quảng Trị theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ

thực vật hàng năm trên địa bàn tỉnh tiếp nhận từ 12

tấn đến 13 tấn hóa chất bảo vệ thực vật Việc sử

dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn bao gồm

việc phân phối bảo quản hướng dẩn sử dụng, cũng

như nghiên cứu tình trạng hiểu biết của người sử dụng

và mức độ ô nhiễm môi trường, ô nhiễm rau màu từ

trước đến nay chưa có một nghiên cứu nào Vì thế

chúng tôi tiến hành nghiên cứu:”Nghiên cứu tình hình

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên một số địa bàn tỉnh Quảng Trị”

Mục tiêu nghiên cứu: mô tả tình hình sử dụng,

bảo quản và hướng xử trí ở những đối tượng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

ĐốI TƯợNG, PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng mẫu

Trong nghiên cứu của chúng tôi đối tượng mẫu

được chọn là hộ gia đình

2 Đối tượng nghiên cứu

Là thành viên trong gia đình trong năm qua có tham gia phun hóa chất trừ sâu ít nhất mỗi vụ 1 lần, cả năm ít nhất là 2 lần

Các sản phẩm rau màu được bán trên thị trường

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu được áp dụng trong nghiên cứu này là cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ với độ chính xác tuyệt đối:

2 2 2 1

) 1 (

d

p p Z

(1) Trong đó:

n: là cỡ mẫu,

d = 0,04 độ chính xác tuyệt đối của p

p = 50%: tỷ lệ ước tính thực hành của người dân

về an toàn trong sử dụng và bảo vệ hoá chất thực vật Thay vào công thức (1) ở trên chúng tôi tính được

cỡ mẫu n = 601

Thực tế nghiên cứu đã tiến hành với cỡ mẫu n =

665 hộ gia đình, tương ứng là 665 đối tượng đã được phỏng vấn

Trang 2

y học thực hành (716) - số 5/2010

18

3.2 Kỹ thuật chọn mẫu nghiên cứu: kỹ thuật

chọn mẫu được áp dụng trong nghiên cứu của chúng

tôi là sử dụng kỹ thuật chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đọan một: chọn chủ đích lấy 7 xã của hai

huyện Triệu Phong và Hải Lăng

Giai đọan hai: chọn hộ gia đình dựa vào kỹ thuật

chọn mẫu tỷ lệ với quần thể mẫu, có nghĩa là xã nào

có số hộ gia đình nhiều sẽ được chọn nhiều hơn vào

nghiên cứu (ở Hải Lăng 4 xã: xã Hải Quế 98 hộ, Hải

Thành 102 hộ, Hải Trường 107 hộ, Hải Thiện 97 hộ; ở

Triệu Phong 3 xã: Triệu Trung 61 hộ, Triệu Tài 101

hộ, Triệu Trạch 99 hộ)

Giai đoạn ba: chọn hộ gia đình bằng kỹ thuật chọn

mẫu ngẫu nhiên dựa trên danh sách hộ gia đình đã

lập

Giai đọan bốn: chọn đối tượng phỏng vấn: trong

các thành viên trong gia đình chúng tôi chọn chủ đích

lấy một người đủ tiêu chuẩn để phỏng vấn, nếu hộ gia

đình không có người phun hóa chất bảo vệ thực vật

chúng tôi bỏ qua và chọn một gia đình khác vào thay

thế

3.3.Phương pháp thu thập thông tin

Phỏng vấn trực tiếp người phun hóa chất trừ sâu

theo bộ câu hỏi thiết kế để thu thập các thông tin cơ

bản về kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến

hóa chất bảo vệ thực vật

3.4 Thời gian nghiên cứu: 11/2009

KếT QUả NGHIÊN CứU

1 Phân bố đối tượng nghiên cứu

17

83

Nam Nữ

Biểu đồ 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới

Trong số 665 đối tượng điều tra, nam chiếm 83%

còn lại là nữ giới

2 Nguồn, cách bảo quản, hướng dẫn sử dụng

hóa chất bảo vệ thực vật

Bảng 1: Nguồn cung cấp hóa chất bảo vệ thực vật

Nguồn cung cấp hóa chất bảo vệ thực vật Tần số

(n=665)

Phần trăm

Đại lý của trạm Bảo vệ thực vật xã

Đại lý của trạm Bảo vệ thực vật huyện

Cửa hàng vật tư bán lẻ trong xã

Ngoài chợ

243

147

259

30

36,5 22,1 38,9 4,5

Trong tổng số 665 đối tượng được phỏng vấn,

nguồn cung cấp hóa chất bảo vệ thực vật chủ yếu là

đại lý của trạm Bảo vệ thực vật xã và cửa hàng vật tư

bán lẻ trong xã Tỷ lệ mua hóa chất bảo vệ ngoài chợ

chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (4,5%)

Bảng 2: Bảo quản hóa chất bảo vệ thực vật

Bảo quản hóa chất bảo vệ thực vật Tần số Phần trăm

Thường xuyên để trong nhà

Để ngoài vườn

86

579

12,9 87,1

Trong tổng số 665 đối tượng được phỏng vấn có 12,9% đối tượng trả lời hóa chất bảo vệ thực vật luôn

được giữ trong nhà số còn lại cất giữ ở ngoài vườn xa khu vực nhà ở

Bảng 3: Hướng dẫn bảo quản, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

Hướng dẫn bảo quản, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật Tần số Phần trăm

Có Không

196

469

29,5 70,5

Trong tổng số 665 đối tượng được phỏng vấn chỉ

có 29,5% số đối tượng được tập huấn, hướng dẫn cách bảo quản và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật,

số còn lại không được hướng dẫn

Bảng 4: Hướng xử lý khi xuất hiện các dấu hiệu

ngộ độc

Hướng xử trí khi xuất hiện các dấu hiệu ngộ độc Tần số Phần trăm

Không làm gì

Tự điều trị Tới trạm y tế Khám bác sĩ tư nhân Không biết

218

128

60

7

252

32,8 19,2 9,0 1,1 37,9

Trong số đối tượng được phỏng vấn về hướng xử trí khi xuất hiện các dấu hiệu ngộ độc:32,8% không làm gì; 37,9% không biết chỉ có 9% đến trạm y tế và

1,1% đến khám các y bác sĩ tư nhân

BàN LUậN

Hóa chất bảo vệ thực vật là một trong danh mục hóa chất cần được quản lý, phải có nhãn mác, hướng dẫn cách sử dụng và bảo quản Trong nghiên cứu của chúng tôi việc bán hóa chất bảo vệ thực vật ở Quảng Trị qua đại lý của trạm bảo vệ thực vật xã và huyện tại các xã chỉ chiếm 58,6% số còn lại được bán

ở các cửa hàng vật tư hoặc ở chợ Đây là những chỗ không được quản lý và dễ đưa những loại hóa chất bảo vệ cấm sử dụng vào bán cho những người sử dụng Đồng thời việc bảo quản hóa chất bảo vệ thực vật cũng là khâu rất quan trọng nhằm tránh gây độc

do sự nhầm lẫn khi cất giữa hóa chất bảo vệ thực vật trong gia đình ở Quảng Trị vẫn còn 12,9% số hộ gia

đình vẫn thường xuyên cất giữ hóa chất bảo vệ thực vật trong gia đình Đây là vấn đề cần phải quan tâm trong công tác giáo dự truyền thông sức khỏe cho nhân dân

Một vấn đề cần quan tâm nữa, đó là việc hướng dẫn cách sử dụng và bảo quản cho người mua là rất quan trọng, trong số đối tượng tham gia nghiên cứu chỉ có 29,5% số đối tượng được hướng dẫn cách bảo quản và sử dụng, số lượng còn lại rất lớn và suy rộng

ra toàn địa bàn tỉnh Quảng Trị, đây là con số khổng lồ

và mức độ nguy hiểm đối với người sử dụng rất cao khi họ không biết cách sử dụng, bảo quản Vấn đề này liên quan đến việc người dân có nhận thức và biết hướng xử trí khi xuất hiện các dấu hiệu ngộ độc; 32,8% số người không làm gì khi có dấu hiệu ngộ độc

và đặc biệt 37,9% số đối tượng không biết cách xử trí

Trang 3

y học thực hành (716) - số 5/2010 19

như thế nào Đây là vấn đề rất nguy hiểm đến sức

khoẻ của người trực tiếp sử dụng hoá chất và đặc biệt

nguy hiểm khi ngộ độc hàng loạt do việc bảo quản,

sử dụng không đúng qui cách

KếT LUậN

- Nguồn cung cấp hóa chất bảo vệ thực vật trên

địa bàn tỉnh Quảng Trị chỉ có 58,6% do các cơ sở nhà

nước quản lý cung cấp

- 29,5% số đối tượng là người phun hóa chất bảo

vệ được hướng dẫn cách sử dụng và bảo quản hóa

chất bảo vệ thực vật

- 12,9 số hộ gia đình ở Quảng Trị vẫn thường

xuyên cất giữ hóa chất bảo vệ thực vật trong nhà

TàI LIệU THAM KHảO

1 Bộ Y tế, Thường qui kỹ thuật kiểm tra nhanh chất

lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, ban hành kèm theo Quyết định số 1052/2002/QĐ-BYT ngày 29/03/2002 của

Bộ Trưởng Bộ Y Tế

2 Quyết định 50/2003/QĐ-BNN ngày 25/03/2003,

Bộ Nông nghiệp&PTNT: Ban hành quy định kiểm định chất lượng, dư lượng thuốc BVTV và khảo nghiệm thuốc BVTV nhằm mục địch đăng ký tại Việt Nam

3 Quyết định 53/2003/QĐ-BNN ngày 02/04/2003,

Bộ Nông nghiệp&PTNT: Ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam

Nghiên cứu các type mô bệnh học và kết quả điều trị u tuyến ức

tại bệnh viện k từ 2003 - 2008

Nguyễn khắc Kiểm, Hoàng Đình Chân

Bệnh viện K

tóm tắt

U tuyến ức (UTƯ) thường nằm ở trung thất trước

trên, có tỷ lệ mắc khoảng 0,86 - 1/100.000 dân,

thường gặp ở lứa tuổi 30 – 50 Qua nghiên cứu 71

bệnh nhân UTƯ điều trị tại Bệnh viện K từ năm 2003 -

2008 chúng tôi chú ý tới hai vấn đề là mô bệnh học

và kết qủa điều trị

Mô bệnh học: gặp chủ yếu các type A; type AB;

các type B (B1; B2; B3) là 81,7%; type C chiếm tỷ lệ

thấp 18,3% nhưng tiến triển nhanh, tiên lượng xấu U

tuyến ức ác tính thực sự chiếm tỷ lệ cao 50,7%

Kết quả điều trị: phẫu thuật là phương pháp điều

trị cơ bản (69%), sự kết hợp phẫu thuật + xạ trị + hóa

trị cho kết quả tốt 90,1% Phẫu thuật ở giai đoạn sớm

khi khối u chưa xâm lấn cho kết quả tốt 100%, giai

đoạn khối u đã xâm lấn tỷ lệ tái phát là 10,6%, là

bệnh có tiên lượng tốt tỷ lệ sống 5 năm cao 85,4%

Từ khóa: U tuyến ức, Bệnh viện K

SUMMARY

Thymoma is often in upper and inferior

mediastinum, it accounts for approximately 0,86 -

1/100.000 in population, the common age is 30 - 50

Eligible 71 patients with thymoma who have been

treated in K hospital from 2003 to 2008 were enrolled

to our research, we noticed two aspeets such as

histopathology and treatment results

Histopathology: the common types are A, AB, B

(B1; B2; B3), accounting for 81,7%, type C accounts

for 18,3% but it is quickly aggressive and its

prognosis are very poor Actually malignant thymoma

accounts for high rate 50,7%

Treatment result: surgery is essential therapeutic

method (69%), combination of surgery, irradiation and

chemotherapy is involved in good result 90,1%

Surgery in early stages without invaded tumors good

results in 100%, recurrent rate in late stages with

invaded tumors is 10,6%, thymoma is a disease of

which prognosis is good, five – year survival is high 85,4%

Keywords: Thymoma, K hospital

Đặt vấn đề

U tuyến ức (UTƯ) thường nằm ở trung thất trước trên, hay gặp ở lứa tuổi 30-50 chiếm từ 20-40% các khối UTT, ngoài sự chèn ép trung thất, chúng còn liên quan tới bệnh nhược cơ, khi đã chẩn đoán xác định là UTƯ thì phẫu thuật được lựa chọn đầu tiên và cấp thiết, nhằm loại bỏ khối u và ngăn chặn sự tiến triển xâm lấn ác tính Bởi lẽ tỷ lệ ác tính hóa của UTƯ rất cao từ 30-50% nhưng nếu được phẫu thuật sớm cho kết quả tốt

Những năm gần đây ngành phẫu thuật lồng ngực

và giải phẫu bệnh học đã có những tiến bộ Các tác giả Âu - Mỹ có nhiều công trình nghiên cứu về chẩn

đoán, phân loại mô bệnh học và phẫu thuật cắt bỏ UTƯ Từ những nghiên cứu hình thái học vi thể (mô, siêu vi mô, mô hóa học, hóa mô miễn dịch ) đã thấy tính đa dạng và sự biến hóa của các tế bào trong cấu trúc của tuyến ức, cho nên có nhiều tác giả đưa ra cách phân loại UTƯ với những quan điểm khác nhau, cho đến những năm gần đây y văn chưa được thống nhất Năm 2003 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa

ra cách phân loại mới, tuy nhiên cho đến nay cũng chưa được áp dụng hệ thống, vì vậy lịch sử phân loại của UTƯ rất phức tạp

ở Việt Nam, UTƯ đã được nghiên cứu từ những năm 70 tại các bệnh viện lớn như bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Quân đội 103 Tại bệnh viện K phẫu thuật lồng ngực được triển khai từ năm

1997, vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài với mục tiêu:

1 Phân loại mô bệnh học của u tuyến ức theo WHO 2003

2 Đánh giá kết quả điều trị u tuyến ức

Ngày đăng: 08/02/2020, 21:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w