1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

TIỂU LUẬN LÝ LUẬN LUẬT SƯ VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI KHÁCH HÀNG

18 4K 109

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 58,35 KB
File đính kèm MỐI QUAN HỆ LUẬT SƯ VỚI KHÁCH HÀNG..rar (74 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận về mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng;Nghề Luật sư ở Việt Nam là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của Luật sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần phát triển kinh tế xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.Nghề Luật sư là một nghề luật, trong đó các Luật sư bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân, Luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng như: tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bảo vệ quyền lợi của thân chủ trước Tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng. Người muốn hành nghề luật phải được công nhận là Luật sư.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HỌC VIÊN TƯ PHÁP CS TPHCM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỚP LUẬT SƯ 18.3C

TIỂU LUẬN Môn: Pháp luật về Luật sư và Nghề Luật sư

Tên đề tài: Lý luận và thực trạng mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng ở Việt

Nam hiện nay

I MỞ ĐẦU

Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, bất cứ ở giai đoạn nào cũng tồn tại những điều bất công Từ những bất công ấy đã xuất hiện một số người dũng cảm, can đảm đứng ra bảo vệ kẻ yếu, bênh vực lẽ phải nhằm mục đích duy trì ánh sáng công lý

và sự thật khách quan của sự việc Trải qua nhiều giai đoạn với tên gọi khác nhau đến nay những người ấy được gọi là Luật sư và nghề Luật sư từ đó đã ra đời

Trong giai đoạn hiện nay, vị trí, vai trò Luật sư và nghề Luật sư ngày càng được

đề cao, Luật sư góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ con người, công lý

và thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Toà án dựa trên tinh thần tôn trọng Hiến pháp và pháp luật

Ở nước ta, với một nền tư pháp dân chủ, khi các giá trị về quyền con người ngày càng được tôn trọng và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động của Luật sư được coi là một trong những đại lượng để đánh giá khả năng thực thi pháp luật và chất lượng của hoạt động tư pháp Theo dòng chảy của thời gian, cùng với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới, hệ thống tư pháp nước ta không ngừng hoàn thiện mình về phương diện pháp luật nói chung và pháp luật về Luật sư, hành nghề Luật sư nói riêng nhằm tạo nên cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của Luật sư

Trong những cơ sở dùng làm thước đo đánh giá vị thế, vai trò và hiệu quả hoạt động của Luật sư, nghề Luật sư thì mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng mang tính quyết định sự sống còn của nghề Luật sư

Xuất phát từ những ý nghĩa trên, đề tài "Lý luận và thực trạng mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng ở Việt Nam hiện nay" là một trong những đề tài khá

quan trọng, có ý nghĩa thiết thực cho những ai quan tâm đến nghề nghiệp Luật sư Để hiểu sâu hơn, chúng ta hãy cũng đi sâu vào nghiên cứu đề tài ấy

II THỰC TRẠNG

1- Một số lý luận trên cơ sở pháp luật về Luật sư và nghề Luật sư:

Trang 2

(Căn cứ áp dụng Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 gọi tắt là Luật Luật sư).

Trước khi nghiên cứu sâu vào thực trạng mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về Luật sư và nghề Luật sư

Nghề Luật sư ở Việt Nam là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của Luật sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh,

xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Nghề Luật sư là một nghề luật, trong đó các Luật sư bằng kiến thức pháp luật,

kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân, Luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng như: tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bảo vệ quyền lợi của thân chủ trước Tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng Người muốn hành nghề luật phải được công nhận là Luật sư

Tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp là nền tảng cơ bản của nghề Luật

sư Mỗi Luật sư phải tự ý thức được sứ mệnh của mình, biết giữ gìn phẩm chất và danh dự nghề nghiệp bằng việc tự mình học tập nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn; nêu gương trong việc chấp hành pháp luật; tự giác tuân thủ các quy tắc đạo đức

và ứng xử nghề nghiệp trong quá trình hành nghề, trong lối sống và giao tiếp xã hội hàng ngày Từ đó, tạo niềm tin cùng với uy tín nghề nghiệp và sự kính trọng của khách hàng, của xã hội đối với nghề Luật sư đang được tôn vinh

1.1/ Nguyên tắc hành nghề:

Khi hoạt động nghề nghiệp, Luật sư phải tuân thủ các nguyên tắc hành nghề được quy định tại Điều 5 Luật Luật sư:

- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

- Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam

- Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan

- Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp Luật sư

1.2/ Phạm vi hành nghề của Luật sư:

Về phạm vi hành nghề, Luật sư được phép cung cấp các dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo quy định tại Điều 22 Luật Luật sư, gồm:

- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự

Trang 3

- Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các

vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật

- Thực hiện tư vấn pháp luật

- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật

- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật Luật sư

1.3/ Những điều cần chú ý khi hành nghề Luật sư:

Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, Luật sư không được thực hiện các hành

vi bị nghiêm cấm được quy định trong Điều 9 Luật Luật sư, như:

- Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ, việc

- Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;

- Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

- Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;

- Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;

- Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;

- Lợi dụng việc hành nghề Luật sư, danh nghĩa Luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện tgpl cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng tgpl theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận mà không có lý do chính đáng

- Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành

tố tụng và các cơ quan nhà nước khác

Trang 4

Ngoài ra, tại Quy tắc 14 của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư cũng có quy định về những việc Luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng:

14.1 Chủ động xúi giục, kích động khách hàng kiện tụng hoặc thực hiện những hành vi khác trái pháp luật;

14.2 Sử dụng tiền bạc, tài sản của khách hàng trong khi hành nghề vào mục đích riêng của cá nhân Luật sư;

14.3 Gợi ý hoặc đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản của khách hàng cho Luật sư hoặc cho những người thân thích, ruột thịt của Luật sư;

14.4 Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích vật chất nào khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện vụ việc gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng;

14.5 Đòi hỏi từ khách hàng hoặc người có quyền, lợi ích liên quan với khách hàng bất kỳ khoản tiền chi thêm hoặc tặng vật nào ngoài khoản thù lao và các chi phí kèm theo đã thỏa thuận, trừ trường hợp khách hàng tự nguyện thưởng cho Luật sư khi kết thúc dịch vụ;

14.6 Tạo ra các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, bất lợi cho khách hàng để lôi kéo, đe dọa, làm áp lực nhằm tăng mức thù lao đã thỏa thuận hoặc mưu cầu lợi ích bất chính khác từ khách hàng;

14.7 Sử dụng thông tin biết được từ vụ việc mà Luật sư đảm nhận để mưu cầu lợi ích cá nhân;

14.8 Thuê người môi giới khách hàng để giành vụ việc cho mình;

14.9 Thông tin trực tiếp cho khách hàng hoặc dùng lời lẽ ám chỉ để khách hàng biết về mối quan hệ cá nhân của mình với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng hoặc công chức nhà nước có thẩm quyền khác, nhằm mục đích gây niềm tin với khách hàng về hiệu quả công việc như là một tiêu chí để khuyến khích khách hàng lựa chọn Luật sư;

14.10 Cố ý làm cho khách hàng nhầm lẫn về khả năng và trình độ chuyên môn của mình; đưa ra những lời hứa hẹn tốt đẹp để lừa dối khách hàng;

14.11 Cam kết bảo đảm kết quả vụ việc nhằm mục đích lôi kéo khách hàng hoặc để tính thù lao theo kết quả cam kết;

14.12 Lợi dụng nghề nghiệp để quan hệ tình cảm nam nữ bất chính với khách hàng làm ảnh hưởng tới danh dự Luật sư và nghề Luật sư;

14.13 Đòi hỏi tiền bạc hoặc lợi ích vật chất khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng được hưởng tgpl theo quy định của pháp luật;

14.14 Từ chối vụ việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư, trường hợp bất khả kháng hoặc theo yêu cầu

Trang 5

của khách hàng Trong trường hợp có căn cứ từ chối, Luật sư phải có văn bản thông báo cho tổ chức trợ giúp pháp lý, các cơ quan tiến hành tố tụng và khách hàng biết

Đối với những thông tin của khách hàng mà Luật sư biết được trong quá trình thực hiện vụ việc cũng phải giữ bí mật và thực hiện một cách nghiêm túc trên tinh thần quy định của Luật Luật sư tại Điều 25, cụ thể:

- Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác

- Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

- Tổ chức hành nghề Luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình

Đặc biệt hơn hết, Luật sư phải thực hiện tốt về nghĩa vụ trong tố giác tội phạm theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực

kể từ ngày 01/01/2018 Vì nếu không thực hiện tốt, Luật sư có thể phải chịu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp luật định về nghĩa vụ tố giác thân chủ của mình đối với Luật sư

2- Thực trạng mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng ở Việt Nam hiện nay:

Trong các mối quan hệ giữa Luật sư với các chủ thể khác trong quá trình hành nghề, thì mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng là mối quan hệ nền tảng làm phát sinh các mối quan hệ khác Về mặt pháp lý, mối quan hệ này là mối quan hệ dân sự được thiết lập trên cơ sở tự nguyện của hai bên được thể hiện qua hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý nên chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Tuy nhiên, vì là loại quan

hệ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý nên còn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật về Luật sư

2.1/ Mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng trên cơ sở căn cứ pháp luật:

Có thể nói, khách hàng là nguồn mang đến việc làm, thu nhập và thắp nên ngọn nến cho nghề Luật sư toả sáng và phát triển, nhưng khách hàng cũng là nguồn mang lại rắc rối, phiền phức cho Luật sư trong quá trình hoạt động nghề nghiệp Do đó, khi tiếp xúc, nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng Luật sư phải có thái độ thích hợp

và đảm bảo khả năng thực hiện công việc theo Điều 24 Luật Luật sư:

- Luật sư tôn trọng sự lựa chọn Luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ, việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ, việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng

- Khi nhận vụ, việc, Luật sư thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của Luật sư trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng

Trang 6

- Luật sư không chuyển giao vụ, việc mà mình đã nhận cho Luật sư khác làm thay, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc trường hợp bất khả kháng

Việc nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng không chỉ quy định tại Điều 24 Luật Luật sư mà Quy tắc 6 của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư cũng có quy định về việc này:

- Luật sư không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tuổi tác, khuyết tật, tình trạng tài sản khi tiếp nhận vụ việc của khách hàng;

- Luật sư tôn trọng sự lựa chọn Luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ việc theo khả năng chuyên môn, điều kiện của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu hợp pháp của khách hàng;

- Luật sư có nghĩa vụ giải thích cho khách hàng biết về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong quan hệ với Luật sư; về tính hợp pháp trong yêu cầu của khách hàng; những khó khăn, thuận lợi trong việc thực hiện dịch vụ; quyền khiếu nại và thủ tục giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với Luật sư;

- Khi nhận vụ việc của khách hàng, Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư phải xác định rõ các quyền, nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng dịch vụ pháp lý

Trên cơ sở trao đổi, nắm bắt công việc từ khách hàng, Luật sư đánh giá và đưa

ra quyết định nhận vụ việc của khách hàng hay phải từ chối nhận vụ việc đó Luật sư phải độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, không vì lợi ích vật chất, tinh thần hoặc bất kỳ áp lực nào khác để làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp Luật sư phải từ chối nhận vụ việc của khách hàng trong các trường hợp sau đây:

- Luật sư không đủ khả năng chuyên môn hoặc điều kiện thực tế để thực hiện

vụ việc;

- Khách hàng thông qua người khác yêu cầu Luật sư mà người này có biểu hiện lợi dụng tư cách đại diện cho khách hàng để mưu cầu lợi ích cá nhân làm ảnh hưởng đến uy tín của Luật sư và quyền lợi hợp pháp của khách hàng;

- Khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý của Luật sư với ý định lợi dụng dịch vụ

đó cho mục đích khác hoặc khách hàng không tự nguyện mà bị phụ thuộc theo yêu cầu không chính đáng của người khác;

- Có căn cứ rõ ràng xác định khách hàng đã cung cấp chứng cứ giả hoặc yêu cầu của khách hàng không có cơ sở, trái đạo đức, trái pháp luật;

- Có sự xung đột về lợi ích trong hành nghề Luật sư mà không giải quyết được nếu tiếp nhận vụ việc đó

- Khách hàng có thái độ không tôn trọng Luật sư và nghề Luật sư và không thay đổi thái độ này

Trên cơ sở sau khi đã nhận vụ, việc của khách hàng, Luật sư sẽ phải thực hiện các yêu cầu của khách hàng trong khuôn khổ pháp luật và trên nguyên tắc được quy định cụ thể tại Quy tắc 8 của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư:

Trang 7

- Luật sư chủ động, tích cực giải quyết vụ việc của khách hàng và thông báo tiến trình giải quyết vụ việc để khách hàng biết;

- Trong khi thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, Luật sư không

để tiền bạc hoặc lợi ích vật chất khác chi phối đạo đức và ứng xử nghề nghiệp làm sai lệch mục đích của nghề Luật sư;

- Luật sư không từ chối vụ việc đã nhận, trừ trường hợp bất khả kháng, hoặc pháp luật hay Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư cho phép hoặc được khách hàng đồng ý;

- Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư ký nhận và có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài liệu, hồ sơ mà khách hàng giao cho mình; hoàn trả tài liệu, hồ sơ khi khách hàng yêu cầu hoặc khi đã giải quyết xong vụ việc và có thỏa thuận về việc trả lại, trừ trường hợp khách hàng chưa thanh toán hết thù lao, chi phí và việc giữ lại tài liệu, hồ

sơ phù hợp với hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết

Khi thực hiện công việc của khách hàng mà Luật sư đảm nhận, Luật sư luôn phải tìm và đưa ra những phương pháp tối ưu nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng trên tinh thần tích cực trong công việc và nghĩa vụ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng, tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng theo quy định của pháp luật, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư

Trong quá trình thực hiện công việc, một số trường hợp Luật sư sẽ phải từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc như:

- Khách hàng đưa ra yêu cầu mới mà yêu cầu này không thuộc phạm vi hành nghề Luật sư hoặc trái đạo đức, trái pháp luật;

- Khách hàng không chấp nhận ý kiến tư vấn giải quyết vụ việc đúng pháp luật, phù hợp với đạo đức do Luật sư đưa ra, mặc dù Luật sư đã cố gắng phân tích thuyết phục;

- Khách hàng vi phạm cam kết theo hợp đồng dịch vụ pháp lý mà các bên không thể thỏa thuận được hoặc quan hệ giữa Luật sư với khách hàng bị tổn hại không phải do lỗi của Luật sư;

- Có sự đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần từ khách hàng hoặc người khác buộc Luật sư phải làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp mà Luật sư không thể đối phó;

- Khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật sư để thực hiện hành vi trái pháp luật;

- Có căn cứ xác định khách hàng đã lừa dối Luật sư;

- Phát hiện vụ việc thuộc trường hợp Luật sư phải từ chối ở phần trên

Trang 8

- Các trường hợp phải từ chối do quy định của pháp luật hoặc trường hợp bất khả kháng khác

Khi Luật sư từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng thì Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư thông báo bằng văn bản cho khách hàng trong thời hạn hợp lý

để khách hàng có điều kiện tìm Luật sư khác, đồng thời giải quyết nhanh chóng các vấn đề liên quan đến việc chấm dứt Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết Khi đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý, Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư có thái độ tôn trọng, xử sự ôn hòa, không dùng lời lẽ có tính chất xúc phạm đối với khách hàng, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của nghề Luật sư, danh dự và uy tín của khách hàng

Mỗi nghề trong xã hội đều có những chuẩn mực riêng nhất định Dù làm bất cứ nghề gì, mỗi người cũng đều cần đến cái đức, cái tâm và cần tuân theo những quy tắc nhất định của nghề nghiệp Nghề Luật sư là một nghề cao quý, gắn liền với chế độ, xã hội dân chủ và Nhà nước pháp quyền Chính vì vậy, nghề Luật sư cũng cần có những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp để làm cơ sở cho thái độ, xử sự, hành vi của Luật sư trong quá trình hành nghề, trong các mối quan hệ nghề nghiệp Một trong những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư là việc giữ bí mật thông tin

về khách hàng

2.1.1- Mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng:

Tại điểm c, khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012

có quy định: Cấm Luật sư tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác

Tại sao lại phải cấm Luật sư tiết lộ thông tin của khách hàng?

Vì khách hàng tìm đến Luật sư thường là gặp các vấn đề rắc rối về mặt pháp lý hoặc muốn đề phòng những rủi ro pháp lý cần sự giúp đỡ của Luật sư Để giải quyết vấn đề của khách hàng, điều kiện tiên quyết là Luật sư cần phải biết những thông tin

về khách hàng, thông tin về vụ, việc mà khách hàng đang gặp phải Để có được thông tin từ khách hàng, ngoài việc có năng lực chuyên môn, có kỹ năng nghề nghiệp mà Luật sư còn phải đảm bảo với khách hàng về việc giữ bí mật thông tin của họ Có thế khách hàng mới tin tưởng và chia sẽ đầy đủ thông tin cho Luật sư

Giữ gìn bí mật thông tin về khách hàng là một trong những nét đặc thù của nghề Luật sư, là một trong những yếu tố tạo nên uy tín và sự thành công của Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư; đồng thời giữ bí mật thông tin về khách hàng còn là nghĩa vụ pháp lý, và là một trong những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư

Vì sao phải giữ bí mật thông tin khách hàng? Vì trong quá trình tiếp xúc, trao

đổi giữa Luật sư và khách hàng, khách hàng sẽ truyền đạt các thông tin về chính mình

và các thông tin về vụ, việc của họ cho Luật sư để nhờ Luật sư tư vấn hoặc thực hiện một dịch vụ pháp lý nào đó

Trang 9

Thông tin về khách hàng là những gì khách hàng đã nói, viết, trao đổi, truyền đạt, tiết lộ cho Luật sư biết hoặc do Luật sư thu thập được bằng các biện pháp hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ việc Thông tin về khách hàng bao quát nhưng không giới hạn như: thông tin cá nhân của khách hàng, bí mật đời tư của khách hàng, tình hình tài chính, bí mật kinh doanh của khách hàng,… Thông tin của khách hàng nếu bị Luật sư sử dụng nhằm vào mục đích khác tiêu cực và sự lợi dụng thông tin này

sẽ hạ thấp uy tín, danh dự nghề nghiệp Luật sư làm xói mòn niềm tin vào công lý và pháp luật

Không những thế, tại Quy tắc 12 của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp

Luật sư cũng quy định: Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi

thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật; Luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Do đó, trong mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng thì việc giữ gìn bí mật thông tin khách hàng có ý nghĩa quan trọng, sâu sắc Mối quan hệ này xuất phát từ khi Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng và kéo dài một thời gian dài, kể cả khi hợp đồng đó kết thúc Nếu vi phạm, tuỳ theo mức độ ảnh hưởng của nguồn thông tin bị tiết lộ, Luật sư có thể chịu nhiều loại chế tài khác nhau, trong đó có cả chế tài hình sự

2.1.2- Mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng trong việc thực hiện pháp luật về tố cáo tội phạm:

Mặc dù quy định Luật sư phải bảo vệ khách hàng, tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định thì Luật sư phải thực hiện nghĩa vụ tố giác tội phạm từ nguồn thông tin của khách hàng mà Luật sư biết được trong quá trình giải quyết vụ việc cho khách hàng

Thế vì sao phải tố giác tội phạm là thân chủ của mình? Và những trường hợp nào Luật sư mới được tiết lộ thông tin của khách hàng trong việc tố giác tội phạm là thân chủ của minh?

Vì xuất phát từ ý nghĩa hoạt động nghề nghiệp của Luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,

cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Luật sư phải là gương mẫu trong việc tham gia tố giác tội phạm để bảo vệ công lý Bởi lẽ, những trường hợp mà pháp luật hình sự quy định buộc Luật sư phải tố giác thân chủ của mình điều là những tội mà người phạm tội có hành vi gây nguy hiểm cao cho xã hội

Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, kể từ ngày 01/1/2018, Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm nếu không tố giác thân chủ của mình trong một số trường hợp luật định

Căn cứ khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

quy định: “người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình

Trang 10

sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”

Như vậy, Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm nếu không tố giác thân chủ của mình trong trường hợp thân chủ phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do thân chủ đang chuẩn

bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà Luật sư biết rõ khi thực hiện việc bào chữa

Theo đó, có 87 tội mà Luật sư phải có nghĩa vụ tố giác thân chủ của mình, gồm có: Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108); Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Tội gián điệp (Điều 110); Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 111); Tội bạo loạn (Điều 112); Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội (Điều 115); Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116); Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117); Tội phá rối an ninh (Điều 118); Tội chống phá cơ sở giam giữ (Điều 119); Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 120); Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121); Tội giết người (Điều 123); Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142)…

Như vậy, ngoài nghĩa vụ giữ gìn bí mật thông tin của khách hàng thì Luật sư còn có nghĩa vụ tham gia tố giác tội phạm là thân chủ của mình trên những cơ sở pháp luật hình sự quy định.

2.1.3- Mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng về thù lao của Luật sư trong hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng:

a) Đối với khách hàng thông thường:

Thông thường khách hàng phải trả thù lao khi sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật

sư Tuỳ vào công việc của khách hàng mà Luật sư có đưa ra mức thù lao hợp lý đúng theo quy định của pháp luật như: Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý; Thời gian và công sức của Luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; Kinh nghiệm và uy tín của Luật sư Việc tính chi phí về thù lao khi thực hiện công việc cho khách hàng thì Luật

sư cần căn cứ thật kỹ về bản chất của công việc Vì:

- Nếu Luật sư lấy thù lao quá thấp thì sẽ không đủ kinh phí duy trì hoạt động và thực hiện vụ, việc của khách hàng

- Còn nếu lấy quá cao thì khách hàng sẽ bỏ đi tìm nơi khác Từ đó dẫn đến Luật

sư sẽ không có khách hàng, từ việc không có khách hàng sẽ không có kinh phí dẫn đến

“đóng cửa”

Sau khi thực hiện xong yêu cầu của khách hàng, nếu khách hàng còn nợ tiền thù lao thì Luật sư có thể giữ lại tài liệu và tài sản của khách hàng cho tới khi Luật sư được

Ngày đăng: 07/02/2020, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w