1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số đặc điểm dịch tễ học và xây dựng bản đồ phân bố bệnh nhân sốt rét bằng hệ thống thông tin địa lý gis tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai năm 2017

8 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 611,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS vào quản lý ca bệnh là một biện pháp can thiệp cấp thiết, giúp cho ngành Y tế có được những can thiệp chính xác và hiệu quả. Bài viết nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và xây dựng bản đồ phân bố bệnh nhân sốt rét bằng kỹ thuật GIS tại địa điểm nghiên cứu.

Trang 1

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ BỆNH NHÂN SỐT RÉT BẰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ GIS

TẠI HUYỆN KRÔNG PA, TỈNH GIA LAI NĂM 2017

Đàm Văn Hào * , Hồ Văn Hoàng * , Nguyễn Công Trung Dũng *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS vào quản lý ca bệnh là một biện pháp can thiệp cấp

thiết, giúp cho ngành Y tế có được những can thiệp chính xác và hiệu quả

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và xây dựng bản đồ phân bố bệnh nhân sốt

rét bằng kỹ thuật GIS tại địa điểm nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp ứng dụng GIS

Kết quả: Nghiên cứu tiến hành điều tra và phân tích 111 bệnh nhân sốt rét, hầu hết bệnh nhân sốt rét

(BNSR) ở nhóm đối tượng >15 tuổi (chiếm 88,29%), nam mắc sốt rét cao hơn nữ với 86,49%, người Jrai mắc sốt rét là chủ yếu (chiếm 90,99%), đa số làm nương, rẫy (93,69%) BNSR thường đi lao động xa nhà (73,87%) với khoảng cách trung bình giữa 2 nơi là 30km (xa nhất 120km), 72,07% BNSR thường xuyên ngủ lại tại rẫy, trung

bình từ 9-10 ngày, một số trường hợp ngủ lại 2 tháng

Vị trí nhà ở của BNSR tại Krông Pa trên bản đồ GIS được bố trí dọc theo 2 bên bờ sông Pa Tuy nhiên hình ảnh vệ tinh nơi nghi ngờ mắc sốt rét lại cho thấy, hầu hết bệnh nhân mắc sốt rét tập trung tại 3 điểm: rừng bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, rừng đầu nguồn và khu vực thủy điện Ia Mlah

Kết luận: Phân tích một số yếu tố dịch tễ học, xây dựng được bản đồ phân bố bệnh nhân sốt rét tại những

vùng trọng điểm sốt rét cũng như nơi có địa hình phức tạp là hết sức quan trọng, giúp nhà quản lý sốt rét đưa ra những giải pháp phù hợp, kịp thời, đúng địa điểm nhằm hạn chế sốt rét gia tăng

Từ khóa: loại trừ sốt rét

ABSTRACT

SOME MALARIA EPIDEMIOLOGICAL CHARACTERICSTICS AND MAPPING THE DISTRIBUTION

OF MALARIA CASES BY GEOGRAPHIC INFORMATION SYSTEM IN KRONG PA DISTRICT,

GIALAI PROVINCE IN 2017

Dam Van Hao, Ho Van Hoang, Nguyen Cong Trung Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 322 - 328

Background: Applying GIS geographic information system on case management is a core intervention,

which helps health sectors to take action accurately and effectively

Objectives: This study aims to identify epidemiological charactoristics and mapping malaria cases using GIS in targeted sites

Methods: Cross-sectional study combined with GIS mapping

Results: In total, 111 patients were involved in the research Most of malaria cases are in age group >15

years old (accounting for 88.29%), male infected with malaria higher than female (86.49%), Jrai ethic group (90.99%), the majority of people working in terrace field (93.69%) Malaria patients usually working far from

*Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

Tác giả liên lạc: CN Đàm Văn Hào ĐT: 0389135427 Email: hao.impeqn@gmail.com

Trang 2

their home (73.87%) with average distance 30 kilometters (maximum 120km), 72.07% patients sleep overnight in mountain areas with an average of 9-10 days (few cases stay overnight for nearly 2 months)

Location on GIS of malaria patients in Krong Pa district is showed along with Pa river However, satellite images of where patients may occured with malaria shown that most of caces distributed in 3 main areas, including Ea So Natural Reserve Forest, Ia Mlah watershed forest and Ia Mlah Hydroelectric area

Conclusion: Analyzing epidemiological factors, mapping malaria patients in targeted areas is very

important, That is to contribute to appropriate interventions of health sectors, focus on targeted areas, by reducing increasing situation of malaria

Keywords: malaria elimination

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm lưu hành ở

Việt Nam trong thời gian dài Hiện nay, khu vực

miền Trung - Tây Nguyên là nơi lưu hành sốt rét

nặng tại Việt Nam Bệnh phổ biến ở người dân

tộc thiểu số, thường xuyên có các hoạt động đi

rừng/ngủ rẫy và giao lưu biên giới với Lào và

Cam-pu-chia

Việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS

vào quản lý ca bệnh là một biện pháp can thiệp

cấp thiết nhằm xác định được những khu vực

nghi ngờ mắc sốt rét cao, giúp cho ngành Y tế có

được những can thiệp chính xác và hiệu quả,

làm giảm tỷ lệ mắc sốt rét của người dân, không

để dịch sốt rét xảy ra cũng như tử vong do sốt

rét Vì vậy việc xây dựng bản đồ phân bố bệnh

nhân sốt rét bằng kỹ thuật GIS là cần thiết và

được xây dựng dựa trên mô tả một số đặc điểm

dịch tễ học của bệnh nhân sốt rét trên bản đồ

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ học của

Bệnh nhân sốt rét (BNSR) tại huyện Krông Pa,

tỉnh Gia Lai

Xác định vị trí ca bệnh sốt rét bằng kỹ thuật

GIS tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân sốt rét tại huyện Krông Pa, tỉnh

Gia Lai từ tháng 1/2017-tháng 10/2017

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả, kết hợp với kỹ thuật GIS nhằm mô tả các đặc điểm BNSR trên bản đồ

Cỡ mẫu nghiên cứu

Hồi cứu tất cả BNSR trên địa bàn huyện Krông Pa từ năm 2016 đến thời điểm nghiên cứu

Kỹ thuật nghiên cứu và thu thập số liệu

Hồi cứu số liệu BNSR dựa vào phiếu đã soạn sẵn

Phỏng vấn trực tiếp: BNSR sẽ được phỏng

vấn trực tiếp các yếu tố dịch tễ liên quan thông qua biểu mẫu đã soạn sẵn

Định vị GIS: Sử dụng thiết bị di động cầm

tay đã cài đặt sẵn ứng dụng định vị ODK

Phương pháp sử lý số liệu

Sử dụng phần mền Excel 2010 để phân tích

và sử lý số liệu

KẾT QUẢ Phân tích một số đặc điểm dịch tễ học của BNSR tại huyện Krông Pa

Kết quả hồi cứu số liệu BNSR tại huyện Krông Pa

Kết quả hồi cứu số liệu BNSR từ năm 2013 –

2017 cho thấy số ca mắc sốt rét giảm mạnh qua từng năm, riêng năm 2014 có số BNSR tăng cao với số bệnh nhân 2210 ca mắc Tuy nhiên từ năm

2015 trở đi, bệnh nhân giảm rất mạnh và đến

2017 số ca mắc sốt rét ghi nhận được chỉ còn 128

ca (Bảng 1)

BNSR có mặt ở 14 xã/thị trấn trên địa bàn huyện, một số xã có số mắc sốt rét ở mức cao như Chư Rcăm, Chư Gu, Ia Hreh, Đất Bằng, Ia Rmok, Ia Rsai, Ia Mláh Những xã này có đặc điểm vị trí xã nằm xung quanh rừng đầu nguồn

Ia Mláh, người dân tại các xã này thường có các

Trang 3

hoạt động đi rừng ngủ rẫy đến khu vực rừng

đầu nguồn Ia Mláh và nhiễm KSTSR ở những

khu vực này

Riêng 2 xã Ia Rmok và Ia Hred là 2 xã nằm

xa khu vực rừng đầu nguồn Ia Mláh, người

dân thường thường đi rừng ngủ rẫy khu vực

rừng bảo tồn Quốc Gia Ea Sô thuộc 2 huyện Ea

Kar tỉnh Đắk Lắk và Sông Hinh tỉnh Phú Yên

(Bảng 2)

Năm 2013 P.f và P.v chiếm tỷ lệ tương đương

nhau (trên dưới 50%), từ năm 2015 trở đi tỷ lệ

P.v có sự gia tăng so với P.f, đặc biệt trong năm

2016 tỷ lệ P.v chiếm ưu thế hơn hẳn so với P.f

76,36%/23,64% Tuy nhiên trong năm 2017 tỷ lệ

P.f lại chiếm ưu thế với 70,31% (Hình 1)

Bảng 1: BNSR toàn huyện Krông Pa qua từng tháng từ năm 2013-2017

Năm T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12 Tổng

2013 165 98 60 47 53 92 118 202 376 346 227 250 2034

2014 165 98 65 49 51 68 59 81 345 328 387 514 2210

2015 299 185 110 78 59 50 41 48 69 48 98 54 1139

Bảng 2: BNSR tại các xã từ năm 2013 - 2017

TT Xã 2013 2014 2015 2016 2017 Tổng

50.22

47.20

51.30

68.38

20.00 30.00 40.00 50.00 60.00 70.00 80.00 90.00

Hình 1: Cơ cấu KSTSR qua các năm 2013 – 2017 huyện Krông Pa Một số đặc điểm nhân khẩu học của nhóm

bệnh nhân được điều tra

BNSR tại huyện Krông Pa từ năm 2016 –

tháng 10 năm 2017 có 228 ca, tuy nhiên nghiên

cứu chỉ điều tra đươc 111 ca trong tổng số 228 ca Một số nguyên nhân dẫn đến không điều tra hết

số BNSR trên như: BNSR từ các huyện trong tỉnh hoặc huyện ngoài tỉnh đến cơ sở y tế huyện

Trang 4

Krông Pa điều trị, bệnh nhân đã chuyển đi nơi

khác sinh sống

Trong số 111 BNSR được điều tra chủ yếu là

người trên 15 tuổi chiếm 88,29% và hầu hết là

nam giới, nghề nghiệp chủ yếu là nghề nông

Dân tộc Jrai chiếm 90,99% trong tổng số các ca

sốt rét được điều tra (Bảng 3)

Bảng 3: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng

nghiên cứu (n=111)

TT Biến số Giá trị Số lượng Tỷ lệ %

1 Tuổi

>15 98 88,29

3 Dân tộc Jrai 101 90,99

4 Nghề nghiệp Nông 104 93.69

Bảng 4: Cơ sở y tế phát hiện và điều trị BNSR

(n=111)

TT Cơ sở phát hiện Số lượng Tỷ lệ

1 Bệnh viện huyện 34 30.63

BNSR chủ yếu được phát hiện tại Trạm y tế

xã với 68,47% Tuy nhiên, bệnh viện huyện cũng

phát hiện và điều trị cho khoảng 30,63% đến

khám trực tiếp tại nơi này Y tế tư nhân cũng có

phát hiện BNSR với tỷ lệ rất thấp chiếm 0,90%

(Bảng 4)

Trong số BNSR được điều tra có 26,13%

không đi rẫy hoặc có rẫy tại nơi sinh sống và có

73,87% số người trả lời làm rẫy cách nhà ít nhất

1km Khoảng cách trung bình từ nhà bệnh nhân đến các rẫy xa nhà gần 30km và thời gian di chuyển của họ trung bình mất khoảng 1 giờ 15 phút Mỗi lần đi rẫy người dân sẽ ngủ lại rẫy trung bình gần 10 ngày và có một số trường hợp

đi 2 tháng về nhà 1 lần Tỷ lệ BNSR có hoạt động

liên quan đến ngủ rẫy/rừng là 72,07% (Bảng 5)

Bảng 5: Đặc điểm đi rẫy của người dân (n=111)

TT Nội dung Số lượng Tỷ lệ

1

Đi rẫy xa nhà 82 73.87 Rẫy sát nhà hoặc không

Khoảng cách đến rẫy (mean ± SD) Min – Max

29,29 ± 18,57 (km)

1 - 120

2

Số người đi rẫy gần nhà 29 26.13

Số người đi rẫy xa nhà 82 73.87 Thời gian trung bình của

người dân đến rẫy/rừng (mean ± SD) Min – Max

76,22 ±55,53 (phút)

5 – 420

3

Người không ngủ rẫy 31 27.93 Người có ngủ rẫy 80 72.07 Thời gian ngủ rẫy trung

bình (mean ±SE) Min –

Max

9,89 ±1,39 (ngày)

1 – 60

Bản đồ phân bố ca bệnh sốt rét tại huyện Krông Pa

Nghiên cứu đã thực hiện điều tra tất cả các

ca bệnh sốt rét từ năm 2016 – tháng 10 năm

2017 trên toàn địa bàn huyện Krông Pa, các ca bệnh được mô tả trên bản đồ phân bố ca bệnh như sau:

Qua bản đồ phân bố và hình ảnh vệ tinh cho thấy nơi sinh sống của bệnh nhân sốt rét hầu hết tập trung dọc theo sông Pa, số còn lại sinh sống rải rác gần với khu vực rừng đầu nguồn và hồ

thủy điện Ia M’lah (Hình 2, 3)

Trang 5

Hình 2: Bản đồ phân bố nơi sinh sống của BNSR huyện Krông Pa

Hình 3: Bản đồ phân bố BNSR theo nơi sinh sống tại huyện Krông Pa qua vệ tinh

Hình 4: Bản đồ phân bố BNSR theo nơi nghi ngờ mắc tại huyện Krông Pa

Trang 6

Hình 5: Bản đồ phân bố BNSR theo nơi nghi ngờ mắc tại huyện Krông Pa qua vệ tinh

Qua bản đồ và vệ tinh về phân bố BNSR tại

nơi nghi ngờ mắc cho thấy bệnh nhân sốt rét

mắc nhiều tại 2 địa điểm trên địa bàn huyện như

sau: Hầu hết bệnh nhân tại các xã có sốt rét cao

như Ia Hdreh và Ia Rmok bệnh nhân sốt rét

thường có hoạt động đi vào khu bảo tồn thiên

nhiên Ea Sô và mắc sốt rét, Tại điểm thứ 2 là khu

vực rừng đầu nguồn và vùng thủy điện Ia M’lah

thì bệnh nhân chủ yếu lại là xã Ia M’lah và xã

Chư Rcăm thường xuyên có các hoạt động làm

nưng rẫy ở khu vực này (Hình 4, 5)

BÀN LUẬN

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của

bệnh nhân sốt rét tại huyện Krông Pa, Gia Lai

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học

BNSR tại huyện Krông Pa cho thấy BNSR tăng

cao ở những năm trước và có chiều hướng giảm

dần ở những năm gần đây, tất cả các xã trên địa

bàn huyện đều có BNSR trong những năm qua,

tuy nhiên các xã có số lượng bệnh nhân cao gồm

Chư Rcăm, Chư Gu, Ia Hdreh, Đất Bằng, Ia

Rmok điều này cũng hoàn toàn phù hợp với địa

hình cũng như tập quán canh tác nưng/rẫy của

người dân tại các xã này, đối với Ia Hdreh và Ia

Rmok người dân thường xuyên đi vào Khu bảo

tồn Ea Sô để khai thác lâm/thổ sản, trong khi đó

các xã Chư Rcăm, Chư Gu lại giáp với rừng đầu

nguồn và hồ thủy điện Ia M’lah đây là những

khu vực có nguy cơ nhiễm sốt rét cao tại huyện

này Về cơ cấu KSTSR trong những 2013-2014 tỷ

lệ giữa P.f và P.v là tương đương nhau, tuy nhiên trong năm 2015 đặc biệt là 2016 thì P.v chiếm ưu

thế hơn hẳn với tỷ lệ 76,36%, tuy nhiên trong

năm 2017 P.f lại gia tăng chiếm tỷ lệ 70,31%(2), điều này cũng phù hợp với cỏ cấu ký sinh trùng sốt rét trên toàn khu vực (3) Về đặc điểm nhân khẩu học ở đối tượng nghiên cứu cho thấy BNSR ở độ tuổi >15 chiếm tỷ lệ cao với 88,29%, nam giới cao hơn nữ giới với 86,49%, chủ yếu là người dân tộc Jrai với 90,99% và làm nông là chủ yếu chiếm 93,69%, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của tác giả Hồ Văn Hoàng (2016) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân sốt rét có các hoạt động đi rừng/ngủ rẫy(1)

Về một số đặc điểm của BNSR giữa nơi sinh sống và nơi ghi ngờ mắc SR, cho thấy đa số BNSR phải đi làm rẫy xa nhà chiếm tỷ lệ 73,87%, khoảng cách trung bình từ nhà đến rẫy là 30km với khoảng cách xa nhất lên đến 120km, và thời gian di chuyển của họ trung bình mất khoảng 1 giờ 15 phút Mỗi lần đi rẫy người dân sẽ ngủ lại rẫy trung bình gần 10 ngày và có một số trường hợp đi 2 tháng về nhà 1 lần Tỷ lệ BNSR có hoạt động liên quan đến ngủ rẫy/rừng là 72,07%

Xác định vị trí BNSR bằng hệ thống thông tin GIS

Trên hình ảnh vệ tinh (GIS) cho thấy hầu hết BNSR đều sinh sống tập trung ở dọc hai

Trang 7

bên bờ sông Pa, tuy nhiên hình ảnh biểu diễn

nơi nghi ngờ mắc sốt rét của họ lại cho thấy có

3 điểm mà tỷ lệ mắc sốt rét cao nhất là Khu

bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, rừng đầu nguồn và

hồ thủy điện Ia M’lah(3)

Việc xây dựng được bản đồ nơi sinh sống

cũng như nơi nghi ngờ mắc sốt rét tại huyện

Krông Pa là hết sức quan trọng, việc quản lý tốt

những nơi có bệnh nhân sốt rét mắc cao sẽ góp

phần không nhỏ đến việc giảm tỷ lệ mắc sốt rét

tại Krông Pa trong thời gian tới Báo cáo nhanh

ca bệnh lên hệ thống GIS cũng như xác định vị

trí mắc sốt rét của người bệnh một cách sớm

nhất sẽ giúp cho nhà quản lý SR nắm bắt được

tình hình một cách chính xác, xác định được địa

bàn cũng như nơi nhiễm tốt hơn, nên khả năng

tiếp cận cũng như khai thác những thông cần

thiết cũng được tiến hành nhanh chóng

Trong những năm trước từ năm 2006-2007,

Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy

Nhơn đã triển khai phần mềm quản lý sốt rét

(Malaria Management System –MMS) và sau

đó Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng

Trung ương cũng triển khai hệ thống báo cáo

MIS, tạo điều kiện thuật lợi cho việc báo cáo và

quản lý sốt rét được tốt hơn, tuy nhiên do các

biểu mẫu sốt rét được chỉnh sữa theo từng giai

đoạn để phù hợp với tình hình thực tiễn do

vậy các phần mềm trên phần nào đó sẽ bị cũ

và không còn tương thích nữa

Ngày 28-12-2015 Bộ y tế đã ra thông tư

54/2015/TT-BYT về hướng dẫn chế độ thông tin

báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền

nhiễm, chính vì thế Cục Y tế dự phòng và Viettel

đã phối hợp và xây dựng Hệ thống báo cáo bệnh

truyền nhiễm (eCDS) nhằm báo cáo 42 bệnh

truyền nhiễm trong đó có bệnh sốt rét Hệ thống

này đã giúp cán bộ y tế ở tuyến dưới báo cáo

nhanh được những trường hợp bệnh sốt rét,

giúp cho các nhà quản lý tuyến trên có thể đưa

ra những nhận định sớm để tránh được nguy cơ

dịch sốt rét sảy ra, tuy nhiên hệ thống eCDS

cũng chưa tích hợp được ứng dụng GIS điều này

sẽ làm hạn chế đi những phân tích sâu về nơi

nghi ngờ mắc cũng như những bệnh nhân ở vùng sâu vùng xa, việc xác định cụ thể địa điểm bệnh nhân mắc sốt rét ở đâu để có những tác động tích cực là rất hạn chế

Chính vì những lợi ích mà GIS mang lại, việc ứng dụng GIS để báo cáo nhanh trường hợp bệnh sốt rét là rất cần thiết khi Việt Nam đang tiến tới loại trừ sốt rét trong tương lai

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy BNSR hều ở nhóm tuổi

>15 (88,29%), ở nam giới cao hơn nữ với tỷ lệ (86,49%), đa số BNSR đều ra người dân tộc Jrai với 90,99% và có nghề nghiệp làm nông là chủ

yếu chiếm 93,69%, về cơ cấu KSTSR thì P.v

chiếm ưu thế với 76,36% trong năm 2016 Đặc điểm đi rừng/ngủ rẫy của BNSR cho thấy đa số BNSR phải đi rẫy xa nhà chiếm tỷ lệ 73,87%, tỷ lệ BNSR có hoạt động liên quan đến ngủ rẫy/rừng

là 72,07%

Phân tích một số yếu tố dịch tễ học, xây dựng được bản đồ phân bố bệnh nhân sốt rét tại những vùng trọng điểm sốt rét cũng như nơi có địa hình phức tạp là hết sức quan trọng, giúp nhà quản lý sốt rét đưa ra những giải pháp phù hợp, kịp thời, đúng địa điểm nhằm hạn chế sốt

rét gia tăng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hồ Văn Hoàng (2015) “Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp (truyền thông giáo dục sức khỏe, sử dụng kem xua muỗi) cho người ngủ rẫy huyện Krông Pa, Gia Lai năm 2015”

Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn

trùng Quy Nhơn

2 Nguyễn Duy Sơn, Hồ Văn Hoàng, Nguyễn Công Trung Dũng (2016) “Tỷ lệ nhiễm và hiệu quả quản lý ca bệnh sốt rét

Plasmodium vivax tại huyện Krông Pa, Gia Lai năm 2016” Tạp chí Phòng chống Bệnh sốt rét và các Bệnh ký sinh trùng, 96:73-79

3 Trịnh Hữu Toàn, Hồ Văn Hoàng, Lê Thành Tâm và CS (2016)

“Bước đầu ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong giám sát bệnh nhân sốt rét tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai năm 2016”

Tạp chí Phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng,

96:147-156

4 Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn (2019) “Những thành tựu trong phòng chống sốt rét và các bệnh ký sinh trùng khu vực miền Trung-Tây Nguyên giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch phòng chống và loại trừ sốt rét giai đoạn 2016-2020” URL:

http://www.impe-qn.org.vn/impe-qn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=1211&ID=11642

Ngày nhận bài báo: 15/08/2019

Trang 8

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019

Ngày đăng: 06/02/2020, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm