phố Hà nội tuy không nằm trong 10 tỉnh của cả nước có tỷ lệ giới tính ở mức cao. Song trong những năm gần đây Hà nội đã nằm trong tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, trong đó có huyện Đan phượng. Theo số liệu thống kê hàng năm của Trung tâm Dân số– KHHGĐ huyện Đan phượng thì tỷ số giới tính khi sinh từ năm 2007 2011 luôn ở mức cao.Xuất phát từ tình hinh thực tế ở địa phương và những cơ sở khoa học đã được khẳng định. Nhằm gi¶m thiÓu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, làm rõ những nguyên nhân để có biện pháp can thiệp. Tôi xin chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở huyện Đan Phượng” để làm tiểu luận khoá học lớp Trung cấp Lý luận chính trị hành chính K17A 10 khóa 2010 2012.. 1. Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu đề tàiNghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về giới tính và mất cân bằng giới tính. Đánh giá thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn huyện Đan phượng. Tìm hiểu nguyên nhân mất cân bằng giới tính khi sinh. Hậu quả của việc mất cân bằng giới tính khi sinh vµ ®ề suất một số giải pháp ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.Đối tượng và thời gian nghiên cứu: Số trẻ sinh ra trong thời gian từ năm 2007 – 2011Địa bàn nghiên cứu: 1616 xã, thị trấn của huyện Đan Phượng3. Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin số liệu.Phương pháp luận: vận dụng những nguyên lý, quan điểm, phương pháp luận về dân số học và quan điểm của Đảng và Nhà nước về giới tính, bình đẳng giới.Phương pháp cụ thể: sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích, thống kê so sánh để làm sáng tỏ vấn đề.Nguồn dữ liệu: Kho dữ liệu thông tin của Trung tâm dân số KHHGĐ huyện Đan phượng.Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Kết quả toàn bộ, NXB Thống kê, Hà Nội, 62010).Tài liệu chuyên ngành của Chi cục Dân số KHHGĐ thành phố Hà Nội.4. Hạn chế của nghiên cứu đề tài đề tài.Do khả năng và thời gian có hạn tôi chỉ đề cập công tác Dân số KHHGĐ mà trọng tâm là mất cân bằng giới tính khi sinh ở huyện Đan phượng từ năm 2007 trở lại đây và đưa ra một số giải pháp để khắc phục.Do thời gian cũng như kinh nghiệm làm công tác dân số KHHGĐ còn hạn chế, nên khi viết và trình bày khoá luận không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong được sự quan tâm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và để tôi có thêm được những hiểu biết và nhận thức thực tế hơn trong công tác của mình.CHƯƠNG I : MỘT SỐ
Trang 12 Tình hình tỷ số giới tính khi sinh nước ta và thành phố Hà Nội 7
3 Sự cần thiết phải giảm mất cân bằng giới tinh khi sinh 8
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI
1 Đặc điểm về kinh tế và xã hội ở huyện Đan Phượng 11
2 Thực trạng vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh 15
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
1 Các giải pháp hạn chế tình trạn mất cân bằng giới tính khi sinh 23
2.2 Giải pháp cho nguyên nhân phụ trợ
25
2.3 Giải pháp cho nguyên nhân cơ bản và các nguyên nhân khác. 25
Trang 2Lêi nãi ®Çu
Mất cân bằng giới tính khi sinh là vấn đề dân số xuất hiện ở Việt Nam từnhững năm đầu của thế kỷ XXI và ngày nay càng thu hút sự quan tâm của xã
hội Tỷ số giới tính khi sinh được tính bằng số bé trai sinh ra sống so với 100 bé
gái sỉnh ra sống trong cùng thời kỳ (thường tính là 1 năm) Tỷ số này giao độngtrong khoảng 13 -16 trẻ em trai so với 100 trẻ em gái Tỷ số này nằm ngoàikhoảng trên mà mất cân bằng giới tính khi sinh
Kết quả điều tra dân số cho thấy, trong 10 năm qua mất cân bằng giới tínhkhi sinh (GTKS) diễn ra với tốc độ nhanh, ngày càng lan rộng và đã đến mứcnghiêm trọng Mất cân bằng GTKS dẫn đến tình trạng thừa nam thiếu nữ trongtương lai, không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân, gia đình , các dòng tộc
mà còn trở thành tai họa đối với dân tộc và sự phát triển bền vững của đất nước
Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm và từng bước gia tăng nỗ lực kiểmsoát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Pháp lệnh dân sô 2003 đã quyđịnh cấm chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi Nghị đinh 114/2006/NĐ- CPngày 3/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em cũng
đã quy định cụ thể các hành vi, vi phạm và các mức sử phạt cho các hành vichẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi- nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạngmất cân bằng giới tính khi sinh … Cương lĩnh đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIthông qua đã khăng định việc đảm bảo cân bằng giới tính là một nhiệm vụ quantrọng trong giai đoạn tới Trong thời gian qua, các cơ quan chức năng đã triểnkhai nhiều hoạt động cụ thể để ngăn ngừa và hạn chế tình trạng này Tuy nhiên
do tính chất khó khăn và phức tạp của việc kiểm soát mất cân bằng GTKS trongbối cảnh một xã hội chịu nhièu ảnh hưởng nặng nề của các giá trị nho giáo, nhậnthức của nhân dân còn hạn chế các vị phạm về lựa chọn giới tính thai nhi có xuhướng lan rộng, những can thiệp chưa đủ mạnh, thiếu đồng bộ, nên kết quả cònrất hạn chế Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn chưa được kềm chế,tiếp tục tăng
Trang 3Tỷ số giới tính ở Việt nam đứng thứ 4 trên thế giới (thống kê của cục dânsố) Thành phố Hà nội tuy không nằm trong 10 tỉnh của cả nước có tỷ lệ giớitính ở mức cao Song trong những năm gần đây Hà nội đã nằm trong tình trạngmất cân bằng giới tính khi sinh, trong đó có huyện Đan phượng Theo số liệuthống kê hàng năm của Trung tâm Dân số– KHHGĐ huyện Đan phượng thì tỷ
số giới tính khi sinh từ năm 2007 - 2011 luôn ở mức cao
Xuất phát từ tình hinh thực tế ở địa phương và những cơ sở khoa học đãđược khẳng định Nhằm gi¶m thiÓu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh,làm rõ những nguyên nhân để có biện pháp can thiệp Tôi xin chọn đề tài:
“Thực trạng và giải pháp hạn chế tình trạng mất cân bằng giới
tính khi sinh ở huyện Đan Phượng” để làm tiểu luận khoá học lớp Trung
cấp Lý luận chính trị - hành chính K17A -10 khóa 2010 -2012
1 Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về giới tính và mất cân bằnggiới tính Đánh giá thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn huyệnĐan phượng Tìm hiểu nguyên nhân mất cân bằng giới tính khi sinh Hậu quảcủa việc mất cân bằng giới tính khi sinh vµ ®ề suất một số giải pháp ngăn chặntình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng và thời gian nghiên cứu:
Số trẻ sinh ra trong thời gian từ năm 2007 – 2011
Địa bàn nghiên cứu: 16/16 xã, thị trấn của huyện Đan Phượng
3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin số liệu.
Phương pháp luận: vận dụng những nguyên lý, quan điểm, phương phápluận về dân số học và quan điểm của Đảng và Nhà nước về giới tính, bình đẳng giới
Phương pháp cụ thể: sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phươngpháp phân tích, thống kê so sánh để làm sáng tỏ vấn đề
Nguồn dữ liệu:
Trang 4Kho dữ liệu thông tin của Trung tâm dân số KHHGĐ huyện Đan phượng.Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương Tổng điều tra dân
số và nhà ở năm 2009 Kết quả toàn bộ, NXB Thống kê, Hà Nội, 6-2010)
Tài liệu chuyên ngành của Chi cục Dân số - KHHGĐ thành phố Hà Nội
4 Hạn chế của nghiên cứu đề tài đề tài.
Do khả năng và thời gian có hạn tôi chỉ đề cập công tác Dân số - KHHGĐ
mà trọng tâm là mất cân bằng giới tính khi sinh ở huyện Đan phượng từ năm
2007 trở lại đây và đưa ra một số giải pháp để khắc phục
Do thời gian cũng như kinh nghiệm làm công tác dân số KHHGĐ còn hạnchế, nên khi viết và trình bày khoá luận không thể tránh khỏi những sai sót Rấtmong được sự quan tâm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và để tôi cóthêm được những hiểu biết và nhận thức thực tế hơn trong công tác của mình
CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DÂN SỐ - KHHGĐ
1 – Một số khái niệm :
Trang 51.1 Dân số :
Là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý,vùng kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại một thời điểm nhất định
1.2 Kế hoạch hóa gia đình :
Là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số conmong muốn và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐ không chỉ là sử dụngcác biện pháp tránh thai ngoài ý muốn mà còn là cố gắng của các cặp vợ chồnghiếm muộn để có thai và sinh con
1.3 Tỷ số giới tính chung: Là số nam trên 100 nữ trong một khoảng thời
gian xác định thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh
1.4 Tỷ số giới tính khi sinh : (SRB)
Tỷ số giới tính khi sinh được tính bằng số bé trai sinh ra sống so với 100
bé gái sỉnh ra sống trong cùng thời kỳ (thường tính là 1 năm)
Tỷ số giới tính khi sinh ở mức độ cân bằng thông thường từ 103 -108( được xác đinh trên một phạm vi lãnh thổ rộng lớn
1.5 Mất cân bằng giới tính khi sinh
Là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường
so với 100 trẻ gái Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra khi tỷ số giới tính namkhi sinh lớn hơn 108 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ
Theo quy ước, tỷ số giới tính khi sinh ở một vùng/thành phố từ 110 trởlên là mất cân bằng giới tinh khi sinh (Hà Nội cũ năm 2006 là 110, 110 trẻ emtrai/100 trẻ em gái)
2- Tình hình tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam và thành phố Hà Nội
Trang 6năm gần đây mỗi năm tỷ số này đã tăng khoảng 1 điểm phần trăm Ở cấp độvùng nếu năm 199 chỉ có 3/8 vùng kinh tế - xã hội có MCBGT KS thì năm 2009chỉ còn duy nhất tây nguyên không có tình trạng này, cao nhất là đồng bằngsông hồng 115.5 Ở cấp tỉnh năm 1999 có 16 tỉnh, thành phố có tỷ số GTKS từ
110 trở lên thì đến năm 2009 con số này tăng lên 35 tỉnh đặc biệt là cao ở cácđịa phương xung quanh các thành phố lớn Nhiều chuyên gia dự đoán với tốc độnày, SRB có thể vượt ngưỡng 115 trong vòng vài năm tới Đến năm 2035, namgiới sẽ nhiều hơn phụ nữ 10%
Năm 2009 có 10 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố sự mất cân đối tỷ số giớitính ở mức rất cao, từ 115 đến 130; Hưng Yên 130,7; Hải Dương 120,2; BắcNinh 119,4; Bắc Giang 116,8; Nam Định 116,4; Hòa Bình 116,3; Hải Phòng115,3; Quảng Ngãi 115,1; Quảng Ninh và Vĩnh Phúc 115,0
Tỷ số giới tính khi sinh khác biệt giữa các vùng trong cả nước :
( Theo nguồn : Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương Tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2009 Kết quả toàn bộ, NXB Thống kê, Hà Nội, 6-2010)
111
117 115.3
110.1 109.9 109.7 108.5 105.6
Tỷ số giới tính khi sinh tại một số vùng năm
2009 (số bé trai trên 100 bé gái)
Toàn quốc
Hà Nội
ĐB Sông Hồng
ĐB Nam Bộ
ĐB S.Cửu Long
TB và Duyên hải miền trung Trung du phía bắc
Tây Nguyên
Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra ngay ở lần sinh thứ nhất, đặc biệtcao ở lần sinh thứ 3 trở lên Tỷ số này đã là 110.2 ở lần sinh thứ 1 và tăng đến115.5 ở lần sinh thứ 3 trở lên trong khi đó tỷ số này là 109 ở lần sinh thứ 2 Điều đó cho thấy khát vọng có con trai là rấ mãnh liệt
Trang 7Mất cân bằng giới tính khi sinh cao hơn nhiều ở các cặp vợ chồng trình độhọc vấn cao, tình trạng kinh tế khá giả Tỷ số GTKS thấp nhất ở các bà mẹkhông biết chữ và tăng dần theo học vấn, lên đến 114 ở các bà mẹ có trình độcao đẳng trở lên; ở 3 nhóm dân cư giàu nhất, tỷ số giới tính khi sinh là 112,trong khi đó nhóm dân cư nghèo nhất là 105 Tình trạng này cho thấy vấn đềmất cân bằng giới tính khi sinh có nguy cơ ngày càng lan rộng trong cộng đồng.
* Thành phố Hà Nội
Tỷ số giới tính khi sinh ở Hà nội cũng tăng nhanh đột biến trong một vàinăm trở lại đây Giai đoạn 2001 -2005 , Tỷ số này nằm trong ngưỡng bìnhthường là 107 thì từ năm 2006 đến nay , tỷ lệ này có tốc độ gia tăng đáng kể Tại thời điểm năm 2005 -2007, tỷ số này ở Hà nội cũ là 110, Hà Tây là 115.Năm 2008, Hà Nội cũ là 112, Hà Tây là 124 Sau khi sát nhập Hà Nội và HàTây, tỷ số giới tính khi sinh năm 2009 và 2010 lần lượt là 118 và 117 , nằmtrong 5 tỉnh,thành phố có tỷ số giới tính khi sinh cao ở Đồng bằng sống Hồng vàcao thứ 7 so với các tỉnh thành phố trong cả nước
Năm 2011, tỷ số giới tính khi sinh là 116 , Trong đó các quận/huyện :Đông Anh, Phúc thọ Ba Vì, Thường Tín, Ứng Hòa, Phú Xuyên, có tỷ số giớitính khi sinh trên 125 trẻ em trai/100 trẻ em gái
Đặc biệt TSGTKS của Hà Nội 6 tháng đầu năm 2011:
Nhóm ≤ 107: Ba Đình, Cầu Giấy, Long Biên
3 Sự cần thiết phải giảm mất cân bằng giới tinh khi sinh
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta dẫn tới những hệ lụykhó lường về xã hội, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Theo kết quả
Trang 8nghiên cứu của các nhà khoa học nếu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh
ở nước ta không được khắc phục kịp thời thì sau 20 30 năm nữa sẽ có từ 2.3 4.3 triệu nam giới trưởng thành không tìm được phụ nữ cùng trang lứa để kếthôn Về lâu dài có thể dẫn đến tình trạng mất cân bằng cung cầu trong lực lượnglao động nữ Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ tác động mạnh mẽđến quy mô dân số khi dân số nữ thuộc đoàn hệ này giảm mạnh sẽ dẫn đến tìnhtrạng thiêu một cách tương đối số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản 15- 49 Chínhđiều này sẽ làm mức sinh và quy mô dân số giảm mạnh hơn, rất khó hồi phục
-Theo các nhà nhân khẩu học việc lựa chọn giới tính thai nhi sẽ gây nguyhại cho cơ cấu dân số, dẫn đến bất ổn trong xã hội Sự khan hiếm phụ nữ sẽ gâythêm áp lực cho họ phải kết hôn sớm, thậm chí phải lựa chọn hoặc rơi vào tình
trạng sống độc thân Gây ra tình trạng gia tăng dân số quá nhanh do nhu cầu có
con trai, sự phân bố dân cư giữa các vùng chênh lệch lớn sẽ xảy ra tình trạng cónơi thiếu lao động, có nơi lại thừa lao động, từ đó dẫn đến sự di dân kéo về cáctỉnh, thành phố lớn Sự chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh sẽ dẫn đến tình trạngthừa nam, thiếu nữ, cùng với xu hướng lấy chồng ngoại ở nhiều tỉnh miền Tây,nạn buôn phụ nữ sang Trung Quốc ở các tỉnh phía Bắc… trong tương lai có thểViệt Nam sẽ phải áp dụng một giải pháp tình thế được một sô nước áp dụng đó
là kết hôn với người nước ngoài hay (nhập khẩu cô dâu) nhưng xem ra khó bềnvững1 Kéo theo việc gia tăng của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em gái hay phụ
nữ kết hôn sớm, thậm chí bỏ học giữa chừng và tệ nạn mại dâm Sự mất cânbằng giới tính sẽ làm thay đổi cơ cấu dân số trong lương lai; thiếu hụt phụ nữ ở
độ tuổi lập gia đình dẫn đến một tỷ lệ nam giới sẽ phải trì hoãn việc xây dựnggia đình, đặc biệt là nam giới nghèo, vị thế xã hội thấp; cấu trúc gia đình thayđổi đáng kể (một số nam giới có thể phải lựa chọn hay rơi vào tình trạng sốngđộc thân); gia tăng tội phạm liên quan đến lạm dụng tình dục; tình trạng khanhiếm phụ nữ sẽ cản trở việc nâng cao địa vị của họ trong xã hội
Đối với gia đình: ảnh hưởng đến sức khoẻ của người phụ nữ do việc sinh
đẻ nhiều vào đúng tuổi lao động nên cơ hội phát triển bị bỏ lỡ ảnh hưởng đến
Trang 9các bé gái do các gia đình đông con gái hoặc chỉ sinh toàn còn gái thì tư tưởngcủa các ông bố bà mẹ chán nản, các bé gái sẽ không được chăm sóc đầy đủ.
Gia tăng bạo lực gia đình, bạo lực với phụ nữ, ép buộc sinh con, buộc pháthai, ngược đãi, ruồng bỏ, đa thê, ngoại tình, ly hôn
Đối với xã hội: Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ gây ra những khó khănthách thức mới đòi hỏi chương trình DS – KHHGĐ phải quan tâm, giải quyếttrong thời gian dài, tăng đáng kể nguồn ngân sách, nhân lực để giải quyết vấn đềnày Bên cạnh đó sẽ gia tăng tội phạm liên quan đến tình dục, tình trạng buônbán phụ nữ, trẻ em gái và mại dâm
–––––––––––––––––––––––––––––––––
1
Theo thống kê của bộ tư pháp, từ năm 1998 đến 31.12.2010 đã có 294.280 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, nhiều nhất ở Trung Quốc, Hàn Quốc,… trong đó Hàn Quốc khoảng 35.000, Đài Loan 85.000 Khoảng 3/4 số cô dâu đi lấy chồng nước ngoài xuất thân từ những gia đình có 5 con trở lên, có hoàn cảnh kinh
tế khó khăn, thiếu việc làm, trình độ học vấn thấp, thậm chí chưa biết chữ 100% cô dâu lấy chồng hơn mình 10 tuổi, trong đó có 15% hơn mình từ 20-30 tuổi
Do hậu quả của chiến tranh nên vào những năm 1990 trở về trước , tỷ số giới tính của nhóm dân số trong
độ tuổi sinh đẻ khá thấp ( hiện tượng thừa nữ, thiếu nam) nêm Việt Nam mới có khả năng xuất khẩu cô dâu Hiện nay , tỷ số giới tính của nhóm dân số trong độ tuổi sinh đẻ đã trỏ lên cân bằng vì vậy Việt Nam khó có khả năng “ Xuất khẩu cô dâu” và trong tương lai chúng ta sẽ tính đến việc “nhập khẩu cô dâu” Ngay trong trường hợp đó, những nước xung quanh chúng ta lại không có khả năng “xuất khẩu cô dâu” cho chúng ta “nhập”
Tóm lại, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đang là vấn đề tháchthức trong công tác DS – KHHGĐ của nhiều địa phương Nếu không có nhữngbiện pháp để giải quyết vần đề này thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnhhưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, đời sống, xã hội của nhân dân
Giảm nhanh tốc độ gia tăng mất cân bằng GTKS, tiên tới đưa tỷ số nàytrở lại mức cân bằng tự nhiên càng sớm càng tốt bằng hệ thống các giải phápđồng bộ; quyết liệt, trên cơ sở huy động rộng rãi các lực lượng xã hội tham gia
Trang 10nhằm hạn chế giảm thiểu các hệ lụy do mất cân bằng GTKS trong tương lai lànột đòi hỏi cấp thiết.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH 1- Đặc điểm về kinh tế và xã hội ở huyện Đan Phượng
a ) Điều kiện tự nhiên
Đan Phượng là một huyện của thành phố Hà Nội, nằm ở phía tây bắctrung tâm thành phố Hà Nội, tại khoảng giữa của trục đường quốc lộ 32 từ trungtâm Hà Nội đi Sơn Tây
Trang 11Phía đông giáp các huyện Đông Anh (ranh giới tự nhiên là sông Hồng) và
Từ Liêm; Phía nam giáp huyện Hoài Đức; Phía tây giáp huyện Phúc Thọ; Phía
bắc giáp huyện Mê Linh (ranh giới tự nhiên là sông Hồng)
Vị trí: phía Tây Bắc trung tâm Hà Nội
Diện tích: 76,74 km² toàn huyện có 01 thị trấn và 15 xã,
Số dân: 151.397 người, Mật độ: 1940 người/km²
Thành phần dân tộc: Chủ yếu là Kinh
Đan Phượng là huyện có diện tích tự nhiên nhỏ nhất so với các huyệntrong tỉnh nhưng lại có mật độ dân số cao và có lợi thế của một huyện ven đô
b) Điều kiện kinh tế xã hội.
Huyện §an Phîng cách trung tâm Hà Nội 22 km trên quốc lộ 32, gầnsông Đáy, là vị trí thuận lợi cho Đan Phượng trong việc giao lưu, trao đổi hànghoá với các vùng miền lân cận
Đan Phượng là huyện có diện tích tự nhiên nhỏ nhất so với các huyệntrong tỉnh Nhưng với lợi thế của một huyện ven đô “nhất cận thị, nhị cậngiang”, những năm qua, Đan Phượng không ngừng tận dụng, phát huy tối đanhững tiềm năng, thế mạnh này cho phát triển kinh tế - xã hội Tốc độ tăngtrưởng kinh tế khá cao (13,3%/năm, mức tăng bình quân của tỉnh là 9,8%/năm),
cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng hợp lý và toàn diện, đời sống của ngườidân được cải thiện rõ rệt
Huyện Đan Phượng là một vùng đất nông nghiệp với lợi thế là khí hậu ônhoà, ruộng vườn phì nhiêu, có truyền thống sản xuất nông nghiệp với trình độthâm canh cao Những năm gần đây, huyện đã có xu hướng giảm diện tích đấtlúa chuyển sang phát triển trang trại, vườn trại, vườn ruộng, dành quỹ đất chosản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Mặc dù diệntích đất có giảm nhưng năng suất và sản lượng luôn ổn định, giá trị sản xuất trênmột đơn vị diện tích không ngừng tăng lên Hiện nay, đây là một trong những
Trang 12địa phương cung cấp rau, quả cho thị trường Hà Nội và các thị trường lân cận,mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.
Đan Phượng cũng đã xây dựng được các vùng sản xuất cây con tập trungnhư vùng sản xuất lúa chất lượng cao Đan Phương, Song Phượng; vùng sản xuấtrau Phương Đình, Đan Phượng; vùng trồng ngô ngọt Song Phượng, Trung Châu;vùng trồng dưa chuột Phương Đình; vùng trồng cây ăn quả Thượng Mỗ, Phương Đình…
Huyện Đan Phượng cũng là vùng đất bãi và có diện tích đồng cỏ lớn nênthích hợp cho ngành chăn nuôi Mô hình chăn nuôi ruộng - vườn - trại ngàycàng phát triển trên địa bàn, cho thu nhập từ 50 -100 triệu đồng/ha, thậm chí cóvùng lên đến 300 triệu đồng/ha
Đan Phượng cũng là địa phương phát triển mạnh về công nghiệp, thươngmại và dịch vụ, với tốc độ phát triển gần 30%/năm, tập trung vào các ngành chếbiến lâm sản, thực phẩm, đồ uống, dệt may và sản xuất vật liệu xây dựng Đểđẩy mạnh hơn nữa việc phát triển công nghiệp, Đan Phượng đã và đang tích cựctriển khai xây dựng các cụm, điểm công nghiệp: Cụm công nghiệp Tân Lập,cụm công nghiệp thị trấn Phùng, điểm công nghiệp Đan Phượng, Phương Đình,Liên Hà, Liên Trung, Tân Hội…
Hệ thống giáo dục và đào tạo
Quy mô mạng lưới trường lớp ngày càng phát triển, cơ sở vật chất, trangthiết bị trường học được tăng cường, trình độ đạt chuẩn của đội ngũ giáo viênngày càng tăng Toàn huyện có 19 trường cấp I, 17 trường cấp II, 3 trường cấpIII, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên
Hệ thống văn hoá thông tin
Đan Phượng cũng là vùng đất có nhiều thành tựu trong các hoạt động vănhoá - xã hội Chất lượng giáo dục toàn diện, đại trà và mũi nhọn được nâng lên.Công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng được quan tâm đúng mức Đời sống vănhóa tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Toàn huyện có 13 điểmbưu điện – văn hóa Nhiều nhà văn hóa thôn, cụm dân cư được thành lập, duy trì
Trang 13hoạt động hiệu quả của các tủ sách, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nâng cao kiếnthức của nhân dân Huyện có 7 làng, khu phố, cơ quan, đơn vị văn hóa, hơn 70%
số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá
Hệ thống y tế.
Hệ thống y tế được củng cố và hoàn thiện từ huyện đến cơ sở bao gồm:
01 Phòng y tế huyện; 01 Bệnh viện đa khoa ; 01 trung tâm y tế huyện; 01trung tâm dân số KHHGĐ; 02 Phòng khám khu vực; 16 trạm y tế xã, thị trấn
Đặc điểm công tác DS-KHHGĐ huyện Đan Phượng
Huyện Đan phượng có diện tích tự nhiên là 76,74 Km2 , có quốc lộ 32chạy qua, Phía đông giáp các huyện Đông Anh (ranh giới tự nhiên là sôngHồng) và Từ Liêm
Phía nam giáp huyện Hoài Đức Phía tây giáp huyện Phúc Thọ Phía bắcgiáp huyện Mê Linh (ranh giới tự nhiên là sông Hồng) Có 6 xã nằm ven dọcSông Hồng Toàn huyện có 15 xã và 01 thị trấn với 37.508 hộ, 151.397 nhânkhẩu Mật độ dân số là 1.940 người/km2 Là địa phương có mật độ dân số cao,đời sống nhân dân tương đối ổn định với nghề thuần nông là chính
Hiện nay thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp vàphát triển nông thôn với lợi thế là huyện gần trung tâm thành phố, trên địa bànhuyện hình thành nhiều cụm điểm công nghiệp thu hút dự án của các doanhnghiệp vào đầu tư, tạo điều kiện cho hàng nghìn lao động có mức thu nhập ổnđịnh Tuy nhiên đây cũng là vấn đề mới nẩy sinh trong công tác DS-KHHGĐ
Với đặc thù là một vùng quê thuần nông còn nhiều ảnh hưởng của phong
tục, tập quán có từ lâu đời của người dân nông thôn, tư tưởng “trọng nam kinh
nữ”, “nối dõi tông đường” vẫn còn ăn sâu vào tiềm thức người dân Dân số cơ
học tăng nhanh do thu hút lao động đến từ các cụm, điểm, khu công nghiệp.Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy -HĐND- UBND huyện trong những năm qua cán bộ và nhân dân trong huyện đã
nỗ lực phấn đấu, khắc phục, tích cực chủ động khai thác mọi tiềm năng, thếmạnh của huyện
Trang 14Cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành và đoàn thể từ huyện đến cơ
sở đã nhận thức được ý nghĩa lớn lao của công tác Dân số - kế hoạch hóa giađình đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội; Đối với chiến lược phát triểncon người của Đảng và nhà nước ta Đồng thời cũng nhận thức được tính chấtkhó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác này Từ đó xác định được tráchnhiệm và vai trò lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác Dân số - kế hoạch hóa giađình; coi đó là một nội dung quan trọng trong chương trình, kế hoạch hoạt độngthường xuyên Trung tâm Dân số - kế hoạch hóa gia đình huyện với chức năng
và nhiệm vụ của mình đã chủ động tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện banhành các chương trình, kế hoạch, văn bản để chỉ đạo về công tác Dân số - kếhoạch hóa gia đình trong tình hình mới
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, công tác Dân số - kế hoạch hóagia đình của huyện Đan Phượng cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.Đan Phượng là huyện có mật độ dân số cao Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
lớn Tỷ số giới tính khi sinh luôn ở mức cao (năm 2009 là 125 bé trai/100 bé
gái, năm 2010 là 114 bé trai/100 bé gái, n¨m 2011lµ 122.6 bÐ trai/100 bé gái)
Kinh phí đầu tư cho công tác Dân số - kế hoạch hóa gia đình còn hạn chế.Điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho các hoạt động dịch vụ kỹ thuật đang xâydựng chưa được ổn định, đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số tại các xã, thị trấnchưa được kiện toàn nên công tác thông tin giáo dục tuyên truyền chưa được sâurộng, chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình còn nhiều bất cập, nhận thức củamột số bộ phận cán bộ, Đảng viên, nhân dân về công tác Dân số - kế hoạch hóagia đình còn hạn chế, tình hình này nếu không được khắc phục kịp thời sẽ ảnhhưởng lớn đến sự phát triển kinh tế -xã hội trên địa bàn huyện trong thời gian tới
2 Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của huyện Đan Phượng giai đoạn từ năm 2007- 2011.
2.1 Tỷ số giới tính trẻ em khi sinh của huyện Đan Phượng giai đoạn
từ năm 2007- 2011.