1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch lớp hoàn chỉnh CCCT môn Triết Học Mác Lênin

21 974 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 39,82 KB
File đính kèm Bai thu hoach lop hoan chinh CCCT mon triet hoc.rar (36 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là tài liệu tham khảo để viêt thu hoạch lớp hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị môn Triết học Mác Lên nin hay nhất. Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại hạnh phúc và nhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đất nước. Trong điều kiện Đảng cầm quyền nghĩa là cán bộ, đảng viên nắm các chức vụ, quyền hạn trong bộ máy lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các lĩnh vực. Hoàn cảnh đó dễ dẫn đến một bộ phận trong số đó không giữ được phẩm chất, bản lĩnh và ý chí cần thiết dẫn đến lợi dụng chức, quyền để trục lợi, lạm quyền, lộng quyền, tha hóa quyền lực và suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống cùng những tiêu cực khác. Lênin từng cảnh báo về nguy cơ kiêu ngạo, hối lộ, xa rời nhân dân và phóng túng của cán bộ nắm quyền lực. Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 17101945 đã nghiêm khắc phê phán những cán bộ vừa mới nắm giữ chức quyền đã vác mặt quan cách mạng với những biểu hiện Trái phép, Cậy thế, Hủ hóa, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo. Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ Công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số việc chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, Sự buông lỏng đó đã kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều nhiệm kỳ với quan đổi mới thì mọi việc cởi mở, thoáng, đến mức một bộ phận cán bộ, đảng viên coi thường kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, coi thường tổ chức và tập thể dẫn đến quyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý không được giám sát đầy đủ và kiểm soát chặt chẽ. Vì vậy, vấn đề kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách trong quản lý nhà nước ở nước ta hiện nay. Em xin chọn đề tài Cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp để viết bài thu hoạch.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử xã hội loài người, từ khi đấu tranh giai cấp và đấu tranhdân tộc dẫn đến ra đời nhà nước, vấn đề quyền lực và kiểm soát quyền lựcluôn được đặt ra Ngày nay, quyền lực và kiểm soát quyền lực là vấn đề lớn,phức tạp trong đời sống chính trị và pháp lý của các quốc gia, dân tộc Quyềnlực là "quyền định đoạt và sức mạnh để đảm bảo sự thực hiện", bao gồmquyền lực chính trị và quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phứctạp Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ làđiều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại hạnh phúc vànhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đất nước

Trong điều kiện Đảng cầm quyền nghĩa là cán bộ, đảng viên nắm cácchức vụ, quyền hạn trong bộ máy lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các lĩnhvực Hoàn cảnh đó dễ dẫn đến một bộ phận trong số đó không giữ được phẩmchất, bản lĩnh và ý chí cần thiết dẫn đến lợi dụng chức, quyền để trục lợi, lạmquyền, lộng quyền, tha hóa quyền lực và suy thoái về tư tưởng chính trị vàđạo đức, lối sống cùng những tiêu cực khác Lênin từng cảnh báo về nguy cơkiêu ngạo, hối lộ, xa rời nhân dân và phóng túng của cán bộ nắm quyền lực.Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 17-10-1945 đã nghiêm khắc phê phán nhữngcán bộ vừa mới nắm giữ chức quyền đã vác mặt quan cách mạng với những

biểu hiện Trái phép, Cậy thế, Hủ hóa, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo.

Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Hội nghị Trung ương

4 khóa XII (10-2016) đã chỉ rõ: “Công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn

Trang 2

chế, khuyết điểm…”; “Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một sốviệc chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra…”; Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luậtcủa Đảng chưa nghiêm; “Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặtchẽ Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng, nguyên tắc tựphê bình và phê bình thực hiện không nghiêm…”; Sự buông lỏng đó đã kéodài nhiều năm, thậm chí nhiều nhiệm kỳ với quan niệm đổi mới thì mọi việc

“cởi mở”, “thoáng”, đến mức một bộ phận cán bộ, đảng viên coi thường kỷluật Đảng và pháp luật Nhà nước, coi thường tổ chức và tập thể dẫn đếnquyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý không được giám sát đầy đủ và kiểmsoát chặt chẽ

Vì vậy, vấn đề kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước làmột nhiệm vụ cấp bách trong quản lý nhà nước ở nước ta hiện nay Em xin

chọn đề tài: “Cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp” để viết bài thu hoạch.

NỘI DUNG

Trang 3

1 Kiểm soát quyền lực là tất yếu khách quan

1.1 Quan niệm về quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung của quyền lực chính trị và

là trung tâm của quyền lực chính trị, được hình thành thông qua cuộc đấu tranh chính trị, nhằm giành quyền tổ chức nhà nước và thực hiện chức năng thống trị xã hội.

Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước, trong đó có việc tổ chức và việc thực hiện các quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp Đồng thòi còn được bảo đảm bằng cácphương tiện độc quyền như luật pháp và bộ máy cưỡng chế quân đội, cảnhsát, nhà tù

Sự thay đổi vai trò vị trí của các giai cấp trong đời sống sản xuất xã hội

sẽ dẫn tới việc chuyển chính quyền nhà nước từ tay giai cấp này sang tay giaicấp khác, dẫn tới thay đổi căn bản tính chất của quyền lực nhà nước, phươngthức cầm quyền, các quan hệ chính trị, các thể chế chính trị và hệ thốngchính trị Các cơ quan nhà nước thực chất là các cơ quan thực thi quyền lựcnhà nước, được các giai cấp và lực lượng xã hội (còn gọi là nhân dân) traoquyền cho mà thôi Tuy nhiên, do những hình thức ủy quyền và kiểm soátquyền lực nhà nước khác nhau, nên nhiều lúc quan hệ giữa người có chủquyền và người được ủy quyền bị tha hóa, xuyên tạc

Quyền lực nhà nước dưới chủ nghĩa xã hội (CNXH) có những điểmkhác biệt so với quyền lực nhà nước trong các xã hội trước đó ở chỗ nhảnước XHCN là nhà nước chuyên chính của giai cấp công nhân Nhưng lợi íchcăn bản của giai cấp công nhân là thống nhất với lợi ích của đại đa số nhân

Trang 4

dân lao động Nên quyền lực nhà nước dưới CNXH đã có sự thống nhất giữatính giai cấp và tính xã hội, giữa tính chính trị với tính công quyền Trong cáckiểu nhà nước khác, đặc biệt là nhà nước quân chủ chuyên chế, giữa chứcnăng giai cấp đối lập với chức năng xã hội, lợi ích của giai cấp thống trị đốilập với lợi ích quảng đại quần chúng.

Trong nền dân chủ XHCN, chức năng giai cấp và chức năng xã hội tạothành một thể thống nhất, trở thành điều kiện và tiền đề hoàn thiện cho nhau

Ở Việt Nam, các bản hiến pháp đều nhất quán khẳng định quyền lựcnhả nước thuộc về nhân dân

Tại Điều 1 Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đãquy định rõ: "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân ViệtNam, không phân biệt nòi giống, gái gai, giàu nghèo giai cấp, tôn giáo" Tưtưởng nhất quán này đều được thể hiện qua Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980

và Hiến pháp 1992 Tại Điều 2 và Điều 6 Hiến pháp 1992 thì "Nhà nước xãhội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân.Tất cả quyền lực nhả nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức", "nhân dân sử dụngquyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơquan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra vàchịu trách nhiệm trước nhân dân"

Quyền lực nhà nước bao giờ cũng được thực hiện bởi các cơ quan trong

bộ máy, với những con người cụ thể trong bộ máy ấy Vì vậy, việc thực thiquyền lực cụ thể phụ thuộc vào phương thức tổ chức bộ máy nhà nước và conngười trong bộ máy ấy Nếu như người cầm quyền được trao quyền, không

Trang 5

biết thực thi quyền lực cho đúng, hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích vụ lợithì sức mạnh của quyền lực nhà nước sẽ gây nguy hiểm cho xã hội Vì thếmuốn có một xã hội tốt đẹp, quyền tự do con người được đề cao, xã hộikhông phải gánh chịu những lộng hành sai phạm vô ý thức hoặc có ý thứccủa nhà nước thì phải có cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước,kiểm soát hoạt động của công chức, viên chức nhà nước Đây là một yêu cầutất yếu trong tổ chức và hoạt động của một nhà nước dân chủ, kể cả trong nềndân chủ XHCN của chúng ta.

1.2 Quan niệm về kiểm soát quyền lực nhà nước

Hiến pháp Việt Nam quy định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có

sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việcthực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến pháp2013) Vậy, “kiểm soát” giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (kiểm soát quyền lực nhà nước là như thếnào)? Nó có sự khác biệt gì so với giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát việcthực hiện quyền lực nhà nước?

Chúng ta đều biết, trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước luônphải tiến hành các hoạt động “giám sát” Thông thường, giám sát là hoạtđộng theo dõi, xem xét, đánh giá có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệthống đối với khách thể thuộc hệ thống Trong bộ máy nhà nước, giám sátthường thể hiện chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạtđộng của bộ máy nhà nước hoặc của Tòa án nhân dân; các tổ chức xã hội vàcông dân đối với hoạt động quản lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, kỷluật trong quản lý nhà nước Chẳng hạn, theo quy định của Hiến pháp năm

Trang 6

2013 thì: Quốc hội giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều69); thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật và Nghịquyết của Quốc hội (Điều 70); Đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của cử tri(Điều 79); Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều113)

Ngoài việc giám sát, các cơ quan nhà nước còn phải tiến hành “thanhtra”, “kiểm tra” việc thực hiện quyền lực nhà nước Hiến pháp quy định:Chính phủ tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáocủa công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; hướngdẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quannhà nước cấp trên (Điều 96); Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chứcthi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vựctrong phạm vi toàn quốc (Điều 99); Chính quyền địa phương chịu sự kiểmtra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 112) Như vậy, “thanh tra”

là sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định nhằmphát hiện, ngăn chặn pháp luật trái với quy định Thanh tra là hoạt động xemxét, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc theo sự ủy quyền của cơquan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới (mang tính trựcthuộc) Còn “kiểm tra” là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.Đây là hoạt động của các chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trựcthuộc hoặc không trực thuộc) Chẳng hạn, kiểm tra của các tổ chức xã hội,các đoàn thể và của công dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước hoặckiểm tra của các cơ quan, nhân viên nhà nước có thẩm quyền nhằm xem xét,xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không

Trang 7

với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơquan kiểm tra…).

Ở Việt Nam, “kiểm sát” là hoạt động xem xét, đánh giá của Việm kiểmsát nhằm đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.Chẳng hạn, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp

Còn “kiểm soát” được cho là xem xét Đánh giá, theo dõi nhằm ngănchặn những điều trái với quy định Như vậy, về cơ bản, thanh tra, kiểm tra,giám sát, kiểm soát có nghĩa như nhau, đó là xem xét, đánh giá hoạt động củacác chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước để Hiến pháp, pháp luật được thựchiện nghiêm chỉnh, chính xác, đầy đủ, nhưng chúng khác nhau về chủ thểthực hiện, về nội dung, hình thức, phạm và đối tượng chịu sự xem xét, đánhgiá So với thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm sát thì kiểm soát có phạm vixem xét, đánh giá rộng hơn, hình thức phong phú hơn, nó bao hàm cả việcgiám sát, thanh tra, kiểm tra, theo dõi…Đối tượng chịu sự xem xét, đánh giácủa kiểm soát là tất cả các chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước Nội dungkiểm soát bao gồm việc tổ chức và việc thực hiện đối với cả quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp Chủ thể thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước khá

đa dạng, đó có thể là nhân dân, các đảng phái, của các tổ chức chính trị - xãhội, cũng có thể do chính nhà nước (các cơ quan nhà nước), thậm chí là các

tổ chức quốc tế…Từ những phân tích trên cho thấy: Kiểm soát quyền lực nhà nước là toàn bộ những hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp mà thông qua đó có thể ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện

Trang 8

quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện đúng mục đích mong muốn và đạt được hiệu quả cao.

Kiểm soát quyền lực nhà nước là rất quan trọng và cần thiết Khôngquốc gia nào có thể phát triển nhanh, ổn định và bền vững nếu như quyền lựcnhà nước không được kiểm soát và thực hiện đúng đắn Tuy nhiên, trên thực

tế tình trạng lạm quyền, tha hóa quyền lực vẫn luôn tiềm ẩn và thường xuyênxảy ra Một số nhân viên nhà nước, thậm chí cả các cơ quan nhà nước thaymặt nhân dân nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước nhưng lại lợi dụngquyền lực được giao vào mục đích vụ lợi hoặc vì mục đích cục bộ; một sốnhân viên nhà nước do năng lực, trình độ hạn chế nên đã mắc sai lầm trongviệc đưa ra những quyết định làm ảnh hưởng tới lợi ích của các tổ chức, cánhân

Việc kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện bởi nhiều chủ thể,thông qua hình thức, phương tiện với những nội dung và quy trình kiểm soátkhác nhau ở các thời điểm khác nhau Việc kiểm soát quyền lực nhà nước cóthể được tiến hành từ bên ngoài, cũng có thể từ bên trong; có thể kiểm soátcông khai, kiểm soát ngầm; kiểm soát giai đoạn, kiểm soát liên tục; có thểgiản đơn, có thể phức tạp thông qua cơ chế kiểm soát Với mỗi quốc gia, việckiểm soát và tổ chức thực hiện việc kiểm soát quyền lực nhà nước với cơ chếkhác nhau Vậy, quan niệm thế nào là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước,trong cơ chế đó bao gồm những yếu tố nào, được vận hành ra sao hiện naycũng còn khá nhiều ý kiến cần phải được nghiên cứu làm rõ

1.3 Quan niệm về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

Trang 9

Cơ chế là một thuật ngữ có thể hiểu theo nhiều nghĩa, tùy vào hoàncảnh và lĩnh vực Nhưng theo nghĩa chung nhất thì cơ chế kiểm soát quyềnlực nhà nước được hiểu là phương thức, quy trình, quy định và các thiết chế

có liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước, gắn kết chặt chẽ vớinhau hợp thành một chỉnh thể, thông qua đó việc kiểm soát quyền lực nhànước được thực hiện, nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việclàm sai trái của nhà nước, cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức vàthực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức

và thực hiện theo đúng các quy định của Hiến pháp, pháp luật, đúng mục đíchmong muốn và có hiệu quả

Từ những quan niệm về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước như trêncho thấy, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hình thành từ các thểchế, các thiết chế liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước, sự tươngtác giữa các yếu tố của cơ chế nhằm đạt được những mục đích của việc kiểmsoát

Có nhiều cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước như: cơ chế kiểm soátquyền lực nhà nước của nhà nước (các cơ quan nhà nước); cơ chế kiểm soátquyền lực nhà nước của nhân dân (các tổ chức nhà nước và cá nhân khôngphải nhà nước)…Trong các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước thì cơ chếkiểm soát của nhà nước được xem là hiệu quả hơn cả trong giai đoạn hiệnnay Trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của nhà nước, nguyên tắcpháp chế luôn được đề cao, nó đòi hỏi tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhântrực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước phải nghiêm chỉnh thực hiện các quyđịnh pháp luật về kiểm soát quyền lực nhà nước trong tổ chức cũng như trong

Trang 10

hoạt động Việc các cơ quan nhà nước tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫnnhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước có tác dụng:

Một là, Để giữ các cơ quan nhà nước luôn duy trì được mối quan hệ nội

tại với nhau với tư cách là bộ phận của một bộ máy, đảm bảo sự thống nhất

về cơ cấu tổ chức, về mục tiêu hoạt động của cả bộ máy nhà nước, giúp cho

bộ máy nhà nước tránh được những nguy cơ đe dọa phá vỡ tính thống nhất và

sự vận hành có hiệu quả cao của cả bộ máy nhà nước từ những sai lệch có thểxảy ra của mỗi cơ quan, mỗi bộ phận của bộ máy nhà nước;

Hai là, Để bảo đảm sự hợp lý trong việc phân công về chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước sao cho phù hợp với nhữngyêu cầu của quá trình thực hiện quyền lực nhà nước trong bộ máy nhà nướcthống nhất;

Ba là, Để thực hiện phối hợp về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan

nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu chung của

cả bộ máy nhà nước nhằm duy trì sự kiểm soát, chế ước, phát hiện và xử lýkịp thời những biểu hiện không đúng, không hiệu quả trong việc thực hiệnquyền lực nhà nước của mỗi cơ quan, nhân viên nhà nước hoặc của các thiếtchế khác khi tham gia thực hiện quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước được thực hiện chủ yếu và thường xuyên thôngqua bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước gồm rất nhiều các cơ quan có vị trítính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được tổ chức và hoạt động theonhiều cách thức khác nhau, nên cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước rấtphức tạp Thông thường, quyền lực nhà nước được phân định thành quyền

Ngày đăng: 06/02/2020, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w