KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỒNG CAM, QUÝT TẠI HUYỆNBẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN NĂM 2018 LUẬN VĂN CHUYÊN NGÀNH:
Trang 1KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỒNG CAM, QUÝT TẠI HUYỆN
BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN NĂM 2018
LUẬN VĂN CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
Hà Nội, 2018
Trang 2KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỒNG CAM, QUÝT TẠI HUYỆN
BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN NĂM 2018
LUẬN VĂN CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
Hà Nội, 2018
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên Thế giới và Việt Nam 10
1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan tới thực hành sử dụng thuốc BVTV 13
1.4 Khung lý thuyết 24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 26
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 27
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
2.3.1 Thời gian 28
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 29
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng 29
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính 30
2.5 Phương pháp chọn mẫu 30
2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng 30
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu định tính 31
2.6 Phương pháp thu thập thông tin 31
2.6.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng 31
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính 32
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 33
2.7.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng 33
Trang 42.7.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính 34
2.8 Các biến số nghiên cứu: 35
2.8.1 Các biến số nghiên cứu định lượng: 35
2.8.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính: 35
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 36
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khắc phục 36
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 36
2.10.2 Sai số nghiên cứu và cách khắc phục 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 38
3.1.1 Đặc điểm tuổi và giới 38
3.1.2 Đặc điểm dân tộc 39
3.1.3 Trình độ học vấn 39
3.1.5 Thâm niên và số đợt phun thuốc BVTV trung bình hàng năm 40
3.2 Kiến thức về sử dụng thuốc BVTV 41
3.3 Thực hành về sử dụng thuốc BVTV 57
3.4 Tiếp cận thông tin về thuốc BVTV 72
3.5 Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 75
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 80
4.1 Thông tin chung 80
4.2 Kiến thức về sử dụng thuốc BVTV 81
4.3 Thực hành sử dụng thuốc BVTV 89
4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và TH sử dụng thuốc BVTV 95
4.5 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 96
KẾT LUẬN 98
1 Kiến thức và thực hành sử dụng thuốc BVTV 98
2 Thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 99
3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 100
KHUYẾN NGHỊ 101
1 Đối với chính quyền địa phương 101
Trang 52 Đối với người dân 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤC LỤC 1: Bảng biến số nghiên cứu định lượng 110
PHỤC LỤC 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn nghiên cứu kiến thức, thực hành sử dụng thuốc bvtv và một số yếu tố liên quan của người dân trồng cam, quýt tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn 119
PHỤ LỤC 4: Bảng kiểm quan sát thực hành sử dụng thuốc bvtv của người dân tộc thiểu số trồng cam, QUÝT 146
PHỤ LỤC 5: Hướng dẫn thảo luận nhóm với người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt về sử dụng thuốc bvtv an toàn 148
PHỤ LỤC 6: Hướng dẫn phỏng vấn sâu với người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt về sử dụng thuốc bvtv an toàn 150
PHỤ LỤC 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu với các bên liên quan về thực trạng sử dụng và quản lý thuốc BVTV 152
PHỤ LỤC 8: Hướng dẫn phỏng vấn sâu với người bán thuốc BVTV 154
PHỤ LỤC 9: Kế hoạch triển khai nghiên cứu 156
PHỤ LỤC 10: Kinh phí nghiên cứu 159
PHỤC LỤC 11: Nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV 160
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Phân loại tính độc của thuốc BVTV theo WHO [26, 32, 44] 5
Bảng 2: Tình hình nhập khẩu thốc BVTV tại Việt Nam gần đây [26] 12
Bảng 3: Đặc điểm tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 4: Diện tích trồng cam, quýt và loại dụng cụ phun thuốc BVTV 40
Bảng 5: Thông tin về thâm niên và số đợt phun thuốc BVTV trung bình mỗi năm.41 Bảng 6: Trung bình điểm kiến thức giữa các nhóm dân tộc 42
Bảng 7: Kiến thức về tác dụng của thuốc BVTV 43
Bảng 8: Kiến thức về tác hại của thuốc BVTV 43
Bảng 9: Kiến thức về đường xâm nhập của thuốc BVTV 44
Bảng 10: Kiến thức về đối tượng không nên đi phun thuốc BVTV 45
Bảng 11: Kiến thức về tác hại khi thu hoạch sớm sau phun thuốc BVTV 46
Bảng 12: Kiến thức về thông tin cần đọc, tìm hiểu khi mua thuốc BVTV 46
Bảng 13: Kiến thức về ý nghĩa vạch màu cảnh báo độ độc hại 47
Bảng 14: Nhóm kiến thức về thời điểm đi phun an toàn 47
Bảng 15: Nhóm kiến thức về thời tiết đi phun an toàn 48
Bảng 16: Nhóm kiến thức về sử dụng thuốc BVTV đúng cách 49
Bảng 17: Kiến thức về liều lượng thuốc BVTV đúng cách 49
Bảng 18: Kiến thức về hòa tan thuốc BVTV đúng cách 50
Bảng 19: Kiến thức về hướng gió khi phun thuốc BVTV 50
Bảng 20: Nhóm kiến thức về xử lý dụng cụ trước và sau phun thuốc BVTV 51
Bảng 21: Kiến thức về xử lý thuốc BVTV dư thừa 52
Bảng 22: Kiến thức về xử lý thuốc BVTV dư thừa chưa pha 53
Bảng 23: Kiến thức về xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV 53
Bảng 24: Kiến thức về bảo quản an toàn dụng cụ phun và thuốc BVTV 54
Bảng 25: Kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm thuốc BVTV 55
Bảng 26: Kiến thức về dấu hiệu bị nhiễm độc thuốc BVTV 56
Bảng 27: Kiến thức về cách xử trí khi bị nhiễm độc thuốc BVTV 57
Bảng 28: Nhóm thực hành lựa chọn đúng thuốc khi mua 58
Bảng 29: Một số loại thuốc BVTV được thu thập tại thực địa 59
Trang 7Bảng 30: Nhóm thực hành lựa chọn thời điểm, thời tiết đi phun 61
Bảng 31: Nhóm thực hành liều lượng và cách hòa tan thuốc BVTV 63
Bảng 32: Nhóm thực hành chọn hướng gió khi phun 65
Bảng 33: Nhóm thực hành xử lý thuốc pha dư thừa 65
Bảng 34: Nhóm thực hành xử lý thuốc pha dư thừa 66
Bảng 35: Nhóm thực hành vệ sinh cá nhân sau phun thuốc BVTV 69
Bảng 36: Nhóm thực hành xử trí khi bị nhiễm độc thuốc BVTV 70
Bảng 37: Nhóm thực hành cất giữ thuốc BVTV 71
Bảng 38: Nhóm thực hành cất giữ dụng cụ phun 71
Bảng 39: Nguồn cung cấp thông tin về thuốc BVTV 72
Bảng 40: Loại thông tin về thuốc BVTV mà ĐTNC đã được nhận 73
Bảng 41: Thông tin về thuốc BVTV mà ĐTNC mong nhận thêm 74
Bảng 42: Hình thức truyền thông mong muốn về thuốc BVTV 75
Bảng 43: Mối liên quan giữa nhóm dân tộc và trung bình điểm thực hành 76
Bảng 44: Trung bình điểm thực hành theo nhóm tuổi 76
Bảng 45: Mối liên quan giữa giới tính và trung bình điểm thực hành 77
Bảng 46: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và trung bình điểm thực hành 77
Bảng 47: Mô hình hồi quy tuyến tính về mối liên quan giữa một số yếu tố và 78
Bảng 48: Mô hình hồi quy tuyến tính những yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn 79
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới [37] 11
Biểu đồ 2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc 39
Biểu đồ 3: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 39
Biểu đồ 4: Thực hành lựa chọn địa điểm pha thuốc BVTV 62
Biểu đồ 5: Kiểm tra dụng cụ trước phun thuốc BVTV 64
Biểu đồ 6: Thực hành xử lý vỏ bao bì và dụng cụ sau phun 67
Biểu đồ 7: Địa điểm rửa dụng cụ sau phun 68
Biểu đồ 8: Thực hành sử dụng bảo hộ lao động khi pha, phun thuốc BVTV 68
Biểu đồ 9: Trải nghiệm về nhiễm độc thuốc BVTV 70
Biểu đồ 10: Nhu cầu nhận thêm thông tin về thuốc BVTV 74
Trang 9DANH MỤC HÌNHHình 1: Chu trình phát tán thuốc BVTV trong hệ sinh thái [26] 9Hình 2: Khung lý thuyết nghiên cứu 24Hình 3: Mô hình thiết kế nghiên cứu: 25
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of
Southeast Asian Nations)BVTV Bảo vệ thực vật
DDT Dichlorodiphenyl Trichloroethane
DT50 Thời gian bán phân hủy (50% Disappearance Time)
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
(Food and Agriculture Organization of the UnitedNations)
GLOBALGAP Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (Global Good
Agricultural Practices)
LD Liều gây chết (Lethal dose)
MLD Liều gây chết trung bình (Medium lethal dose)
POPs Các hợp chất hữu cơ bền vững trong môi trường
(Persistent Organic Pollutants)
THPT Trung học phổ thông
PTNT Phát triển nông thôn
Trang 11USD Đô la Mỹ
VIETGAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
(Vietnamese Good Agricultural Practices)WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mặc dù thuốc bảo vệ thực vật là một trong những yếu tố chính trong việcphòng trừ sâu, bệnh gây hại vàbảo vệ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực củatoàn thế giới Tuy nhiên, thuốc BVTV thường là các loại hóa chất có độc tính caonên rất độc hại với sức khoẻ con người và có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trườngsinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách Huyện BạchThông được coi là vựa cam, quýt của tỉnh Bắc Kạn Trong những năm gần đây đờisống người dân được cải thiện nhờ phát triển kinh tế từ cây cam, quýt đem lại hiệuquả cao[9].Cùng với việc phát triển diện tích trồng cam quýt quá mức thì thực trạng
sử dụng thuốc BVTV cũng đang ở mức đáng báo động Trước tình hình thực tế đó,chúng tôi chọn 02 xã Dương Phong và Quang Thuận là 02 xã có diện tích trồng
Trang 12cam, quýt lớn nhất của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạnđể tiến hành nghiên cứu
“Kiến thức, thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và một số yếu tố liên quan của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018”.Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính Trong đó nghiên cứu
định lượng sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 385 đốitượng Nghiên cứu định tính được tiến hành để làm rõ hơn kết quả nghiên cứu địnhlượng Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kiến thức, thực hành sử dụng thuốc BVTV củangười dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn và một
số yếu tố liên quan
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trung bình điểm kiến thức của ĐTNC là 12(điểm tối đa là 23), trong đó ĐTNC có điểm số thấp nhất là 5 và cao nhất là 20.Trung bình điểm thực hành của ĐTNC là 13,5 (điểm tối đa là 22), trong đó ĐTNC
có điểm thực hành thấp nhất là 6 và cao nhất là 20 Phân tích mô hình hồi quy tuyếntính, chúng tôi tìm thấy có mối liên quan giữa kiến thức, địa điểm (xã), trình độ họcvấn, nhóm dân tộc và thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn (p < 0,05).Dựa trênkết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị cho chính quyền địaphương và người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt như: quy hoạch và xây dựng cácđiểm thu gom, xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV, khuyến khích người dân áp dụng các
mô hình trồng cây ăn quả và sử dụng thuốc BVTV hiệu quả, an toàn
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành nông nghiệp đã được hình thành và phát triển từ khoảng 10.000 nămtrước nhưng cho đến ngày nay sâu, bệnh vẫn luôn là vấn đề chính ảnh hưởng đếnsản lượng lương thựctrên thế giới Sâu, bệnh gây hại là một trong những nguyênnhân gây ra tình trạng suy dinh dưỡng của khoảng 60% dân số thế giới [65] Do đó,thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc trừ sâu,bệnh, bảo vệ và tăng năng suất cây trồng, đảm bảo vấn đề an ninh lương thực chocác quốc gia Thuốc BVTV đã và đang góp phần bảo vệ và tăng năng suất các loạicây trồng lên thêm khoảng 20 - 30%, trong đó chủ yếu là cây lương thực, rau, hoaquả [15].Việc sử dụng thuốc BVTV ở thế giới luôn luôn tăng[65] Giá trị tiêu thụthuốc BVTV trên thế giới năm 2000 là 29,2 tỷ USD và năm 2010 khoảng 30 tỷUSD Tỷ lệ tăng trưởng thuốc BVTV trong những năm gần đây luôn duy trì từ 2 -3%[15]
Việt Nam là một trong những nước sản xuất nông nghiệp lớn với diện tích đấtcanh tác nông nghiệp chiếm 10.000 km2[26] Việt Namlà nước có khí hậu nhiệt đới
và cận nhiệt đới nóng và ẩm là những điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồngphát triển, tuy nhiên cũng là điều kiện thuận lợi để các loài sâu bệnh, cỏ dại pháttriển Thuốc BVTV được đưa vào sử dụng ở Việt Nam từ những năm 1940s[26].Những năm gần đây, do thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện tích, thâm canhtăng vụ và biến đổi khí hậu làm cho tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn, xuấthiện nhiều loài sâu bệnh hại mới, lạ Vì vậy,ngoài số lượng thì chủng loại thuốcBVTV sử dụng cũng tăng lên [10] Tính đến năm 2018, danh mục thuốc BVTVđược phép sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam đã lên tới 1.741 hoạt chất [2].Trong khi, các nước trong khu vực thì danh mục này chỉ có khoảng từ 400 đến 600hoạt chất[26]
Theo ước tính, lượng thuốc BVTV có hiệu quả trực tiếp đến sâu bệnh và cỏdại là chỉ dưới 1%, phần còn lại (trên 99%) sẽ tác động vào môi trường sinh thái[27,
47, 70] Đặc biệt, thuốc BVTV còn ảnh hưởng rất tiêu cực đến sức khoẻ của conngười Hàng năm có khoảng 3 triệu vụ ngộ độc do thuốc BVTV trên thế giới, trong
đó có khoảng 220.000 ca tử vong[27] Điển hình như tại Sơn La tháng 4/2018, 78người phải nhập viện vì bị ngộ độc thuốc BVTV do người dân pha, phun thuốc diệt
Trang 14cỏ có hoạt chất Paraquat gần nguồn nước sinh hoạt (đây là hoạt chất bị loại ra khỏidanh mục được phép sử dụng tại Việt Nam từ năm 2017) [7] Việc sử dụng rộng rãithuốc BVTV cũng đã và đang làm chết những loài động vật như các loài cá, chim,các loài ong thụ phấn và đặc biệt làm cho vấn đề kháng thuốc của các loài sâu bệnhngày càng gia tăng, gây ra những tác hại nghiêm trọng cho môi trường sinh thái[27].
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc BVTVchủ yếu tậptrung trên đối tượng là người dân trồng rau,trồng lúa tại các tỉnh đồng bằng nơi sôngHồng và sông Cửu Long và Tây Nguyên[11, 13, 16, 18-20, 24, 33, 35, 36] Một sốnghiên cứu được tiến hành trên đối tượng người dân trồng chè tại miền núi phía Bắc
và trồng cà phê tại Tây Nguyên [14, 23, 34].Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứunày chưa đi sâu khai thác nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên đốitượng là người dân tộc thiểu số
Huyện Bạch Thông là một huyện miền núi củatỉnh Bắc Kạn, dân số trên địabàn huyện tính đến năm 2012 là 32.612 người với 05 dân tộc chính cùng sinh sống
là Tày (chiếm đa số),Nùng, Dao, Kinh và Hoa [3] Huyện Bạch Thông được coi làvựa cam, quýt của tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích khoảng 1.800 ha Trong đó,diệntích trồng tập trung chủ yếu ở 02 xã: Quang Thuận (550 ha), Dương Phong (hơn
600 ha)[9] Hàng năm, cây cam, quýt mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.Nhìn thấy lợi ích của cây cam, quýt, người dân trong huyện đã mở rộng dần diệntích đất trồng, thậm chí vào sâu trong các khu rừng Cùng với đó, lượng thuốcBVTV được người nông dân sử dụng để bảo vệ và tăng năng suất cây trồng tăngđều qua các năm Câu hỏi đặt ra là: 1) Thực trạng sử dụng thuốc BVTV của ngườidân tộc thiểu sốtại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn số trồng cam, quýt như thếnào? 2) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc BVTV của người dântộc thiểu số trồng cam, quýttại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn?Để trả lời hai câuhỏi này chúngtôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành sử dụng thuốc bảo vệthực vật và một số yếu tố liên quan của người dân tộc thiểu sốtrồng cam, quýt tạihuyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018”
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tảkiến thức và thực hành về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dântộc thiểu sốtrồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn năm 2018
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thựcvật của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạnnăm 2018
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm
vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặckiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng;bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc[22]
1.1.2 Phân loại
Có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV như phân loại theo đối tượng phòngchống, theo gốc hóa học, theo con đường xâm nhập hoặc phân loại theo độ độc củathuốc BVTV [21] Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng cách phânloại theo đối tượng phòng chống để giúp đối tượng dễ hiểu trong quá trình phỏngvấn và phù hợp với quá trình thu thập thông tin và sử dụng cách phân loại theo độđộc của thuốc BVTV để đánh giá loại thuốc được sử dụng thông qua thu thập, quansát vỏ bao bì thuốc BVTV tại các vườn cam, quýt:
1.1.2.1 Phân loại dựa trên đối tượng phòng chống
Thuốc trừ sâu (Insecticide): bao gồm các chất hoặc hỗn hợp các chất cótác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trongmôi trường Được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến câytrồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người[21]
Thuốc trừ bệnh (Fungicide): bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa họchoặc sinh học có tác dụng giúp ngăn ngừa hay diệt trừ các loại vi sinh vật gây hạicho cây trồng và nông sản Thuốc dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài visinh vật gây hại tấn công thì sẽ tốt hơn là diệt nguồn bệnh [21]
Thuốc trừ chuột (Rodenticide hay Raticide): là những hợp chất vô cơ, hữu
cơ hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động khácnhau, dùng để diệt chuột và các loài gặm nhấm gây hại[21]
Trang 17 Thuốc trừ nhện (Acricide hay Miticide): gồm những chất được dùng chủyếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Thuốctrong nhóm có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch,
có tác dụng tiếp xúc và diệt trừ trứng, nhện mới nở và nhện trưởng thành[21]
Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): gồm các chất xông hơi và nội hấpđược dùng để xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong cây, hạt giống
và cả trong đất [21]
Thuốc trừ cỏ (Herbicide): gồm các chất được dùng để trừ các loài thực vậtcản trở sự sinh trưởng của cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại Đây là nhómthuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất, do đó cần đặcbiệt thật trọng khi sử dụng[21]
1.1.2.2 Phân loại theo độ độc của thuốc BVTV
Bảng1:Phân loại tính độc của thuốc BVTV theo WHO [26, 32, 44]
Ký
hiệu Phân loại theo WHO
Màu sắc quy ước
LD50 ở chuột (mg/kg cơ thể) Qua miệng Qua da
III Ít độc (Slightly hazardous) Xanh lá cây > 2000 > 2000
U Hiếm khi gây độc cấp tính
(Unlikely to present acute
hazard)
≥ 5000 ≥ 5000
Mức độ độc của thuốc BVTV thay đổi tùy theo loại thuốc Chỉ số liều gâychết trung bình (medium lethal dose, MLD =LD50) giúp thể hiện mức độ độc củamỗi loại thuốc, đây là liều lượng chất độc gây chết cho 50% số cá thể đem thínghiệm Chỉ số LD50 càng cao thì thuốc càng ít độc Dựa vào chỉ số LD50, Tổ chức
Trang 18Y tế thế giới chia thuốc BVTV ra thành 5 cấp độ: cấp Ia là cực độc, cấp Ib là độccao, cấp II là độc trung bình, cấp III là ít độc và cấp U là hiếm khi gây độc cấp tính[12, 24, 26, 32, 44].
1.1.3 Các đường xâm nhập thuốc BVTV vào cơ thể
Thuốc BVTV có thể xâm nhập vào cơ thể con ngườitheo các con đường phơinhiễm khác nhau như ngấm qua da, qua đường hô hấp (hít thở), qua ăn uống (tiêuhóa) và thực phẩm có tồn dư thuốc BVTV Trong đó, 03 con đường xâm nhập chính
là qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp qua da và qua đường tiêu hóa
1.1.3.1 Qua đường hô hấp
Đây là con đường xâm nhập quan trọng nhất của thuốc BVTV do con ngườiluôn phải hít thở.Các loại thuốc BVTV dùng ở dạng khí nén, dạng hơi, dạng mùhoặc dạng sương phân tán, tan rất nhanh vào không khí, mắt thường có thể khôngnhìn thấy được Trong quá trình phun, người phun rất dễ hít phải thuốc BVTV trongmôi trường không khí Chúng đi vào mũi, qua họng, khí quản và vào phổi Các chấtđộc từ đây đi vào máu Máu tuần hoàn đưa chất độc đến các cơ quan như não, gan,thận, mật và bài tiết qua sữa mẹ, tuyến mồ hôi, sinh dục[11, 24, 30]
1.1.3.2 Tiếp xúc trực tiếp qua da
Da của con người có vai trò bảo vệ chống lại các yếu tố lý, hóa và sinh học.Một số loại hóa chất có áp lực lớn với lớp mỡ dưới da, đi qua lớp thượng bì và mô
bì và sau đó đi vào hệ tuần hoàn và gây nhiễm độc cho cơ thể Đặc biệt, nhiễm độcqua niêm mạc sẽ nguy hiểm hơn vì chúng cócác mao mạch dày đặc như niêm mạcmắt,… làm cho niêm mạc dễ dàng hấp thu một số cất độc và nhạy cảm với một sốchất kích thích[11, 30] Trong quá trình pha và phun, tay và chân là bộ phận cơ thể
dễ bị nhiễm thuốc BVTV nhất Khi pha hặc phunthuốc BVTV trong điều kiện thờitiết nóng bức, các lỗ chân lông mở rộng sẽ tạo điều kiện cho các chất ngấm qua danhanh hơn, làm gia tăng tác hại của thuốc BVTV Khi da bị tổn thương do có vếtcắt, xước hoặc có bệnh ngoài da thì thuốc xâm nhập vào da sẽ nhanh hơn[11, 24,30]
Trang 191.1.3.3 Qua đường tiêu hóa
Thuốc BVTV cũng có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua đường tiêuhóa do những thói quen xấu của người lao động như ăn uống, hút thuốc trong khilàm việc hoặc ý thức vệ sinh cá nhân kém như không rửa chân tay trước khi ăn,dùng miệng để thổi thông vòi phun bị tắc, ăn phải thực phẩm có chứa dư lượngthuốc BVTV hoặc do ăn uống thuốc BVTV có chủ đích hoặc không có chủ đích.Nhiễm độc bằng đường tiêu hóa ít xảy ra trừ phần lớn là do cố ý hoặc khi uốngnhầm thuốc BVTV[11, 24, 30]
1.1.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người và môi trường
1.1.4.1 Ảnh hưởng của thuốc đối với con người
Ngoài tác dụng diệtcác loại cỏ, sâu, bệnh phá hoại mùa màng, thuốc BVTVcũng đã gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và mãn tính cho người tiếp xúc và sử dụngchúng Các độc tố trong thuốc BVTV xâm nhập vào rau quả, cây lương thực, thức
ăn gia súc và động vật sống trong nước rồi xâm nhập vào các loại thực phẩm, thứcuống như thịt, cá, sữa, trứng,…Dư lượng hóa chất BVTV quá giới hạn cho phéptrong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức khỏe con người và là vấn đềnhức nhối hiện nay của xã hội về an toàn thực phẩm[32] Một số loại thuốc BVTV
có thể gây quái thai, bệnh ung thư cho con người và động vật[26] Mức độ gây độccủa thuốc BVTV phụ thuộc vào các loại hoạt chất, lượng thuốc xâm nhập vào cơthể khác nhau[24] Ảnh hưởng của thuốc BVTV lên sức khỏe con người được chialàm 02 loại: cấp tính và mãn tính [32]
Ảnh hưởng sức khỏe cấp tính xảy ra khá phổ biến trong những người thườngxuyên pha phun thuốc BVTV tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước đangphát triển nơi người dân thường không tuân thủ các biện pháp sử dụng an toànthuốc BVTV Các triệu chứng của ngộ độc cấp tính có thể biểu hiện tại chỗ hoặctoàn thân Một số triệu chứng phổ biến gồm: mệt mỏi, bơ phờ; da bị tấy, viêm, xạm,
đổ mồ hôi; mắt có cảm giác ngứa, viêm, chảy nước, mờ, đồng tử bị co giãn; miệng
và họng nóng rát, chảy nước giãi, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy, nhứcđầu, chóng mặt, rối loạn, bồn chồn, cơ bắp co giật, đi lảo đảo, nói nghịu, khó thở,
Trang 20người xỉu đi Tác động sức khỏe toàn thân xảy ra khi thuốc BVTV xâm nhập vào cơthể và ảnh hưởng đến toàn bộ các cơ quan trong cơ thể Máu vận chuyển thuốcBVTV đến não, hệ thần kinh, mắt, tim, phổi, dạ dày, ruột, gan, thận và các cơ[32].Ngoài các ca ngộ độc cấp tính do phơi nhiễm nghề nghiệp và phơi nhiễm không chủđích với thuốc BVTV trong môi trường, thực phẩm thì ước tính 1/3 số ca tự tử trênthế giới là do chủ đích sử dụng thuốc BVTV [32, 43] Trên thế giới, ước tính có 3triệu ca ngộ độc cấp tính thuốc BVTV hàng năm [27, 49, 64] Khoảng 200.000 –300.000 ca tử vong do thuốc BVTV mỗi năm trên thế giới, trong đó phần lớn xảy
ra ở các nước đang phát triển [42, 64] Tính riêng trong năm 2015, có khoảng108.000 ca tử vong do ngộ độc không chủ đích, trong đó ngộ độc thuốc BVTV lànguyên nhân hàng đầu tại các tại các nước có thu nhập thấp và trung bình [45] Tỷ
lệ người bị ngộ độc thuốc BVTV cấp tính tại các nước đang phát triển là 20 trên100.000 nông dân [42] Tính riêng tại Trung Quốc, có 108.372 ca ngộ độc thuốcBVTV, trong đó có 7.437 ca tử vong trong giai đoạn từ 1997 đến 2003 [70]
Ảnh hưởng sức khỏe mãn tính xảy ra do một số loại thuốc BVTV và các chấtPOPs có khả năng tồn tại lâu dài trong cơ thể Các thuốc BVTV thường được hấpthu nhanh ở ruột non, vào máu rồi đi khắp cơ thể Chúng được lưu giữ ở mô mềm(chủ yếu ở mô mỡ) và có thể đi qua nhau thai để vào bào thai hoặc được bài tiết vàosữa mẹ [32, 43] Triệu chứng điển hình là hội chứng về thần kinh như giảm trí nhớ,rối loạn thần kinh trung ương, khó tập trung, tổn thương thần kinh ngoại biên gây têliệt, nặng hơn nữa là tổn thương não bộ, đặc biệt là thủy ngân hữu cơ sau đó là đếnlân hữu cơ và Clo hữu cơ [26] Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữaviệc mẹ bị nhiễm thuốc BVTV và sự phát triển không bình thường của thai sinh vàtrẻ nhỏ Một số thuốc BVTV và các chất POPs còn được ghi nhận là có khả năngảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm giảm khả năngchống lại bệnh của cơ thể Bên cạnh đó, các bệnh ung thư cũng là một vấn đề đángquan tâm do phơi nhiễm mãn tính với thuốc BVTV [26]
Tại Việt Nam, cứ 100.000 người lao động nông thôn thì có 1.700 người bị ảnhhưởng sức khỏe do thuốc BVTV [29] Thống kê cho thấy, đa số các vụ tai nạn trong
Trang 21ngành nông nghiệp là do nhiễm độc thuốc BVTV, đã có 6.807 vụ nhiễm độc thuốcBVTV với 7.527 trường hợp ngộ độc được cứu sống và 137 trường hợp tử vongtrong năm 2008[24] Theo Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2010) khoảng 17,5% tạinạn thương tích trong lao động sản xuất chè tại Thái Nguyên là do ngộ độc [34].
1.1.4.2 Ảnh hưởng của BVTV đến môi trường
Hình1: Chu trình phát tán thuốc BVTV trong hệ sinh thái[26]
Thuốc BVTV có chứa các kim loại nặng khó phân hủy trong môi trường như:chì, asen, thủy ngân, chỉ có dưới 1% lượng thuốc BVTV tác động hiệu quả đếncác loài sâu, bệnh, cỏ dại và côn trùng hại cây trồng, lượng thuốc BVTV còn lại(≥99%) thải ra môi trường đất, nước, không khí hoặc tồn dư trong các loại cây trồng
có sử dụng BVTV [27, 47, 70] Khi vào trong đất, cây sẽ hấp thu một phần thuốcBVTV, phần còn lại được keo đất giữ lại Thuốc BVTV tồn tại trong đất dần dầnđược phân giải qua tác động của yếu tố lý, hóa và hoạt động sinh học của đất.Thuốc BVTV, đặc biệt là nhóm Clo tồn tại với một lượngquá lớn trong đất nhưnglại khó phân hủy, dẫn đến chúng có thể tồn tại trong đất trong nhiều năm và gây hạicho các loài thực vật Sau một khoảng thời gian nhất định chúng sinh ra một hợpchất mới và thường có tính độc cao hơn[26]
Trang 22Thuốc BVTV tồn tại trong đất sẽ rò rỉ ra sông, suối do quá trình rửa trôi, xóimòn hoặc theo các mạch nước ngầm khiến thuốc BVTV phát tán ra các thành phầnmôi trường nước Mặt khác, nước có thể nhiễm thuốc BVTV nặng nề do con người
đổ dư thừa từ các chai, lọ chứa thuốc BVTV, hoặc do quá trình súc rửa xuống thủyvực gây ô nhiễm cả nguồn nước bề mặt và nguồn nước ngầm [26]
Khi phun thuốc BVTV, không khí bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi Dưới tácđộng của ánh sáng, nhiệt, gió… và tính chất hóa học, thuốc BVTV có thể lan truyềntrong không khí Lượng tồn trong không khí sẽ khuếch tán, có thể di chuyển xa vàlắng đọng vào nguồn nước mặt ở nơi khác gây ô nhiễm môi trường Nhiều loạithuốc BVTV có khả năng bay hơi vào không khí, thậm chí DDTcũng là chất có thểbay hơi, nhất là trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, chúng có thể vận chuyển đếnnhững nơi cách xa và gây ô nhiễm môi trường không khí[26]
1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên Thế giới
Thuốc BVTV được ghi nhận sử dụng lần đầu tiên là khoảng 2500 trước côngnguyên, khi người Sumerian (thuộc Iraq ngày nay) sử dụng hợp chấtlưu huỳnh đểdiệt côn trùng trên da[47].Quá trình phát triển và sử dụng thuốc BVTV được chialàm 04 giai đoạn: giai đoạn 01 (trước thế kỷ 20), với trình độ canh tác lạc hậu, cáccây trồng có năng suất thấp, tác hại của sâu, bệnh còn chưa lớn; để bảo vệ câytrồng, người ta dựa nhiều vào các biện pháp canh tác và giống sẵn có Con ngườithời kỳ này cũng đã biết sử dụng các loài cây độc và lưu huỳnh trong tro của núilửađể trừ sâu bệnh; đến thế kỷ 19, con người đã tìm ra một số thuốc BVTV bằngbiện pháp hóa học để diệt trừ sâu, bệnh nhưng các biện pháp này vẫn chưa thể đónggóp một vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp Giai đoạn 02 (từ đầu thế kỷ 20đến những năm 1960), đây là thời kỳ ra đời của các thuốc BVTV hữu cơ Giai đoạn
3 (những năm 1960 – 1980), vấn đề lạm dụng thuốc BVTVđã để lại những hậu quảrất xấu cho sinh vật và môi trường; các loại thuốc BVTV hữu cơ tổng hợp mới rađời có nhiều ưu điểm, an toàn hơn với môi trường đã làm gia tăngkhông ngừnglượng thuốc BVTV được đưa vào sử dụng Giai đoạn 4 (từ 1980 đến nay), hoạt
Trang 23động bảo vệ môi trường đượcquan tâm và chú ý hơn bao giờ hết; xuất hiện nhiềuloại thuốc BVTV mới, trong đó có thuốc BVTV sinh học, có hiệu quả cao với dịchhại, nhưng an toàn hơn với môi trường được ra đời [21].
Biểu đồ1: Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới [37]
Trong những năm gần đây, lượng thuốc BVTV được đưa vào sử dụng trung bìnhhàng năm của toàn thế giới là khoảng 2,3 – 3,3 triệu tấn [37] Trong đó, TrungQuốc, Mỹ, Pháp, Brazil, Nhật Bản là những quốc gia sản xuất và tiêu thụ thuốcBVTV lớn nhất trên thế giới Hầu hết lượng thuốc BVTV trên thế giới được sửdụng trong nông nghiệp (bảo vệ cây ăn quả, lương thực và rau màu)[70]
1.2.2 Tại Việt Nam
Thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam từ những năm 40 của thế kỷ XXnhằm bảo vệ cây trồng Theo thống kê, khoảng 100 tấn thuốc BVTV đã được đưavào sử dụng trong năm 1957 Đến năm 1984, khối lượng thuốc BVTV trung bìnhhàng năm được đưa vào sử dụng khoảng6.500 – 9.000 tấn Trung bình khoảng 0,3
kg thuốc BVTV trên 01 hecta Tuy nhiên, trong những năm gần đây khối lượngthuốc BVTV nhập và sử dụng đã tăng lên gấp hơn 10 lần Các loại thuốc BVTV màViệt Nam sử dụng có độ độc còn cao, nhiều loại thuốc đã trở lên lạc hậu[26]
Trang 24Hiện nay, phần lớn thuốc BVTV ở Việt Nam có nguồn gốc nhập khẩu vớikhối lượng trên 70.000 tấn thành phẩm mỗi năm với trị giá 210 – 250 triệu USD.Trên 90% thuốc BVTV được nhập từ Trung Quốc [25] Năm 2016, Việt Nam đãnhập 114.514,7 tấn thuốc BVTV [5] Trong 05 tháng đầu năm 2017, Việt Nam nhậpkhẩu thuốc trừ sâu đạt 400 triệu USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm 2016 [8].
Bảng 2: Tình hình nhập khẩu thốc BVTV tại Việt Nam gần đây[26]
Tỷ lệ (%)
Khối lượng (tấn)
Tỷ lệ (%)
Khối lượng (tấn)
Tỷ lệ (%)
Trang 251.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về kiến thức, thực hành
và một số yếu tố liên quan tới thực hành sử dụng thuốc BVTV
1.3.1 Kiến thức về sử dụng thuốc BVTV
Trên thế giới
Nghiên cứu của Saowanee Norkaew và cộng sự (2010) tại Thái Lan cho thấychỉ có 22,8% người trồng ớt có kiến thức đạt (trả lời đúng ≥ 60%) về sử dụng thuốcBVTV [63] Nghiên cứu tại Ấn Độ năm 2013 cho thấy chỉ có 42% ĐTNC có kiến
thể thông qua đường hô hấp (mũi) và ảnh hưởng đến phổi; 66,7% biết thuốc BVTV
có thể thấm qua da và thâm nhập vào cơ thể [59] Kết quả nghiên cứu của MustaphaF.A Jallow và cộng sự (2017) tại Kuwait cho thấy, con đường xâm nhập của thuốcBVTV vào cơ thể thông qua đường hô hấp là được đối tượng nghiên cứu biết đếnnhiều nhất (86%), tiếp theo là qua da (54%), qua đường tiêu hóa (42%) và vẫn còn14% ĐTNC không biết bất cứ con đường xâm nhập vào cơ thể của thuốc BVTV[53] Nghiên cứu của Hailay Abrha Gesesew và cộng sự (2016) tại Tanzania chothấy, phần lớn ĐTNC (87,5%) biết được ít nhất 01 vấn đề sức khỏe khi con ngườiphơi nhiễm với thuốc BVTV; có hơn một nửa (53,8%) ĐTNC biết tác động xấu củathuốc BVTV lên các loài động vật [51] Tại Trung Quốc, nghiên cứu cho thấynhững người trồng hoa quả có điểm kiến thức về độc tính của thuốc BVTV cao hơn
so với người trồng lúa và trồng rau [50] Theo nghiên cứu của Ngowi (2003) trênđối tượng là người nông dân trồng cà phê tại Tanzania cho thấy, 11% người dânthiếu kiếu thức dẫn đến khó khăn trong việc xử lý sâu, bệnh gây hại; chỉ có 16%biết cách diệt côn trùng gây hại mà không cần sử dụng thuốc BVTV[61].Nghiêncứu tại Lebanon (2004) chỉ ra rằng có tới gần 50%người dân không kể được tên củabất kỳ loại thuốc BVTV [66] Nghiên cứu sau can thiệp tại Ugandacho thấy, mặc dùđược tập huấn về cách sử dụng thuốc BVTV nhưng 40% ĐTNCkhông biết ý nghĩabảng mã màu cảnh báo độ độc của thuốc BVTV [64].Nghiên cứu của Belay TMengistie (2017) tại Ethiopia cho thấy có đến 76% ĐTNC biết thuốc BVTV ảnh
Trang 26hưởng đến sức khỏe con người nhưng chỉ có 25% biết nó ảnh hướng đến động vật[58].
Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) trên đối tượng là người trồng càphê cho thấy tỷ lệ đạt kiến thức đúng về sử dụng thuốc BVTV an toàn là 64,7%;
biết thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp là 93,4%, 43,1% quađường tiêu hóa và chỉ có 38,4% biết thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể qua 03 conđường là hô hấp, tiêu hóa và qua da, mắt; 64,9% biết tác hại của thu hoạch sớm hơntrước thời gian cách ly; chỉ có 57,7% có kiến thức đúng về đối tượng không nên điphun thuốc BVTV; tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về xử lý thuốc BVTV thừa saukhi phun rất thấp là 5,7%; có kiến thức đúng về xử lý chai, lọ, bao bì đựa thuốcBVTV sau khi phun là 67,8% và 30,4% có kiến thức đúng về cất giữa thuốc BVTV
an toàn[12] Kết quả nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) tại Hà Nội cho thấy chothấy 71,2% ĐTNC có kiến thức đạt về sử dụng thuốc BVTV[24] Nghiên cứu củaĐinh Thị Phương Hoa (2014) cho thấy 40,9% đối tượng nghiên cứu có kiến thức về
sử dụng thuốc BVTV đạt; 74,9% người dân có kiến thức đúng về cách pha thuốc,57,9% có kiến thức đúng về hướng gió khi phun thuốc BVTV, tỷ lệ có kiến thứcđúng về xử lý thuốc BVTV thừa và xử lý chai, lọ sau khi phun lần lượt là 5,3% và39,9%, tỷ lệ người dân kể được 04 dụng cụ bảo hộ lao động trở lên là 38,1%, có2,8% kể được 05 triệu chứng của ngộ độc thuốc BVTV trở lên; trong khi đó 44,6%cho rằng chỉ cần xử lý các triệu chứng ngộ độc thuốc BVTV ở nhà là đủ [11].Nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) tại Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ người đi phun
có kiến thức chung về sử dụng BVTV đạt là 60% [13] Nghiên cứu của Nguyễn ThịVân (2011) tại Bắc Ninh chỉ ra có 16,8% đối tượng có kiến thức chung về sử dụng
an toàn thuốc BVTV [35].Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh (2010) trên đốitượng chuyên canh chè tại Thái Nguyên cho thấy, tỷ lệ đối tượng hiểu biết đầy đủ
về tác dụng của BVTV là 37,9%; 50,1% ĐTNC hiểu đầy đủ về tác hại của thuốcBVTV; 29,6% ĐTNC hiểu biết cách chọn thời tiết và hướng gió khi phun, 24,7%hiểu đầy đủ cất giữ an toàn; 14,5% biết đọc cảnh báo mức độ độc hại qua vạch màu
Trang 27trên nhãn thuốc chiếm; 40,5% ĐTNC biết đầy đủ đường xâm nhập của thuốc BVTVvào cơ thể; chỉ có 22,3% ĐTNC kể được đầy đủ các loại phương tiện bảo vệ cánhân cần thiết; 22,6% ĐTNC hiểu biết đầy đủ các triệu chứng ngộ độc thuốc BVTV
và tỷ lệ rất thấp (5,5%) ĐTNC biết cách xử trí ngộ độc[14]
Như vậy có thể thấy, người nông dân trên thế giới nói chung và tại Việt Namnói riêng vẫn còn thiếu kiến thức về sử dụng thuốc BVTV an toàn Đặc biệt là kiếnthức về xử lý dụng cụ, vỏ bao bì sau phun, cất giữa dụng cụ phun an toàn, các đồBHLĐ cần thiết khi phun, các triệu chứng và cách xử lý ngộ độc thuốc BVTV
1.3.2 Thực hành về sử dụng thuốc BVTV
Trên thế giới
Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy có tới 91% người dân trồng ớt thực hành đạt
về sử dụng thuốc BVTVan toàn (đạt ≥65 điểm, điểm tối đa là 92)[63] Sử dụng bảo
hộ lao động là biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm, tuy nhiên trong nghiên cứu củaHailay Abrha Gesesew và các cộng sự (2016) khảo sát 796 nông dân tại Ethiopiacho thấy, có tới gần 42% người nông dân chưa từng sử dụng bất kỳ bảo hộ lao độngnào để phòng phơi nhiễm với thuốc BVTV [51] Nghiên cứu của Jallow và cộng sựtại Kuwait (2017) cho thấy chỉ có gần 5% ĐTNC sử dụng đầy đủ đồ BHLĐ khi phahoặc phun; trong đó tỷ lệ ĐTNC sử dụng ủng là 19%, 42% ĐTNC sử dụng mũ, 4%
sử dụng khẩu trang, sử dụng quần áo bảo hộ lao động là 18%, sử dụng kính là 48%
và tỷ lệ sử dụng găng tay là 61%[53] Một nghiên cứu tại Ấn Độ năm 2013 lại chothấy có hơn 40% người dân không sử dụng bảo hộ lao động khi phun thuốc BVTV[59] Anna H Oesterlund và các cộng sự (2014) tại Uganda cho thấy có 73% sửdụng quần áo mặc hàng ngày đi phun thuốc BVTV, đi ủng là 51% và mặc áo dài tay
là 24% [64] Trong nghiên cứu của Pascale R Salameh và cộng sự (2004) cho thấy,chỉ có 61,2% đội mũ, 47,1% đi ủng khi phun thuốc BVTV; tỷ lệ người dân sử dụnggăng tay, quần áo bảo hộ, đeo khẩu trang và các trang thiết bị khác khi phun thuốcBVTV chỉ đạt dưới 25%[66] Tại Indonesia, một nghiên cứu năm 2013 cho thấy90,4% đội mũ khi phun thuốc BVTV; tỷ lệ đeo găng tay và khẩu trang khi phathuốc BVTV lượt lượt là 48,1% và 73,1; đeo găng tay và khẩu trang khi phun là
Trang 2844,2% và 71,2%; đặc biệt tỷ lệ đeo kính và đi ủng khi phun thuốc BVTV đạt thấplần lượt là 3,8%và 1,9% [69] Nghiên cứu của Julia Blanco-Muñoz và MarinaLacasaña tại Mexico năm 2011 cho thấy, chỉ có 2% ĐTNC sử dụng đúng đồ bảo hộlao động khi phun[48] Một nghiên cứu tại Iran (2012) lại chỉ ra rằng, phần lớnĐTNC (60%) không sử dụng bất cứ đồ bảo hộ lao động nào khi phun thuốcBVTV[52] Nghiên cứu của Negatu B và cộng sự tại Ethiopia (2016) cho thấy, chỉ
có 10% ĐTNC sử dụng đầy đủ đồ bảo hộ lao động khi phun[60]
Tắm rửa sau khi phun thuốc BVTV là biện pháp hữu hiệu giảm nguy cơ ảnhhưởng của thuốc lên cơ thể, trong nghiên cứu của Negatu B và cộng sự tại Ethiopia(2016) cho thấy, có tới 62% ĐTNC không thường xuyên tắm rửa sau khi phun [60]
Về lựa chọn lựa chọn thuốc và lựa chọn hướng gió khi phun, nghiên cứu tạiTanzania năm 2003 cho thấy có51% chọn loại thuốc BVTV dựa trên kinh nghiệmchỉ có 25% sử dụng liều lượng thuốc BVTV cho cà phê theo khuyến nghị, còn lại75% sử dụng liều lượng thuốc BVTV dựa theo kinh nghiệm; 6% đối tượng nghiêncứu tuân thủ theo hướng dẫn của nhà khuyến nông, nhà nghiên cứu hoặc các đại lýbán thuốc BVTV và 2% nghe theo hướng dẫn của hàng xóm trong việc quyết địnhkhi nào nên sử dụng thuốc BVTV; có 65% người dân sử thuốc dạng hỗnhợp[61].Nghiên cứu Theeradej Promwong và Prasert Khamon (1998) trên ngườiHmong tại Thái Lan cho thấy 50,1% chọn thuốc BVTV dựa trên kinh nghiệm củabản thân; 63,6% thực hành sử dụng thuốc BVTV đúng kỹ thuật[41] Nghiên cứucủa Mustapha F.A Jallow và cộng sự tại Kuwait (2017) cho thấy, chỉ có 18%ĐTNC luôn luôn phun thuốc BVTV theo hướng gió[53]; nghiên cứu của Pascale RSalameh và cộng sự (2004) tại Lebanon cho thấy tỷ lệ người dân phun đúng theochiều gió khi đi phun là 92,9% [66]
Về bảo quản, lưu trữ thuốc BVTV và dụng cụ phun, nghiên cứu của JuliaBlanco-Muñoz và Marina Lacasaña tại Mexico năm 2011 cho thấy, có tới 42%ĐTNC bảo quản thuốc và dụng cụ phun tại nhà, đây được coi là một nguồn nguy cơgây ảnh hưởng sức khỏe của hộ gia đình [48] Jallow và cộng sự nghiên cứu trênđối tượng là nông dân tại Kuwait (2017) cho thấy 59% bảo quản và lưu trữ thuốc
Trang 29BVTV tại kho riêng có khóa kín, 34% để ở kho nhưng không khóa kín 30% để ởngoài đồng, 15% để ở chuồng nuôi động vật, 20% để ở quanh khu vực nơi ở[56].Tại Gaza, nghiên cứu cho thấy 78,8% lưu trữ thuốc BVTV ở ruộng và 18% lưutrữ tại nhà[68].Elikana E Lekei, Aiwerasia V Ngowi và Leslie London (2014)nghiên cứu trên đối tượng là nông dân tại Tazania cho thấy, có 79% lưu trữ thuốcBVTV tại nhà [56] Nghiên cứu tại Ethiopia (2002) chỉ ra 40% để thức ăn gần nơi
có thuốc BVTV và 90% vẫn sử dụng nguồn nước gần nơi phun thuốc BVTV đểuống[57] Về vệ sinh sau khi phun thuốc, nghiên cứu của Y Menkanomen và cộng
sự cho thấy, có 33,1% luôn luôn tắm ngay sau khi phun thuốc BVTV, còn lại 66,1%thỉnh thoảng mới tắm sau khi phun[57]
Về xử lý lượng thuốc dư thừa sau khi phun và xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV,Trong nghiên cứu tại Nepal của Gayatri Khanal và Amarjeet Singh (2016) lại chothấy có 60% vứt vỏ thuốc BVTV gần nguồn nước và 54,4% bán các vỏ chai, lọthuốc BVTV cho người buôn phế liệu [40] Nghiên cứu của Jallow và cộng sự tạiKuwait (2017) cho thấy, có 59% ĐTNC bảo quản thuốc BVTV dư thừa tại khoriêng có khóa kín, 34% để ở kho nhưng không khóa kín 30% để ở ngoài đồng, 15%
để ở chuồng nuôi động vật, 20% để ở quanh khu vực nơi ở [53] Một nghiên cứu tại
Ấn Độ cho gần 50% xử lý thuốc BVTV dư thừa bằng cách chôn lấp [59] Nghiêncứu của David Pimentel(2009) lại cho thấy, chỉ có 45% sử dụng biện pháp chôn lấphoặc đốt tiêu hủy vỏ thuốc BVTV [65]
Về trung bình số đợt sử dụng thuốc BVTV trong một năm và tiền sử phơinhiễm, nghiên cứu của J Jin và các cộng sự (2017) trên đối tượng người nông dântại Trung Quốc cho thấy, hơn 35% ĐTNC sử dụng từ 10 đợt/năm trở lên, sử dụng từ
6 – 9 đợt là 29,2% và ≤ 5 đợt là 35,2%[38].Nghiên cứu của Elikana E Lekei vàcộng sự trên đối tượng là nông dân nghèo tại Tazania (2014) cho thấy 93%ĐTNC
đã từng bị từ 1 đến 7 lần ngộc độc thuốc BVTV [56] Nghiên cứu của AVF Ngowi(2003) cho thấy, 15% đối tượng nghiên cứu cho biết từng ít nhất 01 lần bị ngộ độcthuốc BVTV[61] Nghiên cứu Theeradej Promwong và Prasert Khamon (1998) trên
Trang 30người Hmong tại Thái Lan cho thấy 35,7% đối tượng nghiên cứu có nhiễm thuốcBVTV trong máu [41].
Tại Việt Nam
Về thực hành chung: Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) cho thấy, tỷ
lệ người dân trồng cà phê có thực hành chung về sử dụng thuốc BVTV đạt là 40,8%[12] Nghiên cứu của Định Thị Phương Hoa (2014) với phương pháp nghiên cứukết hợp cho thấy thực hành đạt về sử dụng thuốc BVTV đúng là 38,1% [11] Trongnghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014) tại Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ người đi phun
có thực hành sử dụng BVTV đạt là 39,5 [13] Nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015)trên đối tượng là người trồng rau tại Hà Nội cho thấy, tỷ lệ thực hành chung sửdụng thuốc BVTV đạt là 56,8% [24] Nguyễn Thị Vân nghiên cứu trên đối tượngtrồngngười nông dân tại Bắc Ninh năm 2011 cho thấy, tỷ lệ đối tượng thực hànhchung về sử dụng HCBVTV đạt là 16,8% [35]; kết quả nghiên cứu của NguyễnTuấn Khanh (2010) tại Thái Nguyên cho thấy, tỷ lệ người dân trồng chè thực hành
sử dụng thuốc BVTV đúng là 17,4% [14] Nghiên cứu của K’Vởi và Đỗ Văn Dũng(2008) tại Lâm Đồng trên người nông dân trồng rau, tỷ lệ thực hành đạt vềHCBVTV là 27% [36]
Về thời gian, thời điểm và hướng gió khi phun: Nghiên cứu của Lê VănCường và Ngô Thị Thuận trên đối tượng trồng rau tại Thanh Hóa năm 2016 chothấy tỷ lệ ĐTNC lựa chọn thời điểm phun vào sáng sớm và chiều mát là 93,94% vàphun vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày là 6,06%; chỉ có 22,27% phun theo chiềugió, 69,7% phun theo đường zíc zắc và 3,03% không quan tâm đến hướng gió [6].Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) tại Đắk Lắk lại cho thấy, 63,4% phunvào buổi sáng, 15,1% phun cả ngày và tỷ lệ ĐTNC thực hành lựa chọn thời điểm điphun thuốc BVTV đúng là 63,4% [12] Nghiên cứu của Quách Thị Hoa tại ThanhHóa thì cho thấy, 28% ĐTNC đi phun vào buổi sáng, 12% đi phun và buổi chiều và60% đi phun cả ngày; có tới 93,5% đối tượng đi phun vào thời tiết mát và 3,5% điphun vào lúc trời nắng; chỉ có 31,5% phun theo chiều gió [13]
Trang 31Về kiểm tra nhãn mác trước phun và liều lượng khi pha: nghiên cứu của PhạmThị Thúy Hoa (2016) tại Đắk Lắk cho thấy, tỷ lệ ĐTNC kiểm tra nhãn mác trướckhi phun thuốc là 87,8%; pha đúng liều lượng tỷ lệ pha thuốc theo đúng chỉ dẫn là63,6%, pha đặc hơn hoặc pha theo kinh nghiệm là 29,8%[12]; Theo Đỗ Tất Thành(2015) nghiên cứu trên đối tượng trồng rau tại Hà Nội, chỉ có 2,8% ĐTNC pha theohướng dẫn trên bao bì, 72,9% ĐTNC pha đặc hơn, 5,6% pha loãng hơn hướng dẫn
và 18,7% pha theo kinh nghiệm [24]
Về sử dụng đồ BHLĐ khi pha và phun: nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoatại Đắk Lắk năm 2016 cho thấy, chỉ có 27,3% thực hành đúng về sử dụng đồ bảo hộlao động, trong đó có tới 71,5% sử dụng ủng cao su, 71,8% sử dụng mũ/nón, 97,5%
sử dụng khẩu trang, 71,5% sử dụng găng tay, 35,5% sử dụng áo mưa và 44,2% sửdụng kính [12] Nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) lại cho thấy, găng tay và khẩutrang là 02 loại BHLĐ được đối tượng nghiên cứu sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ lầnlượt là 96% và 93,6%, tiếp theo là quần áo bảo hộ/áo mưa (18,4%), mũ, nón(14,4%), ủng (8,8%) và kính (7,2%) [24]
Về xử lý thuốc, dụng cụvà vỏ bao bì sau phun: nghiên cứu của Phạm Thị ThúyHoa tại Đắk Lắk cho thấy, chỉ có 0,8% thực hành đúng xử lý thuốc BVTV sau khiphun; 55,8% thực hành đúng xử lý bao bì, vỏ thuốc BVTV sau phun, trong đó43,9% gom vào một chỗ để công ty môi trường đô thị thu rác, 8,1% chôn; 13,2%đốt (đối với vỏ bao bì bằng giấy), vẫn còn 41,7% vứt ngay tại chỗ pha, phun và3,6% bán cho người thu mua phế liệu; 69,6% thực hành đúng chọn địa điểm rửabình phun an toàn[12] Nguyễn Quang Mạnh và Trần Thế Hoàng (2011) nghiên cứutrên đối tượng người canh tác chè tại Thái Nguyên cho thấy 32,3% vứt bao bì, vỏthuốc BVTV bừa bãi sau khi phun; có tới 55% rửa bình phun tại sông, suối, ao hồ,41,5% rửa tại vườn chè và 3,5% không rửa bình phun[17] Nghiên cứu của Lê VănCường và Ngô Thị Thuận chỉ ra rằng có tới 88,9% xử lý thuốc pha còn thừa bằngcách phun đi phun lại cho hết, 9,1% đổ xuống mương ở đồng và 2,02% phun chocây trồng khác; 62,6% ĐTNC vứt vỏ bao bì thuốc BVTV đúng nơi quy định và
Trang 3237,4% vứt ở bãi rác trên đồng ruộng; chỉ có 21,2% rửa ở rơi quy định, trong khi đó
có tới 74,8% rửa dụng cụ phun tại đồng ruộng và 4% mang về nhà rửa[6]
Về bảo quản, cất giữ thuốc và dụng cụ phun: kết quả nghiên cứu của Phạm ThịThúy Hoa tại Đắk Lắk năm 2016 cho thấy, có tới 77,1% ĐTNC thực hành đúng vềlựa chọn địa điểm bảo quản, cất giữ thuốc BVTV, trong đó có tới 81,3% ĐTNC bảoquản thuốc BVTV tại kho/khu vực an toàn ngoài nhà, 6,3% để gần/trong chuồng giasúc, 8,3% trong nhà 3,9% treo trên cây/chôn dưới đất; có tới 74% đối tượng nghiêncứu thực hành đúng về lựa chọn địa điểm bảo quản, cất giữ bình phun, trong đó74,7% để ngoài nhà, 17,1% để trong nhà, 6,8% tại chuồng gia súc, 1,4% ngoàivườn/sân/gần giếng[11] Lê Văn Cường và Ngô Thị Thuận (2016) nghiên cứu trênđối tượng người trồng rau tại Thanh Hóa chỉ ra rằng, 86,9% ĐTNC cất giữ dụng cụphun thuốc ở nơi xa nhà, chuồng trại vật nuôi và 13,1% cất giữ trong nhà, chuồngtrại vật nuôi [6] Nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) tại Hà Nội cho thấy, 79,2%ĐTNC mua thuốc BVTV đủ dùng cho từng lần phun nên không cất giữ ở thuốcBVTV trong nhà và 20,8% vẫn cất giữ thuốc BVTV ở nhà nhưng được gói và cấtgiữ ở nơi kín đáo; 60% ĐNTC cất giữ bình phun trong nhà (ngang), 9,6% cất giữbình phun trong bếp[24]
Về vệ sinh cá nhân sau phun và xử lý nhiễm độc: kết quả nghiên cứu củaPhạm Thị Thúy Hoa tại Đắk Lắk năm 2016 chỉ ra rằng, có 84,3% ĐTNC tắm bằng
xà phòng ngay sau khi phun; tỷ lệ này trong nghiên cứu của Quách Thị Hoa (2014)tại Thanh Hóa cho thấy là 98,5% [13]; trong nghiên cứu của Nguyễn Quang Mạnh
và cộng sự tại Thái Nguyên năm 2011 thì tỷ lệ này là 55,2% [17]; trong khi đó, tỷ lệnày trong nghiên cứu của Đỗ Tất Thành (2015) thì tỷ lệ này 85,6% [24] Kết quảnghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) tại Đắk Lắk cho thấy, khi bị nhiễm độcthuốc BVTV thì chỉ có17,4% ĐTNC đưa/đi đến cơ sở y tế và 24,7% tự xử trí tạinhà[12]; trong nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) các ĐTNC xử lý khi bịnhiễm độc thuốc BVTV bằng cách tự xử lý tại nhà (54,8%), 2,8% đưa/đi đến trạm y
tế, có tới 11,8% không xử lý gì và 31,3% không biết xử lý như thế nào [11]
Trang 33Từ các nghiên cứu trên có thể thấy, vẫn còn tỷ lệ khá lớn người nông dân thựchành sử dụng thuốc BVTV chưa an toàn Đặc biệt là thực hành sử dụng đồ BHLĐ,liều lượng khi pha, cách xử lý thuốc, dụng cụ và vỏ bao bì sau phun, bảo quản, cấtgiữ thuốc BVTV và dụng cụ phun, cách xử trí khi bị nhiễm độc.
1.3.3 Một số yếu tố liên quan về sử dụng thuốc BVTV
Trên thế giới
Nghiên cứu tại Ethiopia cho thấy, có mối liên quan giữa diện tích canh tác vàlượng thuốc BVTV sử dụng (χ2 = 15,5, p<0,01) [58].Nghiên cứu của Jallow và cộng
sự tại Kuwait (2017) lại cho thấy có mối liên quan giữa thâm niên làm nông nghiệp
và lưu trữ, xử lý thuốc BVTV an toàn (χ2 = 8,98, p<0,05); và mối liên quan giữatuổi, trình độ học vấn với thực hành sử dụng BHLĐ khi pha và phun thuốc BVTVtrong đó những người nông dân trẻ hơn và có trình độ học vấn sử dụng BHLĐ khipha, phun thường xuyên hơn so với những người nông dân già hơn, trình độ họcvấn thấp hơn (χ2 = 9,89, p<0,05)[53] Elikana E Lekei và cộng sự (2014) nghiên cứutrên đối tượng là nông dân tại Tazania cho thấy, những người có trình độ học vấncao hơn thì ít lưu trữ thuốc BVTV tại nhà hơn (PRR = 0.3; 95% CI = 0.1-0.7) vàthực hành kiểm tra dụng cụ phun tốt hơn (PRR = 1.2; 95% CI = 1.03-1.4)[56].Nghiên cứu của Wenyu Wang và cộng sự (2017) tại Trung Quốc cho thấy, cómối liên quan giữa giới tính và hành vi sử dụng thuốc BVTV đúng [67] Nghiên cứucủa Kishor Atreya (2007) tại Nepal lại chỉ ra mối liên quan giữa giới tính với thựchành chọn hướng gió và mặc đồ bảo hộ khi phun (p<0,01)[46]
Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa (2016) cho thấy có mối liên quan giữađặc điểm dân tộc, trình độ học vấn, số năm tiếp xúc, tiếp cận thông tin và kiến thức
sử dụng thuốc BVTV, trong đó người dân tộc kinh có kiến thức đạt cao hơn ngườidân tộc thiểu số (95% CI: 3,0-10,1, p<0,001); có mối liên quan giữa đặc điểm dântộc, trình độ học vấn, tiếp cận thông tin và thực hành sử dụng thuốc BVTV, trong
đó người dân tộc kinh thực hành đạt cao hơn so với người dân tộc thiểu số (95% CI:6,2-107,6, p<0,001) Kết quả nghiên cứu cắt ngang của Đỗ Tất Thành (2015) trên
Trang 34người trồng rau tại Hà Nội cho thấy, những đối tượng có thâm niên sử dụng thuốcBVTV trên 10 năm có tỷ lệ thực hành đạt cao gấp 3,6 lần so với những người sửdụng thuốc BVTV từ 1-5 năm (95%CI: 1,2-10,8); những đối tượng có kiến thức đạt
có tỷ lệ thực hành đạt cao gấp 2,376 lần so với những đối tượng có kiến thức khôngđạt (p<0,05; 95%CI: 1,078-5,235) [24] Theo kết quả nghiên cứu của Quách ThịHoa (2014), có mối liên quan ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và thực hành
sử dụng BVTV an toàn (95%CI: 1,824 – 15,359); có mối liên quan giữa kiến thức
và thực hành sử dụng an toàn (OR= 2,4, 95%CI:1,177 – 4,985)[13].Kết quả nghiêncứu của Lương Mai Anh và Lê Thị Thanh Xuân (2014) tại Thanh Hóa cho thấy, cómối liên quan giữa thực hành sử dụng thuốc BVTV và trình độ học vấn (OR = 2,16,95% CI: 1,13 – 4,12), thâm niên tiếp xúc với thuốc BVTV (OR = 1,83, 95% CI:1,02 – 3,28), kiến thức chung về thuốc BVTV (OR = 3,56, 95% CI: 1,88 – 6,72) [1].Nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hoa (2014) trên người nông dân trồng lúa chothấy có mối liên quan giữa thực hành sử dụng thuốc BVTV và tiếp cận thông tin(1,5<OR<4,8, p<0,05)[11].Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân (2011)chỉ ra mối liênquan giữa tuổi và thực hành sử dụng an toàn BVTV (p<0,05), thâm niên tiếp xúcvới BVTV và thực hành sử dụng an toàn ( χ2 =8 p<0,05); mối liên quan giữa kiếnthức và thực hành sử dụng an toàn BVTV, nhóm có kiến thức đạt có tỷ lệ thực hànhđạt cao gấp 3,89 lần so với nhóm có kiến thức không đạt [35] Nguyễn Quang Mạnh
và Trần Thế Hoàng (2011) nghiên cứu trên đối tượng người canh tác chè tại TháiNguyên cho thấy có mối liên quan giữa đặc điểm dân tộc, người dân tộc kinh thựchiện hành vi dự phòng nhiễm thuốc BVTV mức độ tốt cao hơn so với người dân tộcthiểu số (P<0,05)[17] Nghiên cứu của K’Vởi và Đỗ Văn Dũng (2008) trên ngườitrồng rau tại tỉnh Lâm Đồng chỉ ra nhóm tuổi và trình độ học vấn là 02 yếu tố tươngtác lên mối quan hệ kiến thức với thực hành đúng về BVTV (p<0,01) [36]
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã cho thấy mối liên quangiữa một số yếu tố nhân khẩu học như tuổi, giới tính, đặc điểm dân tộc, trình độ họcvấn, diện tích canh tác cũng như kiến thức về sử dụng thuốc BVTV an toàn, thiêmniên tiếp xúc với thuốc BVTV, tiếp cận thông tin với thực hành sử dụng thuốcBVTV an toàn
Trang 35Nhìn chung,các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về thực trạng sửdụng thuốc BVTV thì đối tượng nghiên cứu là người nông dân nói chung và chưa đisâu khai thác về thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên đối tượng là người dân tộcthiểu số Đặc biệt là người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt Do đó, hướng nghiêncứu của chúng tôi tập trung vào giải quyết vấn đề trên.
Trang 36Khung lý thuyết
Khung lý thuyết nghiên cứunày được xây dựng dựa trên mô hình các yếu tố quyếtđịnh sức khỏe của Dahlgren và Whitehead và các nghiên cứu đã được thực hiện vềthực trạng kiến thức, thực hành sử dụng thuốc BVTV của người dân[11-13, 24, 31]
Hình 2: Khung lý thuyết nghiên cứu
Các yếu tố nhân khẩu học và xã hội học:
Tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn
Diện tích đất trồng cam, quýt
Kiến thức
về thuốc và cách sử dụng BVTV:
Kiến thức về cây cam, quýt và
các loại bệnh của cây
Phân loại thuốc BVTV
Tác dụng của thuốc BVTV
Tác hại của thuốc BVTV
Đường xâm nhập của thuốc
BVTV vào cơ thể người
Bảo hộ lao động khi tiếp xúc với
Đọc hướng dẫn trên bao bì
Vệ sinh cơ thể sau khi tiếp xúc với thuốc BVTV
Xử trí khi nhiễm độc thuốc BVTV
Các yếu tố tăng cường, tạo điều kiện:
Chương trình truyền thông, hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV tại địa phương
Thâm niên tiếp xúc với thuốc BVTV
Tác động của người bán thuốc
Các quy định về sử dụng, bảo quản và xử lý thuốc BVTV
Trang 37CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu địnhlượng kết hợp định tính (thiết kế nghiên cứu kết hợp giải thích):
Hình 3: Mô hình các bước nghiên cứu
Phiên giải và giải thích các kết quả ĐL
Bàn luận, ý nghĩa và khuyến nghị
Điều tra cắt ngang: 385 người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt năm 2018Quan sát 20 người đang phun thuốc BVTV cho cam, quýt
Thu thập số liệu ĐL
Làm sạch bộ số liệuThống kê mô tảPhân tích mối liên quanPhần mềm SPSS 23.0Phân tích số liệu ĐL
Lựa chọn đối tượng có chủ đích:
Thảo luận nhóm: 02 nhóm với người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu ĐL
06 cuộc PVS người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu ĐL
02 cuộc PVS người bán thuốc BVTV
03 cuộc PVS với cán bộ Trạm Trồng trọt và BVTV huyện và cán bộ nông nghiệp xã
Lựa chọn đối tượng cho
Lồng ghép các kết quả
ĐL và ĐT
Trang 38Trong đó, phần nghiên cứu định lượng được chúng tôi sử dụng thiết kếnghiên cứu mô tả cắt ngang;các thông tin về kiến thức và thực hành sử dụng thuốcBVTV của người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt được thu thập bằng bộ công cụ
bộ câu hỏi cấu trúc được thiết kế sẵn và bảng kiểm quan sát trực tiếp Phần nghiêncứu định tính nhằm thu thập thông tin định tính về thực hành sử dụng thuốc BVTV
và các yếu tố liên quan thông qua thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu đối tượngnghiên cứu là người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt (được lựa chọn trong quá trìnhthực hiện nghiên cứu định lượng)và phỏng vấn sâu các bên liên quan gồm: ngườibán thuốc BVTV, cán bộ Trạm trồng trọt và BVTV huyện và cán bộ nông nghiệp
xã, qua đó làm rõ hơn kết quảnghiên cứu định lượng
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
Là người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại02 xã Dương Phong và QuangThuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
Tiêu chí lựa chọn:
+ Là người phun thuốc BVTV chính trong hộ gia đìnhdân tộc thiểu số trồngcam, quýt, có trực tiếp phun thuốc BVTV trong vòng 06 tháng qua (Tính từ thờiđiểm phỏng vấn trở về trước Nếu có 02 người phun chính trong 01 hộ gia đình trởlên, ưu tiên phỏng vấn người có số lần phun nhiều hơn, sau đó xét đến tiêu chíngười có lần phun gần thời điểm phỏng vấn nhất và nhiều tuổi hơn)
+ Trên 18 tuổi và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ:
+ Là người dân tộc Kinh
+ Là người từ chối tham gia nghiên cứu
+ Là đối tượng đã trả lời phỏng vấn trong đợt thử nghiệm bộ công cụ
+ Không có khả năng trả lời các câu hỏi phỏng vấn
+ Đến hộ gia đình 03 lần nhưng không gặp
Trang 392.2.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
a Đối tượng tham gia thảo luận nhóm: người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại xã Dương Phong và Quang Thuận,huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn:
Tiêu chí lựa chọn:
+ Đã tham gia vào trả lời phỏng vấn định lượng
+ Sẵn sàng tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính
Tiêu chí loại trừ:đối tượng từ chối tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính
b Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu: người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại xã Dương Phong và Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn:
Tiêu chí lựa chọn:
+ Tham gia vào trả lời phỏng vấn định lượng
+ Sẵn sàng tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính
Tiêu chí loại trừ: từ chối tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính
c Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu: người bán thuốc BVTV:
+ Từ chối tham gia nghiên cứu
+ Không bán thuốc thường xuyên hoặc ít hơn 6 tháng qua (tính từ thời điểmphỏng vấn trở về trước)
Trang 40d Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu: cán bộ của Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Bạch Thông:
+ Từ chối tham gia nghiên cứu
+ Là cán bộ có thời gian làm việc tại Trạm Trồng trọt và BVTV huyện BạchThông ít hơn 6 tháng qua (tính từ thời điểm phỏng vấn trở về trước)
e Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu: cán bộnông nghiệp của xã Dương Phong và Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn:
Tiêu chí lựa chọn:
+ Là cán bộ có thời gian làm việc về lĩnh vực nông nghiệp của xã DươngPhong và Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn trong vòng 6 tháng (tính
từ thời điểm phỏng vấn trở về trước)
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ:
+ Từ chối tham gia nghiên cứu
+ Là cán bộ có thời gian làm việc về lĩnh vực nông nghiệp của xã DươngPhong và Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạnít hơn 6 tháng (tính từthời điểm phỏng vấn trở về trước)
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3.1 Thời gian
Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 01/12/2017 đến 15/6/2018