1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng ăn bọ gậy Aedes Aegypti (Linnaeus, 1762) của một số loài cá được sử dụng trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại Hà Nội

77 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHẠM ANH TUẤN ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĂN BỌ GẬY AEDES AEGYPTI LINNAEUS, 1762 CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HÀ NỘI

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHẠM ANH TUẤN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĂN BỌ GẬY AEDES AEGYPTI

(LINNAEUS, 1762) CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHẠM ANH TUẤN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĂN BỌ GẬY AEDES AEGYPTI

(LINNAEUS, 1762) CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HÀ NỘI

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này là nghiên cứu của bản thân tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công

bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Phạm Anh Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Học viện Khoa học và Công nghệ, Phòng Đào tạo, Khoa Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Học viện Khoa học và Công nghệ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Phạm Quỳnh Mai và TS

Trần Vũ Phong là những người thầy, cô đã hướng dẫn tôi rất tận tình và chu

đáo trong quá trình thực hiện cũng như hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội, Ban Chủ nhiệm khoa Ký sinh trùng – Côn trùng (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội) nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, hoàn thành luận văn và hỗ trợ kinh phí để tôi hoàn thành công tác học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ

Tôi xin bày tỏ sự chân thành cảm ơn đến các đồng nghiệp trong Khoa

Ký sinh trùng – Côn trùng (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội) nói chung cũng như đồng nghiệp trong nhóm Côn trùng của Khoa nói riêng

đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu hoàn thiện luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn vợ, các con yêu quý của tôi và bạn bè đã

động viên, chia sẻ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Trân trọng Tác giả

Phạm Anh Tuấn

Trang 5

Tiến sĩ Thứ tự

Aedes

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue 5

1.2.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới 5

1.2.2.Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương 8

1.2.3 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam 9

1.3 Tình hình nghiên cứu về sử dụng cá diệt bọ gậy 11

1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới về kiểm soát bọ gậy bằng thiên địch 11

1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 14

1.3.3 Một số đặc điểm sinh học sinh thái của các loài cá tiến hành thử nghiệm 15

Chương II.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 21

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 21

2.2 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 21

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

Trang 7

2.2.2 Vật liệu nghiên cứu 21

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Nội dung nghiên cứu 22

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.3 Phương pháp thực nghiệm 28

2.3.4 Một số tình huống bất lợi xảy ra và cách xử lý 30

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Tỉ lệ nhiễm bọ gậy Ae albopictus và Ae aegypti trong các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2018 31

3.1.1 Sự đa dạng các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2018 31

3.1.2 Tỉ lệ phát hiện BG Aedes trong các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2018 35

3.2 Khả năng ăn bọ gậy Ae aegypti theo loài của 4 loài cá trong phòng thí nghiệm 38

3.2.1 Khả năng ăn bọ gậy Ae aegypti của 4 loài cá được thử nghiệm 39

3.2.2 Đánh giá sự chênh lệch trong khả năng ăn bọ gậy Ae aegypti của mỗi loài cá qua các thí nghiệm khác nhau 40

3.2.3 Đánh giá sự chênh lệch trong khả năng ăn bọ gậyAe aegypti của các loài cá qua các ngày trong thời gian thí nghiệm 42

3.3 Khả năng ăn bọ gậy Ae aegypti theo thể trọng cơ thể (trọng lượng và chiều dài cơ thể) của các loài cá trong phòng thí nghiệm 44

3.3.1 Khả năng ăn bọ gậyAe aegypti theo trọng lượng cơ thể của 4 loài cá 44

3.3.2 Khả năng ăn bọ gậy Ae aegypti theo chiều dài cơ thể của 4 loài cá 46

3.4 Khả năng ăn bọ gậy Ae aegypti theo giới tính của 4 loài cá trong phòng thí nghiệm 48

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 58

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số tình huống bất lợi xảy ra và cách xử lý 30 Bảng 3.1 Sự đa dạng và tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội 32

từ năm 2016 - 2018 32 Bảng 3.2 Tỉ lệ phát hiện BG Aedes trong các loại dụng cụ chứa nước tại Hà

Nội từ năm 2016 - 2018 35 Bảng 3.3 Khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá được thử nghiệm 39

Bảng 3.4 Số lượng BG Ae aegypti bị ăn trong mỗi thử nghiệm 41 Bảng 3.5 Số lượng BG Ae Aegypti bị các loài cá tiêu thụ trong 7 ngày thử

nghiệm đầu tiên 42

Bảng 3.6 Khả năng ăn BG Ae aegypti theo 1 gram trọng lượng cơ thể của 4

Bảng 3.10 Số lượng trung bình bọ Ae aegypti tiêu thụ trong mỗi thí nghiệm

theo giới tính của các loài cá được thử nghiệm 48 Bảng 3.11 Khả năng ăn BG/ngày của các loài cá theo giới tính 49

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cá ăn muỗi Gambusia affinis 12

Hình 1.2 Cá bảy màu Poecilia reticulate 16

Hình 1.3 Cá đuôi kiếm Xiphophorus helleri 17

Hình 1.4 Cá chọi Nghi Tàm 18

Hình 1.5 Quá trình đẻ trứng 18

Hình 1.6 Cá đực trông tổ trứng 18

Hình 1.7 Cá cờ Macropodus opercularis 20

Hình 3.1 Tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội năm 2016 33

Hình 3.2 Tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội năm 2017 34

Hình 3.3 Tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội năm 2018 34

Hình 3.4 Tỉ lệ nhiễm BG trong các loại dụng cụ chứa nướctại Hà Nội năm 2016 36

Hình 3.5 Tỉ lệ nhiễm BG trong các loại dụng cụ chứa nướctại Hà Nội năm 2017 37

Hình 3.6 Tỉ lệ nhiễm BG ở các loại dụng cụ chứa nướctại Hà Nội năm 2018 37

Hình 3.7 TB số lượng bọ gậy tiêu thụ/mẫu cá/ngày 40

Hình 3.8 Tỉ lệ % số bọ gậy bị ăn bởi các loài cá qua các thí nghiệm 40

Hình 3.9 Biểu đồ so sánh số lượng BG bị ăn bởi các loài cáqua 3 thí nghiệm 41

Hình 3.10 Biểu đồ tổng lượng bọ gậy tiêu thụ qua 7 ngày thí nghiệm đầu tiên của 4 loài cá 43

Hình 3.11 Biểu đồ về khả năng ăn BG Ae aegypti theo 1 gram trọng lượng cơ thể của 4 loài cá 45

Hình 3.12 Biểu đồ so sánh trung bình số BG bị ăn/gram/ngày củacác loài cá qua các thí nghiệm 46

Hình 3.13 Biểu đồ về khả năng ăn bọ gậy Ae aegypti theo 1 mm chiều dàicơ thể của 4 loài cá được thử nghiệm 47

Hình 3.14 Biểu đồ so sánh trung bình số BG bị ăn/mm/ngày củacác loài cá qua các thí nghiệm 48

Hình 3.15 So sánh khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá theo giới tính 49

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Muỗi (Culicidae) là véc-tơ chính truyền một số bệnh nguy hiểm cho con người Hàng năm, trên thế giới có hàng triệu ca tử vong do các bệnh lan truyền từ muỗi Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh đang lưu hành tại Việt

Nam với hai loài muỗi truyền bệnh là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Ae.aegypti.Hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc trị và

vắc-xin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue nên việc bùng phát bệnh thành dịch rất có khả năng xảy ra và rất khó kiểm soát

Hà Nội là một thành phố lớn, có môi trường sinh thái rất đa dạng: khu dân cư đô thị, các hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp Các hệ sinh thái đất ngập nước Tính đa dạng cao của các hệ sinh thái nhân sinh và tự nhiên cùng với sự ô nhiễm ngày càng gia tăng của môi trường sống làm cho công tác kiểm soát véc-tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue gặp rất nhiều khó khăn

Có hai phương thức quan trọng nhất để kiếm soát véc-tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue là hoá học và sinh học, trong đó, diệt bọ gậy của các loài muỗi bằng biện pháp sinh học đã được chứng minh là biện pháp phòng chống bệnh

an toàn, có hiệu quả lâu dài và bền vững

Theo Báo cáo điều tra ổ bọ gậy nguồn năm 2015 tại Hà Nội đã phát

hiện 15 loại dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes Những dụng cụ chứa nước

đó thường được sử dụng để chứa nước dùng cho sinh hoạt hằng ngày của người dân nên không thể sử dụng hóa chất diệt bọ gậy mà phải sử dụng các biện pháp sinh học khác

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về diệt bọ gậy của các loài muỗi truyền bệnh cho con người bằng các biện pháp sinh học như: sử dụng các loài

giáp xác thuộc giống Mesocyclop, sử dụng các loài côn trùng thuộc họ

Corixidae, sử dụng các loài cá ăn bọ gậy Trong đó, việc sử dụng cá để diệt

Trang 11

bọ gậy trong các khu dân cư đã được chứng minh là khả thi và có hiệu quả hơn do có lợi thế về an toàn sinh học, dễ sử dụng và được sự chấp thuận cao của cộng đồng người dân

Trong báo cáo điều tra ổ bọ gậy nguồn năm 2015 tại Hà Nội cũng đã chỉ ra khoảng 59% dụng cụ chứa nước sinh hoạt ở Hà Nội có thể thả cá để

diệt bọ gậy của các loài muỗi Aedes Nhưng sử dụng những loài cá nào để diệt

bọ gậy có hiệu quả cao cần được nghiên cứu cụ thể Để góp phần giải quyết vấn đề này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ của

mình là: “Đánh giá khả năng ăn bọ gậy Aedes aegypti (Linnaeus, 1762) của một số loài cá được sử dụng trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại

Hà Nội” nhằm làm rõ khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá thường được nuôi làm

cảnh ở Hà Nội để có cơ sở khuyến cáo sử dụng chúng trong công tác kiểm soát véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Hà Nội

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá tỷ lệ nhiễm bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước tại Hà Nội;

- Đánh giá khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá (Cá bảy màu, Cá đuôi kiếm, Cá chọi, Cá cờ đỏ) trong điều kiện thí nghiệm và tiềm năng sử dụng chúng để diệt bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước khác nhau

1.2.2 Yêu cầu

Cung cấp những số liệu định lượng về tỷ lệ nhiễm bọ gậy Ae.aegypti

trong các dụng cụ chứa nước tại Hà Nội năm 2016-2018 và khả năng ăn bọ

gậy Ae.aegypti của 4 loại cá thí nghiệm làm cơ sở cho việc khuyến cáo sử

dụng các loài cá này trong phòng chống vectơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue ở Hà Nội

1.2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tham khảo cao

Về mặt khoa học, các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm giàu

Trang 12

thêm tri thức trong lĩnh vực sử dụng các biện pháp sinh học trong kiểm soát

và phòng chống các bệnh Sốt xuất huyết, Zika… lan truyền do muỗi

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện trong việc đưa ra những khuyến cáo cụ thể sử dụng 4 loài cá cảnh là Cá bảy màu, Cá chọi, Cá đuôi kiếm, Cá

cờ đỏ để diệt bọ gậy Aedes trong các dụng cụ chứa nước ở Hà Nội

Các kết quả thu được trong đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác sử dụng các biện pháp sinh học trong kiểm soát các véc tơ truyền bệnh và phòng chống bệnh Sốt xuất huyết, Zika… ở các địa phương khác

trong cả nước

Trang 13

Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

sốt xuất huyết Dengue là bệnh nhiễm vi-rút Dengue cấp tính do muỗi

vằn Aedes aegypti truyền và có thể gây thành dịch lớn Bệnh lưu hành phổ

biến ở cả miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, kể cả ở thành thị và vùng nông thôn.Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào các tháng 7 - 10.Các nhà khoa học hiện vẫn đang nghiên cứu phát triển vắc-xin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue và có loại vắc xin đã được cấp phép sử dụng tại một số ít quốc gia trên thế giới, tuy nhiên hiệu quả vẫn còn hạn chế Diệt bọ gậy và muỗi vằn truyền bệnh hiện là biện pháp chủ đạo trong việc hạn chế sự lan truyền của bệnh sốt xuất huyết Dengue

Các biện pháp phổ biến để kiểm soát bọ gậy hiện nay ở Việt Nam gồm

có sử dụng một số loại hóa chất, sử dụng các biện pháp sinh học, loại bỏ và

xử lý các dụng cụ chứa nước có bọ gậy Trong đó, biện pháp hóa học chỉ có thể áp dụng đối với những nguồn nước và nơi chứa nước mà người dân không

sử dụng Đối với những dụng cụ chứa nước sử dụng cho sinh hoạt hằng ngày cần sử dụng biện pháp sinh học diệt bọ gậy để đạt được hiệu quả cao và an toàn cho người dân

Số liệu thống kê tại Hà Nội từ những năm 2014 – 2016 cho thấy tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nước có bọ gậy có thể thả cá chiếm tỉ lệ cao (60%).Dùng cá để diệt bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước là một trong những biện pháp không thể thiếu được trong các chiến dịch vệ sinh môi trường diệt bọ gậy tại Việt Nam.Ưu thế của phương pháp sử dụng cá trong việc kiểm soát bọ gậy là sự chấp thuận của cộng đồng, mang lại hiệu quả cao

và lâu dài.Bên cạnh đó việc đưa hóa chất vào môi trường sống của người dân cũng được giảm thiểu, và tỉ lệ rủi ro so với các biện pháp sử dụng hóa chất thấp hơn rất nhiều.Nhưng việc sử dụng loài cá nào hiệu quả cần được nghiên cứu cụ thể Bên cạnh đó cần triển khai các hoạt động nghiên cứu về các loài

Trang 14

cá khi được thả ngoài thực địa để đánh giá khả năng sống cũng như nghiên cứu về các nguyên nhân và cách khắc phục khi cá bị chết hay mất trong các

bể chứa nước sinh hoạt tại cộng đồng

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá khả năng ăn bọ gậy Aedes aegypti của một số loài cá được sử dụng trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại Hà Nội” nhằm đánh giá tỉ

lệ các loại dụng cụ chứa nước có bọ gậy tại Hà Nội từ năm 2016 đến năm

2018 và khả năng ăn bọ gậy của 4 loại cá cảnh là Cá bảy màu, Cá cờ đỏ, Cá đuôi kiếm và Cá chọi, vốn là những loài cá được nuôi rộng rãi làm cảnh Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu về khả năng thả các loài cá này vào các dụng cụ chứa nước khác nhau với mục đích vừa diệt bọ gậy vừa để làm cảnh

1.2 Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.2.1 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới

Sốt xuất huyết Dengue là căn bệnh nhiệt đới do muỗi Ae aegypti và Ae albopictus lan truyền Đây là căn bệnh nguy hiểm do virus truyền qua muỗi vằn

đốt người vào ban ngày Khí hậu vùng nhiệt đới với nhiệt độ giao động từ 15 đến

400C và độ ẩm cao kết hợp với môi trường sống đông đúc, mất vệ sinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho căn bệnh này phát triển Căn bệnh này có hai thể: Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue Sốt Dengue có triệu chứng tương tự như cảm cúm, thường xảy ra ở trẻ lớn, người lớn và ít khi gây tử vong.Trái lại, sốt xuất huyết Dengue là thể thứ phát rất nguy hiểm, có xuất huyết và bệnh nhân có thể

bị chết nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời[45], [47]

Dịch sốt Dengue được biết đến cách đây ba thế kỷ ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Trước đó đã có một bệnh tương tự như sốt Dengue cũng đã được ghi nhận ở Trung Quốc vào khoảng đầu năm 992 sau công nguyên và sau đó là năm 1635 ở những vùng Tây Ấn Độ thuộc Pháp Năm 1780, có tác giả đã mô tả bệnh “Sốt gãy xương” ở Philadenphia có thể chính là sốt Dengue Trong thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20 đã xảy ra

Trang 15

những vụ dịch của các bệnh tương tự như sốt Dengue ở các khu vục có khí hậu nhiệt đới và một số vùng có khí hậu ôn đới Vụ dịch đầu tiên được khẳng định là sốt xuất huyết Dengue được ghi nhận tại Philippin vào năm 1953-1954 [4,41]

Sốt xuất huyết Dengue là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhập viện và tử vong của trẻ em ở các nước Đông Nam Á và Tây Á Thái Bình Dương Ở Việt Nam, sốt xuất huyết Dengue xảy ra ở hầu hết các tỉnh thành phố vào các tháng rải rác trong năm, nhưng tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 [1,43,47] Theo dự đoán của Epstein thì biến đổi khí hậu là một nguyên nhân chính gây ra sự lan tràn bệnh sốt xuất huyết Ngày nay, sốt xuất huyết xuất hiện khá phổ biến ở các nước Châu Á và Châu Mỹ - La Tinh Ngoài ra các nguyên nhân khác làm bùng phát bệnh này

ở nhiều quốc gia trên thế giới là do gia tăng dân số, đô thị hóa không theo quy hoạch, giao thông đi lại phát triển giữa các vùng miền, sự biến đổi của virut Dengue cũng như tập quán trữ nước và điều kiện vệ sinh môi trường kém…

Những vụ dịch sốt xuất huyết Dengue lớn gần đây xảy ra ở nhiều nước thuộc nhiều khu vực, trừ Châu Âu.Tuy vậy một số nước trong khu vực này đã

có một số lượng đáng kể các trường hợp sốt xuất huyết Dengue ngoại lai từ các nước khác đến Tổng số dân trên toàn cầu có nguy cơ mắc bệnh ước tính vào khoảng từ 2,5 - 3 tỷ người, phần lớn trong số này sống ở khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Mặc dù trước kia sốt xuất huyết Dengue được cho là bệnh chỉ xuất hiện ở khu vực đô thị, nhưng ngày nay, bệnh đã trở nên phổ biến ở khu vực nông thôn các nước đông nam Á Hàng năm, ước tính có

ít nhất 100 triệu người mắc Sốt Dengue và 500.000 trường hợp sốt xuất huyết Dengue cần phải nhập viện Trong số trường hợp sốt xuất huyết Dengue, thì 90% là trẻ em dưới 15 tuổi Tỷ lệ tử vong trung bình do sốt xuất huyết Dengue là 5%, số tử vong là 25.000 trường hợp mỗi năm Từ năm 1975 đến năm 1995, sốt xuất huyết Dengue xảy ra ở 102 nước, trong đó có 20 nước

Trang 16

châu Phi, 42 nước châu Mỹ, 7 nước Đông Nam Á, 4 nước phía Đông Địa Trung Hải và 29 nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương Hiện nay, những khu vực có khí hậu nhiệt đới đều là những vùng có nguy cơ bị dịch cao với tất

cả 4 típ vi rút lưu hành, đó là các khu vực châu Mỹ, châu á, Tây Thái Bình Dương và châu Phi Ở phía bắc Queensland (Úc), có 3 típ vi rút là DEN-1, DEN-2 và DEN-3, ở Trung Đông có 2 típ là DEN-1 và DEN-2 Hiện nay trên thế giới sốt xuất huyết Dengue chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin phòng chống sốt xuất huyết Dengue đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng mà chưa đưa vào sử dụng, chính vì vậy biện pháp phòng chống sốt xuất huyết Dengue chủ yếu vẫn dựa vào việc kiểm soát véc tơ, trong đó biện pháp sử dụng hóa chất diệt côn trùng là đặc biệt có hiệu quả trong việc giảm nhanh chóng các quần thể muỗi gây bệnh [11,32]

Khoảng thời gian từ 1975 đến 1995 dịch đã xảy ra ở 102 nước thuộc năm trong sáu khu vực là thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới, chỉ trừ khu vực châu Âu, bao gồm 20 nước châu Phi, 4 nước khu vực Địa Trung Hải, 29 nước khu vực Tây Thái Bình Dương, 42 nước thuộc châu Mỹ, 7 nước khu vực Đông Nam Á Cho tới nay, bệnh có tính lưu hành địa phương tại Châu

Mỹ, Châu Phi và Địa Trung Hải Tại khu vực châu Á và Thái Bình Dương, bệnh là gánh nặng về y tế tại các nước có dịch lưu hành [5,18]

Trong những năm gần đây, sốt xuất huyết Dengue đã trở nên trầm trọng hơn bởi phân bố địa lý rộng rãi cả về vi rút gây bệnh và véc tơ truyền bệnh Tần suất các vụ dịch ngày càng gia tăng với sự xuất hiện của nhiều túp vi rút Dengue cùng lưu hành và xuất hiện những trường hợp sốt xuất huyết Dengue trong các vùng địa lý mới Hiện nay bệnh vẫn đang lưu hành ở trên 100 nước, trong đó có khoảng 2,5 tỷ người có nguy cơ mắc bệnh Mỗi năm có khoảng

100 triệu trường hợp mắc sốt Dengue, 500.000 trường hợp Sốt xuất huyết Dengue cần nhập viện, trong đó 90% là trẻ em dưới 15 tuổi Tỷ lệ tử vong trung bình do sốt xuất huyết Dengue là 5% [32]

Trang 17

1.2.2.Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương

Tại Đông Nam Á, sốt xuất huyết Dengue lần đầu tiên được mô tả như một bệnh mới ở Philippin năm 1953 (Gọi là bệnh sốt xuất huyết Philippin)

Từ đó, dịch sốt xuất huyết Dengue lớn đã xảy ra ở hầu hết các nước Đông Nam Á, bao gồm cả Ấn Độ, Inđônêxia, Manđivơ, Mianma, Xri Lanca, Thái Lan và các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương như Singapo, Campuchia, Trung Quốc, Lào, Malaixia, Niu Calêđônia, Palau, Philippin, Tahiti và Việt Nam với tỷ lệ tử vong cao và sự có mặt cả 4 type vi rút Sốt xuất huyết Dengue là nguyên nhân dẫn đến nhập viện và gây tử vong hàng đầu tại một số nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam [5,32]

Sốt xuất huyết Dengue đã trở thành dịch lưu hành ở Thái Lan và Philippine Có sự tăng rõ rệt số bệnh nhân mắc sốt xuất huyết Dengue trong những từ 1971 đến 1978 ở nhiều nước khác nhau thuộc Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương Trong giai đoạn 1975 - 1978, số bệnh nhân mắc sốt xuất huyết Dengue phải vào viện là 17.251, chết 772 ở Miến Điện, 21.818, chết

916 ở Inđônêsia, và 71.312, chết 1.676 ở Thái Lan [8,9] ở vùng Tây Thái B nh Dương, WHO đã nhận được báo cáo về tình hìnhsốt xuất huyết Dengue năm

1975 từ các nước Malaysia, Philippine, Singapore, năm 1976 từ Việt Nam và năm 1979 từ các nước Nam Á và Thái Bình Dương [2,10,17] Năm 1978, một

vụ dịch sốt xuất huyết Dengue lớn xảy ra ở miền Nam Trung Quốc do vi rút DEN-4 gây ra có 22.122 bệnh nhân (chết 14) Năm 1979 - 1980, dịch xảy ra ở Nam Thái Bình Dương và Niu-Ghi-nê (dân số 3.000 người) với 616 bệnh nhân, chết 4 Năm 1982, Malaysia thông báo dịch sốt xuất huyết Dengue do

vi rút DEN-1, 2 và 3 gây ra với 3.005 bệnh nhân, chết 53 Dịch xảy ra ở đảo Sôlômôn năm 1982 do vi rút DEN-3, ở Bắc Queensland (Úc) năm 1981 -

1982 do vi rút DEN-1, 2 và 3 với tổng số 455 bệnh nhân Kể từ đó sốt xuất huyết Dengue ngày càng trở nên trầm trọng ở hầu hết các nước Đông Nam

Trang 18

Châu á và Tây Thái Bình Dương Theo thống kê chưa đầy đủ của WHO, ở một số nước Đông Nam Châu Á và Tây Thái Bình Dương từ 1960 đến 1993

số mắc đã lên tới 2.900.595, trong đó có 39.143 người chết Kết quả của nghiên cứu của Chadee (2013), xác định tập tính của Ae aegypti ở St Augustine, Trinidad, thấy đa số muỗi cái thu thập từ phòng ngủ (81,9%), phòng sinh hoạt (8,7%) và bếp (6,9%) và hầu hết muỗi được thu thập từ bề mặt tường tối gần sàn chứ không phải trên bề mặt phía trên cao của bức tường Những kết quả này tương tự như quan sát thấy của một số tác giả ở Cộng hòa Dominica năm 1990, Puerto Rico năm 1994, Panama năm 2000, Costa Rica năm 2003 [6,7,22]

1.2.3 Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam

Tại Việt Nam, dịch sốt xuất huyết Dengue đầu tiên xảy ra ở miền Bắc vào năm 1958 được Chu Văn Tường và Mihow thông báo vào năm 1959, ở miền Nam vào năm 1960 với 60 bệnh nhân nhi tử vong Từ đó bệnh trở thành dịch lưu hành địa phương ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và dọc theo bờ biển miền Trung Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả ở vùng nông thôn, nơi có muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue [37]

Trong những năm gần đây tỉ lệ mắc bệnh cao nhất được ghi nhận tại các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh ven biển miền Trung.Tuy nhiên, những số liệu mới đây đã chỉ ra rằng bệnh đã phát triển đến vùng cao nguyên Trung bộ, nơi đang phát triển đô thị mới với điều kiện cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường kém Tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, sự lan truyền bệnh bị hạn chế trong những tháng đông xuân do nhiệt độ môi trường thấp không thích hợp cho sự phát triển và sinh sản của muỗi truyền bệnh Ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh cao nguyên biên giới phía Bắc không thấy bệnh xuất hiện, kể cả những năm có dịch lớn [43]

Trước năm 1990, bệnh sốt xuất huyết Dengue mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét, với khoảng cách trung bình 3 - 4 năm Sau năm 1990, bệnh

Trang 19

xảy ra liên tục với cường độ và qui mô ngày một gia tăng Vụ dịch lớn gần đây nhất xảy ra vào năm 1998 ở 56/61 tỉnh thành phố với số mắc 234.920 trường hợp và 377 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 306,3 trường hợp/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,19% Giai đoạn từ năm 1999 - 2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm đi chỉ còn 36.826 trường hợp và số tử vong là 66 trường hợp Tuy nhiên trong vòng 3 từ 2004 - 2006 số mắc và số tử vong vì sốt xuất huyết Dengue có xu hướng gia tăng Năm 2006 cả nước đã ghi nhận 77.818 trường hợp mắc sốt xuất huyết Dengue, trong đó 68 ca tử vong, tỷ lệ mắc 88,6 trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,09%, những năm

2007 đến 2009 mặc dù đã có nhiều biện pháp phòng chống dịch nhưng số mắc vẫn tiếp tục tăng, năm 2007 số mắc sốt xuất huyết Dengue là 122,61 trường hợp/100.000 dân, năm 2008 số mắc 106,27 và năm 2009 là 117,55 trường hợp/100.000 dân, tuy nhiên tỷ lệ chết/mắc không tăng [33,34,44]

Bệnh sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng

có sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu

á nhiệt đới, bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và

hoạt động của Ae.aegypti Bệnh phát triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10

và đỉnh cao vào tháng 7,8,9 và 10 Ở miền Nam và nam Trung bộ bệnh sốt xuất huyết Dengue xuất hiện trong suốt năm với tần số mắc nhiều hơn vào tháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũng vào những tháng 7, 8, 9 và 10 [43,46,47]

Qua các số liệu thống kê cho thấy, tuổi mắc bệnh có sự khác biệt giữa các miền.Ở miền Bắc Việt Nam, nơi có bệnh lưu hành thấp thì tất cả các lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh.Nhưng ở miền Nam, bệnh lưu hành cao, lứa tuổi mắc bệnh phần lớn là trẻ em Năm 2006 trẻ em < 15 tuổi mắc bệnh ở miền Bắc chiếm 21,8%, miền Trung 47,9% và miền Nam 64,3%, Tây Nguyên 15,9% [40,42]

Ở các tỉnh miền Bắc, virus DEN-1 có chu kỳ hoạt động từ 1989 đến

Trang 20

1996; DEN-2 hoạt động từ 1987-1997; DEN-3 bắt đầu hoạt động từ 1995 và còn hoạt động trong thời gian tới Virus DEN-4 xuất hiện rải rác các năm

1987, 1990, 1991, 1992, 1998 Vụ dịch ở Hà Nội năm 1991 có cả 4 loại virus, năm 1998 chỉ có DEN-1, DEN-2 và DEN-3 Xét nghiệm MAC - ELISA trong năm 1998 ở miền Bắc có 30036 trường hợp mắc sốt xuất huyết Dengue (lâm sàng), xét nghiệm 1142 trường hợp (tỷ lệ 3,80%; dương tính 525 trường hợp 45,59%) [35,38]

Ở các tỉnh phía Nam, năm 1998 là năm có dịch lớn với 445 trường hợp mắc/100 000 dân và 1,27 trường hợp chết/100 000 dân, chủng virus DEN-3 chiếm ưu thế Ngược lại, năm 1999 số trường hợp mắc và chết thấp (80,7 trường hợp/100000 dân và 0,23 trường hợp chết/100000 dân), tuýp DEN-4 mới xuất hiện và tăng dần [36]

Năm 2012 cả nước ghi nhận 87.202 trường hợp mắc, 79 trường hợp tử vong [39], năm 2013 tuy có giảm hơn nhưng cũng ghi nhận 66.138 trường hợp mắc và 42 trường hợp tử vong Hàng năm số ca mắc tăng dần từ tháng 5

có đỉnh vào các tháng tháng 7,8,9,10 và giảm thấp nhất vào các tháng 1,2,3

Theo thống kê của TTYTDP Hà Nội năm 2017, số ca mắc của Hà Nội

là 37.745 cao hơn rất nhiều lần so với cùng kỳ năm 2016 Tại 6 quận huyện

có số bệnh nhân cao nhất tập trung ở 5 quận (Hoàng Mai – 5.136; Đống Đa – 4.946; Hai Bà Trưng – 3.110; Thanh Xuân – 2.865; Hà Đông – 2.766) và 1 huyện (Thanh Trì – 2.549) Năm 2018, số ca bệnh sốt xuất huyết Dengue được báo cáo là 4.430; số lượng này đã giảm rất nhiều so với năm 2017 tuy nhiên có nguy cơ tăng trở lại vào những năm sau đó

1.3 Tình hình nghiên cứu về sử dụng cá diệt bọ gậy

1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới về kiểm soát bọ gậy bằng thiên địch

Kiểm soát sinh học bao gồm việc sử dụng các thiên địch, ký sinh trùng và mầm bệnh [12].Biện pháp sinh học nhằm mục đích kiểm soát véc-tơ đến một mức độ chấp nhận được và đồng thời để tránh tác dụng phụ đến hệ sinh thái

Trang 21

Việc sử dụng các loài thiên địch vào việc kiểm soát muỗi lần đầu tiên được ghi nhận trong thế kỷ XIX [24] Tuy nhiên, sự phát triển hàng loạt các biện pháp sinh học vào trong kiểm soát sinh học mà không có những nghiên cứu và tìm hiểu kĩ lưỡng có thể mang lại hiệu quả không cao hoặc có thể mang lại ảnh hưởng xấu đến sinh thái khi không thể kiểm soát được chính loài thiên địch là loài xâm lấn gây hại cho hệ sinh thái bản địa

Từ những nghiên cứu khởi đầu đó, việc sử dụng các loài thiên địch như một số loài thân mềm, giun dẹp, động vật giáp xác ăn thịt vào việc kiểm soát sinh học lại mang đến nhiều vấn đề khác về đa dạng sinh học Qua những nghiên cứu và thử nghiệm đó, việc sử dụng một số loài cá trong việc kiểm soát véc-tơ đã được nghiên cứu Trong đó nhiều quốc gia đã đưa loài Cá ăn

muỗi Gambusia affinis vào việc kiểm soát bọ gậy kể từ đầu những năm 1900,

các quốc gia hưởng ứng phương pháp này chủ yếu là các nước có loài Cá ăn muỗi là cá bản địa (Legner 1995)

Loài G affinis còn được gọi là Cá ăn muỗi (mosquitofish hay gambezi)

thuộc họ Cá khổng tước - Poeciliidae (bộ Cá Sóc – Cyprinodontiformes) có nguồn gốc từ Bắc và Trung Mỹ đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng vào việc kiểm soát véc tơ

Hình 1.1 Cá ăn muỗi Gambusia affinis

Trang 22

Cá ăn muỗi G affinis là loài ăn động vật tạp; chúng ăn phù du, ấu trùng côn trùng và đôi khi ăn cả mùn bã Cá ăn muỗi G affinis là có kích thước nhỏ

và sông ở các thủy vực nước ngọt Bọ gậy chỉ chiếm một phần nhỏ trong chế

độ ăn của loài cá này [26] Tại Mĩ, cá ăn muỗi G affinis được coi là một loài

cá bản địa và một số địa phương đã phát cho người dân trong việc diệt bọ gậy tại các gia đình có các dụng cụ chứa nước nhân tạo [32, 33]

Tại Châu Âu và một số nước khác khuyến cáo người dân chỉ nên sử

dụng các loại cá bản địa trong việc kiểm soát véc-tơ, do tính ăn tạp của G affinis nên việc trở thành ngoại lai xâm lấn hoặc thích nghi sinh thái không

phù hợp sẽ làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và không mang lại hiệu quả cao trong việc kiểm soát véc-tơ tại các nước đó

Theo PGS TS Nguyễn Hữu Dực, những năm gần đây ở Việt Nam

cũng đã phát hiện loài Cá ăn muỗi G affinis Về đặc điểm hình thái nó khá giống với hai loài Cá sóc Orysias latipes và Orysias sinensis (loài bản địa ở

Việt Nam) thuộc họ Cá sóc – Adrianichthyidae (bộ Cá Nhói – Beloniformes)

Những loài cá được tiến hành làm thử nghiệm (Cá bảy màu, Cá kiếm,

Cá chọi, Cá cờ) trong đề tài này được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm tìm hiểu về các đặc điểm phân loại học và sinh thái học.Chưa có nhiều tài liệu

về các hoạt động nghiên cứu kiểm soát véc-tơ bằng việc sử dụng các loài cá này.Những loài cá trong nghiên cứu này chủ yếu được biết đến qua giá trị cao

về mặt thẩm mỹ, giải trí được quan tâm nhân giống và lai tại ra nhiều giống mới có màu sắc đa dạng

Những nghiên cứu cụ thể về khả năng diệt bọ gậy của các loài cá tiến hành thử nghiệm chưa có nhiều mà chủ yếu các nghiên cứu có nhắc đến các nguồn thức ăn của các loài cá này Tất cả các loài cá trong nghiên cứu lần này đều là những loài ăn thịt và ăn tạp Thức ăn chủ yếu của chúng là các nhóm động vật thân mềm, phù du, giáp xác (trong đó có cả ấu trùng côn trùng) nên việc sử dụng các loài cá này là hoàn toàn có cơ sở khoa học

Trang 23

1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh có tốc độ lây lan nhanh chóng Theo thống kê của Bộ Y tế, trung bình hàng năm có đến hơn 10.000 người mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam, với chi phí điều trị khoảng 1.000.000đ – 5.000.000đ/ca, gây tốn kém không nhỏ cho xã hội Tuy nhiên, với các biện pháp phòng bệnh hiệu quả, các nhà khoa học Việt Nam đã và đang ứng dụng vào cộng đồng để giảm thiểu tối đa nguy cơ gây bệnh sốt xuất huyết Dengue cho người dân

Tại Việt Nam, hàng năm có rất nhiều chiến dịch phòng chống sốt xuất huyết Dengue bằng nhiều biện pháp khác nhau.Trong đó, biện pháp hiệu quả

và ít ảnh hưởng đến đời sống người dân và môi trường là sử dụng các thiên địch để diệt bọ gậy.Các hoạt động thả cá và phát cá cho người dân ở các địa phương thường xuyên diễn ra trong các chiến dịch phòng chống sốt xuất huyết Dengue và vệ sinh môi trường tại các điểm có chỉ số dụng cụ chứa nước có BG cao.Các loài cá sử dụng là những loài cá được tri thức người dân ghi nhận và sử dụng nhiều.Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam về các loài

cá được tiến hành trong đề tài chủ yếu tập trung vào việc khai thác nguồn lợi kinh tế (làm sinh vật cảnh và làm thực phẩm) Những đánh giá về khả năng ăn

bọ gậy của các loài cá được sử dụng trong nghiên cứu này chủ yếu về mặt cảm tính (cá to ăn nhiều, cá nhỏ ăn ít)

Năm 2014, các nhà khoa học tại trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ đã phối hợp với người dân trong địa bản tỉnh Cần Thơ thực hiện thả Cá bảy màu trong các thùng chứa nước và đậy tấm nilon trên các bể chứa Kết quả trong năm

2013 có 11 ca sốt xuất huyết Dengue nhưng năm 2014 chỉ còn 3 ca Cũng trong năm 2014, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Bình đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu về “Điều tra thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Quảng Bình và đề xuất các giải pháp phòng chống” Đề tài đã đề xuất sử dụng

Trang 24

một số biện pháp sinh học sinh thái vào trong kiểm soát véc-tơ nhờ thiên địch như: Sử dụng cá để thả vào dụng cụ chứa nước tại cộng đồng, bên cạnh đó đề tài còn nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái của một loài động vật giáp

xác Mesocyclops sp để tiêu diệt bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước và đã

đạt được những hiệu quả nhất định

Tại Hà Nội, Trung tâm Y tế dự phòng (nay là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội) những năm trước đây cũng đã có những thử nghiệm bước đầu về khả năng ăn của một số loại cá cảnh (Cá vàng, Cá chọi) Nhưng chưa đầy đủ thông tin và cần bổ sung thêm số liệu và dẫn liệu cụ thể

để áp dụng rộng rãi vào các chiến dịch diệt bọ gậy ở khu vực Hà Nội Với tính đặc thù riêng và là khu vực đa dạng về sinh cảnh nên việc thực hiện đề tài này là hoàn toàn hợp lý và có ý nghĩa thực tiễn trong việc kiểm soát dịch bệnh

do muỗi lây truyền tại Hà Nội

1.3.3 Một số đặc điểm sinh học sinh thái của các loài cá tiến hành thử nghiệm

Cá bảy màu - Poecilia reticulateW Peters, 1859

Cá bảy màu - Poecilia reticulata là một trong những loại cá cảnh nước

ngọt phổ biến nhất thế giới [13].Cá bảy màu thuộc họ Cá khổng tước – Poeciliidae (bộ Cá chép răng – Cyprinodontiformes) Cá cái dài 4 – 6 cm, cá đực dài 2,5 – 3,5 cm Cá bảy màu có nguồn gốc từ Châu Mĩ và là dạng cá đẻ trứng thai [14] Cá bảy màu đã được đưa vào nhiều quốc gia khác nhau tại mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực do các ý kiến trái chiều với việc kiểm soát BG thì Cá bảy màu sẽ trở thành loài xâm hại có ảnh hưởng tiêu cực tới quần xã cá bản địa [28]

Cá bảy màu đã được đưa vào Việt Nam từ những năm 1970 để thả vào các ao, hồ, bể nước, chum, vại, nhằm tiêu diệt bọ gậy trong chương trình diệt trừ sốt rét và các bệnh truyền nhiễm khác Tại Việt Nam, Cá bảy màu còn

có nhiều tên gọi khác nhau như: cá mây chiều, cá công,

Trang 25

Hình 1.2 Cá bảy màu Poecilia reticulate

A Cá cái B Cá đực

Cá bảy màu (Poecilia reticulata) là giống cá dễ nuôi, sinh sản nhiều và

nhanh [15], đa dạng và phong phú nhất về màu sắc trong số các loài cá cảnh tại Việt Nam Thời gian mang thai của loài này trong khoảng 22 – 30 ngày Nhiệt độ thích hợp để Cá bảy màu sinh sản khoảng 280C Cá bảy màu cái có thể đẻ đến 200 cá con trong 1 lần mang thai, thông thường trong khoảng 5 -

30 con Cá con vừa sinh đã có đầy đủ khả năng bơi, ăn, và tránh nguy hiểm Chỉ vài giờ sau khi sinh đẻ xong, cá cái lại sẵn sàng cho việc thụ thai Cá bảy màu có khả năng lưu trữ tinh trùng, nên sau chỉ một lần cặp đôi với cá đực, cá cái có thể sinh nhiều lần Nếu không nuôi riêng hoặc không có lưới ngăn, cá trưởng thành sẽ ăn cá con Cá con cần khoảng một hoặc hai tháng để trưởng thành [23]

Ngoài việc nhân nuôi làm cảnh thì Cá bảy màu được biết là loài cá ăn thịt [3] Thức ăn của chúng bao gồm các loài động vật thân mềm và giáp xác, trong đó có cả bọ gậy Chính vì vậy chúng còn được áp dụng rộng rãi trong tri thức người dân với việc kiểm soát bọ gậy tại các dụng cụ chứa nước trong hộ gia đình

Cá đuôi kiếm - Xiphophorus helleriHeckel, 1848

Cá đuôi kiếm Xiphophorus helleri thuộc họ Cá khổng tước –

Poeciliidae (bộ Cá chép răng – Cyprinodontiformes) Cá đuôi kiếm hay còn được gọi là Cá kiếm, đuôi kiếm, hồng kiếm

Trang 26

Hình 1.3 Cá đuôi kiếm Xiphophorus helleri

Cá đuôi kiếm có nguồn gốc từ Bắc và Trung Mỹ, chiều dài cơ thể có thể đạt kích thước tối đa là 14 cm Cá đực có đặc trưng phần đuôi ở thùy dưới kéo dài về sau giống hình thanh kiếm Cá có màu cam, đỏ nhạt, sống cả ở nước tĩnh và nước động, thích hợp cho việc nhân nuôi làm cảnh.Ở một số nước thuộc Nam Phi, với khả năng sinh sản nhanh cá đuôi kiếm xâm lấn ra tự nhiên đã gây ảnh hưởng nặng nề về sinh thái [30]

Cá đuôi kiếm được di nhập về Việt Nam làm sinh vật cảnh.Với nguồn gốc xuất phát từ vùng khí hậu nhiệt đới, Cá đuôi kiếm đã thích nghi nhanh chóng với điều kiện môi trường Việt Nam Ngoài tự nhiên, Cá đuôi kiếm ưa thích ở các thủy vực nước chảy ở các kênh rạch, mương, ao,… [31,48] Cá đuôi kiếm là loài ăn thịt, nguồn thức ăn chủ yếu của Cá đuôi kiếm là các động vật giáp xác hay các loài thân mềm trong nước Đôi khi chúng còn ăn các loài

cá nhỏ khác Qua các đặc tính của loài này, ngoài việc nhân nuôi làm cảnh, ở Việt Nam Cá đuôi kiếm còn được sử dụng nuôi trong các dụng cụ chứa nước

để phòng chống bọ gậy Tuy nhiên, việc hạn chế về giới hạn thức ăn nên khả năng sống trong môi trường của các dụng cụ chứa nước thiếu về nguồn thức

ăn nên cá thường có hiện thượng phát triển không bình thường, cá gầy và tuổi thọ không cao

Cá chọi - Betta splendens Regan, 1910

Cá chọi - Betta splendens thuộc họ Cá tai tượng – Osphronemidae (bộ

Cá vược – Perciformes) Cá chọi còn được gọi là cá xiêm, cá bê-ta là một loài

cá có nguồn gốc ở lưu vực Lào, Căm-phu-chia, Việt Nam và Thái Lan Cá chọi được tìm thấy chủ yếu ở các vùng nước đứng của kênh, rạch, ruộng lúa

Trang 27

và vùng đất ngập nước [19].Trong “Danh sách đỏ về các loài bị đe dọa –

IUCN”, Cá chọi Betta splendens nằm trong số các loài sắp nguy cấp –

Vulnerable (VU) [25]

Hình 1.4 Cá chọi Nghi Tàm

A Con cái B Con đực

Cá chọi là loài cá có kích thước nhỏ, chiều dài khoảng 6,5 cm [20] Cá chọi ở Việt Nam được biết đến như một loài cá cảnh và giải trí với nhiều màu sắc rực rỡ.Ở ngoài tự nhiên, màu sắc của Cá chọi màu nhạt và xỉn màu hơn.Khi gặp kẻ thù hoặc chiến đấu, màu sắc của Cá chọi thay đổi nhanh chóng và trở nên thẫm hơn [12] Cá chọi có đặc tính lãnh thổ cao, khi mật độ

cá quá cao sự va chạm và tấn công nhau giữa các cá thể thường xuyên xảy ra Ngoài tự nhiên, mỗi Cá chọi đực có một vùng lãnh thổ riêng, Cá chọi cái đẻ trứng.Cá chọi sinh sản thích hợp ở nhiệt độ khoảng 24 – 28oC [28].Đến mua giao phối, Cá chọi đực tạo ra một tổ bọt để cá cái đẻ trứng.Mỗi lần cá cái đẻ trứng cá cái thường đẻ 10 – 40 trứng, khi cá cái đẻ trứng cá đực phun tinh trùng ra để số trứng mới đẻ được thụ tinh (thụ tinh ngoài)

Hình 1.5 Quá trình đẻ trứng Hình 1.6 Cá đực trông tổ trứng

Quá trình ghép cặp của Cá chọi thường diễn ra từ 10 phút đến khoảng

Trang 28

vài giờ Sau khi cá cái đẻ xong cá đực sẽ đuổi cá cái đi và trông giữ trứng đến khi con non nở và tự tìm được thức ăn Số lượng trứng cá cái đẻ vào 1 ổ có thể lên tới trên 2000 quả [27]

Cá chọi là loài ăn tạp, chúng ăn cả động vật và thực vật Trong tự nhiên, Cá chọi ăn rong rêu, các loài động vật phù du, động vật thân mềm và

cả các loài giáp xác nhỏ Bọ gậy cũng là một trong những nguồn thức ăn ưa thích của Cá chọi

Cá chọi là một loài cá nội địa nên việc sử dụng chúng trong việc ngăn chặn bọ gậy ở các dụng cụ chứa nước tại các địa phương đã được sử dụng từ rất lâu đời.Sử dụng Cá chọi trong việc kiểm kiểm soát muỗi truyền bệnh có rất nhiều ưu điểm.Sự thích nghi với điều kiện sinh thái nội địa.Khả năng sống được ở nhiều loại nguồn nước là một ưu điểm đáng lưu ý đối với loài cá này.Tuy nhiên có nhược điểm của loài cá này đối với điều kiện khí hậu miền Bắc Cá chọi là loài cá chịu lạnh kém.Ở miền Bắc, cá được biết đến ở các ruộng lúa, ao hồ nước tĩnh.Đến mùa rét, cá ẩn trong các rễ cây thủy sinh và khe đất để tránh rét.Chính vì vậy việc thả cá trong các dụng cụ chứa nước nhỏ

sẽ làm giảm tuổi thọ của cá, mặc dù Cá chọi có tuổi thọ khá dài (có thể đến 5 năm)

Vào mùa rét, dịch bệnh do muỗi gây ra không xuất hiện nhiều Tuy nhiên, việc thay cá hàng năm cũng là một vấn đề mà người dân không tự chủ động kiểm tra dụng cụ chứa nước sinh hoạt của gia đình mình.Cá chọi là một lựa chọn tốt trong công tác kiểm soát véc-tơ

Cá cờ đỏ - Macropodus opercularis (Linnaeus, 1758)

Cá cờ đỏ (Macropodus opercularis) là một loài thuộc họ Cá tai tượng –

Osphronemidae (bộ Cá vược – Perciformes) tên khác: Cá cờ vằn, Cá thiên đường, săn sắt, sin sít, Cá cờ chấm, là một loại cá sống ở hầu hết các thủy vực nước ngọt sống ở ao, hồ và ruộng lúa ở Đông Nam Á [29]

Ngoài ra trên thế giới, cá phân bố ở Lào, Campuchia, Malaysia, Trung

Trang 29

Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc Cá cờ có kích thước trung bình khoảng 5,5 cm Nếu gặp điều kiện thuận lợi, Cá cờ đực có thể dài tới 7 cm [21]

Hình 1.7 Cá cờ Macropodus opercularis

Ở Việt Nam ghi nhận có 2 loài Cá cờ khác nhau đó là: Cá cờ vằn (săn

sắt, sin sít, thiên đường, ) Macropodus opercularis có nguồn gốc ở miền Bắc Việt Nam Cá cờ đen (cờ than) Macropodus spechti là loài đặc hữu ở khu vực

miền Trung Việt Nam [16]

Cũng giống như Cá chọi, Cá cờ vằn là loài động vật có đặc tính lãnh thổ cao và hiếu chiến.Chúng thường xuyên tấn công những cá thể khác cùng loài hoặc các loài cá khác.Chính vì vậy nếu mật độ cao sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng phát triển của quần thể Cá cờ ngoài tự nhiên cũng như trong điều kiện nuôi nhốt

Cá cờ vằn là loài cá nội địa và được biết đến từ rất lâu trong tri thức của người dân Việt Nam Trước những năm 2000, loài cá này có mật độ khá cao, được tìm thấy, đánh bắt khá dễ dàng và việc thích nghi cao với điều kiện sống nhân tạo trong các dụng cụ chứa nước nên đã được người dân sử dụng khá nhiều trong việc phòng chống muỗi Tuy nhiên chưa có nghiên cứu cụ thể về khả năng ăn bọ gậy của loài cá này để đánh giá hiệu quả trong việc kiểm soát véc tơ qua biện pháp sinh thái học

Trang 30

Chương II.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện từ tháng 4/2016 đến tháng 12/2018

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Phòng nhân nuôi bọ gậy khoa Ký sinh trùng – Côn trùng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội

Phòng thí nghiệm phòng Sinh thái Côn trùng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Phòng thí nghiệm khoa Côn trùng và Động vật y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương

2.2 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- 4 loài cá được người dân sử dụng trong diệt bọ gậy tại Hà Nội (Cá bảy màu, Cá đuôi kiếm, Cá chọi, Cá cờ đỏ);

- Bọ gậy F1 của muỗi Aedes aegyptiđược nhân nuôi trong phòng thí

nghiệm

2.2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Dụng cụ thu bắt bọ gậy nhân nuôi lấy F1

Trang 31

+ Phòng lưới cửa 2 lớp

+ Chậu thủy tinh đường kính 25 cm

+ Các khay men thả trứng, nuôi bọ gậy

+ Các lồng lưới kích thước 35x35x35 cm

+ Bút lông, giấy thấm, vải màn làm lồng, bông thấm nước,…

+ Thức ăn cho bọ gậy

+ Đường

+ Chuột

+ Dụng cụ và thức ăn nuôi chuột

 Dụng cụ thí nghiệm cá trong phòng thí nghiệm

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tỉ lệ nhiễm bọ gậy Ae aegypti trong các dụng cụ chứa

nước tại Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2018

- Nghiên cứu khả năng ăn bọ gậy Ae.aegypticủa 4 loài cá: Cá bảy màu,

Trang 32

Cá chọi, Cá đuôi kiếm và Cá cờ đỏ

Đánh giá theo loài cá thử nghiệm

 Đánh giá theo thể trọng cơ thể (trọng lượng, chiều dài) của loài cá

được thử nghiệm

Đánh giá theo giới tính của loài cá được thử nghiệm

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên nguyên lý nghiên cứu cơ bản bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.Điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát (nhiệt độ 25-270C, độ ẩm 60-65%).Đảm bảo môi trường sống thích nghi và ổn định cho mẫu vật được thử nghiệm (được sự tư vấn của TS.Bùi Ngọc Thanh – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I)

Nghiên cứu được thiết kế dựa trên mục tiêu của đề tài và kế thừa các phương pháp có trước của những nghiên cứu trên thế giới

1, Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Bốn loài cá được sử dụng trong thử nghiệm là các loài cá cảnh phổ biến

ở Hà Nội Mẫu cá tiến hành đem thử nghiệm được lấy tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I

Các loại cá được bắt ở độ tuổi đồng nhất là 2 tháng tuổi và đảm bảo là

cá sạch, khỏe mạnh và đã được xử lý bệnh dịch, không mang mầm bệnh.Đối với các loài cá thử nghiệm, khi đạt thời gian sinh trưởng từ 2 tháng trở nên sẽ

có khả năng thích nghi cao nhất với điều kiện môi trường nước thay đổi

Bọ gậy của các loài Aedes được thu tại Hà Nội và được nhân nuôi lấy muỗi Sau đó tiến hành định loại lấy muỗi Ae.aegypti để tiến hành nuôi thu trứng Bọ gậy được thử nghiệm là bọ gậy muỗi Ae.aegypti đời F1 ở các tuối

khác nhau

Số lượng bọ gậy được lựa chọn dùng cho mỗi thử nghiệm dựa kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước đó Các nghiên cứu về khả năng ăn bọ gậy của các loài cá khác tương đồng về kích cỡ trên thế giới

Trang 33

2, Phương pháp thu thập số liệu về đánh giá tỉ lệ nhiễm bọ gậy của các dụng cụ chứa nước từ năm 2016 đến năm 2018

Dựa vào kết quả điều tra bọ gậy nguồn tại Hà Nội do Trung tâm Y tế

dự phòng Hà Nội điều tra

Điều tra được tiến hành 2 lần/năm dựa vào 2 thời điểm: khoảng tháng 4

và tháng 10 hàng năm Đây là thời điểm đầu mùa dịch và đỉnh dịch hàng năm xuất hiện qua kết quả theo dõi nhiều năm tại Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội

3, Phương pháp thu thập số liệu về đánh giá khả năng ăn bọ gậy

Ae aegypti trong phòng thí nghiệm

Theo dõi, đếm số lượng bọ gậy trong thí nghiệm cá đã ăn và ghi chép lại số liệu theo phiếu theo dõi

Theo dõi tình trạng cá trong các điều kiện môi trường nước và thức ăn khác nhau trong mỗi thí nghiệm và ghi chép vào bảng theo dõi

Các chỉ số thu thập:

- Số lượng bọ gậy được các loài cá ăn theo thời gian qua các thử nghiệm khác nhau;

- Số lượng cá khỏe, chết, yếu qua các thí nghiệm;

- Số liệu về trọng lượng, chiều dài của các mẫu cá trong thử nghiệm theo thể trọng (trước khi thử và ngay sau khi kết thúc thử nghiệm)

4, Xử lý và phân tích số liệu

Nghiên cứu được sử dụng các phương pháp sinh thái học thực nghiệm

và được tiến hành trong môi trường phòng thí nghiệm với điều kiện về nhiệt

độ và độ ẩm được kiểm soát (nhiệt độ 25-270C, độ ẩm 60-65%)

Tiến hành làm 3 thử nghiệm khác nhau: Thử nghiệm khả năng ăn bọ gậy theo loài; thử nghiệm khả năng ăn bọ gậy theo thể trọng của cá (trọng lượng và chiều dài); đánh giá trung bình số lượng bọ gậy ăn được của các loài

cá qua các ngày thí nghiệm Bọ gậy được sử dụng là bọ gậy Ae aegypti khỏe

Trang 34

mạnh được nuôi trong phòng thí nghiệm Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội

Cá trước khi đem thử nghiệm được cho ăn no và để nhịn trong vòng 2 ngày (kể từ khi ăn no) để đảm bảo cá có khả năng ăn tốt nhất khi thử nghiệm

Mỗi thí nghiệm của các thử nghiệm được tiến hành với 15 mẫu cá trong vòng 7 ngày.Mỗi thử nghiệm được lặp lại 3 lần Số liệu được thu thập dựa vào kết quả theo dõi về khả năng ăn bọ gậy của các loài cá được thử nghiệm theo các nội dung thử nghiệm khác nhau

Các chỉ số được thống kê được xử lý và phân tích số liệu bằng ứng dụng Data Analysis của phần mềm Microsoft Excel 2013

Chọn cỡ mẫu nghiên cứu dựa vào phương pháp nghiên cứu xác định một tỉ lệ trong quần thể với độ chính xác tương đối, theo công thức:

Trong đó, chọn độ chính xác tương đối với xác suất 50%, độ tin cậy nên có thể tính cỡ mẫu 95%

Ta có: P = 0,5; ; φ = 50% x P = 0,25

Các chỉ số thu thập được qua thực nghiệm với các loài cá được tính theo trung bình mẫu và sai số tiêu chuẩn mẫu để đánh giá khả năng ăn bọ gậy của một số loài cá thường được sử dụng để diệt bọ gậy trong cộng đồng tại Hà Nội Các chỉ số cần phân tích thống kê:

- Trung bình số bọ gậy được tiêu thụ/ngày của mỗi loài cá;

- Trung bình số bọ gậy được tiêu thụ qua các ngày của mỗi loài cá (đánh giá biến động về số lượng ăn hàng ngày trong thời gian tiến hành thử nghiệm )

- Trung b nh số bọ gậy được tiêu thụ/thí nghiệm của mỗi loài cá (để so sánh chênh lệch giữa các thí nghiệm khác nhau của cùng 1 loài);

- Trung bình trọng lượng, chiều dài của cá được thử nghiệm (so sánh trước khi tiến hành và kết thúc thử nghiệm);

Trang 35

- Trung bình số bọ gậy được tiêu thụ theo 1 gr thể trọng, 1 mm chiều dài cơ thể

Các số liệu sau khi phân tích trung bình mẫu có được:

Standard Deviation Sai số tiêu chuẩn của mẫu (S)

Confidence Level (95,0%) Sai số cực đại của ước lượng

5, Chuẩn bị cho thử nghiệm

- Chuẩn bị nguồn nước thử nghiệm: Nguồn nước được sử dụng thử nghiệm được các chuyên gia tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I tư

Trang 36

vấn và xử lý giống với nước tại môi trường nuôi cá giống tại cơ sở nhằm tạo điều kiện thích hợp và ổn định nhất tại thời điểm tiến hành thử nghiệm

- Chuẩn bị các bể để thả cá: Các bể được rửa sạch, xử lý nấm mốc và phơi khô trước khi đổ nước thử nghiệm Các bể có thể tích tối đa là 50 lít nước , tùy thuộc vào kích thước và số lượng loài cá mà lượng nước được cho vào là khác nhau (với các thí nghiệm với loài cá có kích thước và số lượng tương đồng thì mực nước được cho là tương đồng ở các bể) Các bể có lắp bằng lưới để tránh cá nhảy ra ngoài, tránh các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình thử cá như (thiên địch của cá, bọ gậy,…)

- Chuẩn bị bọ gậy: Bọ gậy Ae aegypti thu ngoài thực địa về được nhân

nuôi lấy trứng và khi có kế hoạch cụ thể cho trứng nở lấy bọ gậy F1 tuổi 3 để thử nghiệm Bọ gậy lấy làm mồi cho thử nghiệm là bọ gậy khỏe

- Chuẩn bị cá: Cá được thử nghiệm là cá khỏe mạnh có đồng đều độ tuổi khoảng 2 tháng tuổi Kích thước của mỗi loài cá thử nghiệm khác nhau nhưng có kích cỡ tương đương nhau theo loài Cá thử nghiệm được ghi lại khối lượng của từng mẫu để tính khả năng diệt bọ gậy theo trọng lượng cơ thể Cá được thử nghiệm cho ăn no và để nhịn (kể từ khi ăn no) 2 ngày rồi tiến hành đem vào thử nghiệm Lựa chọn cá 2 tháng tuổi do các loài cá có thời gian sinh trưởng và phát triển không đồng đều giữa Cá bảy màu với 3 loài cá còn lại Cá sau khi nuôi được 2 tháng có đầy đủ yêu cầu về tình trạng kích thước và là giai đoạn thích nghi cao của cá nên thường được các chuyên gia

tư vấn cho các chiến dịch Vệ sinh môi trường – Diệt bọ gậy mua để sử dụng kiểm soát tại địa bàn Hà Nội

- Điều kiện phòng thí nghiệm: Điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát tương đương với điều kiện ngoài tự nhiên.Đảm bảo môi trường sống phù hợp và kết quả thử nghiệm trong nghiên cứu lần này có thể áp dụng được với điều kiện thực địa

6, Thu thập tài liệu, phân tích các chỉ số

Thu thập các tài liệu liên quan đến đối tượng là cá ăn bọ gậy, kiểm soát

bọ gậy bằng thiên địch trong và ngoài nước thông qua nhiều hình thức sách,

Trang 37

chiến dịch Vệ sinh môi trường – Diệt bọ gậy tại Hà Nội Ngoài ra, làm cơ sở

để tiếp tục nghiên cứu đề tài theo hướng triển khai ngoài thực địa tại Hà Nội

7, Nuôi bọ gậy

Phương pháp nhân nuôi lấy bọ gậy được tiến hành theo hướng dẫn chuyên môn của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương và đã được tiến hành nhân nuôi qua nhiều năm tại phòng thí nghiệm khoa KST–CT (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội)

Bọ gậy sử dụng trong các thí nghiệm được đảm bảo khỏe, bọ gậy của tất cả các tuổi khác nhau Bọ gậy được sử dụng chủ yếu giai đoạn tuổi 2,3

Do quá trình nhân nuôi, trứng bọ gậy nở không đều hoàn toàn nên việc

sử dụng bọ gậy được tính toán kỹ lưỡng để đảm bảo bọ gậy đem thử nghiệm sau 24 giờ không có nhiều biến đổi Nếu chọn 1 khay bọ gậy tuổi 2,3 chiếm

đa số thì số còn lại là tuổi 1,4 (có thể không có tuổi 4) Nếu số lượng bọ gậy tuổi 4 nhiều thì sau 24 giờ khả năng hóa quăng và nở thành muỗi có thể xảy ra rất cao, ảnh hưởng đến việc thống kê số lượng tối đa các loài cá có thể tiêu thụ được

2.3.3 Phương pháp thực nghiệm

1,Phương pháp xác định khả năng ăn bọ gậy A aegypti theo loài

của 4 loài cá thí nghiệm

- Thử nghiệm được lặp lại 3 lần với mỗi loài cá đem thử nghiệm (3 thí nghiệm cho 1 loài) Mỗi thí nghiệm được tiến hành với 5 mẫu cá (trong cùng 1 bể) chọn ngẫu nhiên để xác định khả năng ăn theo loài của các loài cá khác nhau

- Theo dõi thí nghiệm trong vòng 7 ngày và ghi chép lại đầy đủ số liệu theo bảng theo dõi thí nghiệm

Trang 38

- Số lượng bọ gậy được thả vào làm mồi trong ngày thử nghiệm đầu tiên, cho mỗi bể 500 bọ gậy (100 bọ gậy/mẫu cá được thử), quan sát sau 30 phút nếu như bọ gậy hết 100% thì tiếp tục cho thêm 500 bọ gậy và tiếp tục cho như vậy đến đến hết 24 giờ đầu tiên (thời gian theo dõi ngày đầu tiên tính

từ thời điểm bắt đầu thí nghiệm theo các khoảng sau: 30 phút, 1 giờ, 2 giờ, 4 giờ, 8 giờ, 12 giờ, 24 giờ) Từ ngày thứ 2, số lượng bọ gậy được cho lần 1 bằng 70% tổng số bọ gậy ăn ngày đầu tiên (ít nhất 200 BG) Sau 12 giờ kiểm tra và tiếp tục cho số bọ gậy bằng với số bọ gậy cho lần 1 của thử nghiệm này Những ngày tiếp theo tiếp tục cho số lượng bọ gậy giống với ngày thứ 2

2, Phương pháp đánh giá khả năng ăn bọ gậy Aedes aegypti theo

kích thước và trọng lượng cơ thể cá thí nghiệm

- Cá được cân và đo thể trọng trước khi tiến hành thử nghiệm và sau khi kết thúc thử nghiệm để tính lượng bọ gậy tiêu thụ/1 gram trọng lượng và

số lượng bọ gậy tiêu thụ/1 cm chiều dài cơ thể

- Thử nghiệm được lặp lại 5 lần với mỗi loài cá được thử nghiệm (5 thí nghiệm cho 1 loài) Mỗi thí nghiệm được tiến hành với 1 mẫu cá chọn ngẫu nhiên

- Theo dõi thí nghiệm trong vòng 7 ngày và ghi chép lại đầy đủ số liệu theo bảng theo dõi thí nghiệm

- Số lượng bọ gậy được thả vào làm mồi tùy từng loài: Dựa vào kết quả thử nghiệm khả năng ăn của các loài (nội dung trên) để cho số lượng bọ gậy phù hợp bằng cách tính trung bình số bọ gậy đã ăn/ngày/cá và căn cứ vào đó

để xác định số bọ gậy thả/ngày

Số BG được thả/ngày = Trung bình số BG đã ăn/ngày/cá x 120%

- Kết quả thử nghiệm cá ăn bọ gậy được theo dõi theo thể trọng của cơ thể được thống kê hàng ngày (24 giờ theo dõi, đếm số bọ gậy đã ăn, ghi chép lại số liệu và thêm bọ gậy theo đúng yêu cầu của phương pháp đề ra)

Ngày đăng: 06/02/2020, 09:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. AP Dash, Rajest Bhatia, NL Kalra (2012), "Dengue in South-East Asia: an appraisal of case management and vector control", Dengue Bulletin (WHO). Volume 36(0250-8362).46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dengue in South-East Asia: an appraisal of case management and vector control
Tác giả: AP Dash, Rajest Bhatia, NL Kalra
Năm: 2012
5. Banu S, Hu W, Hurst C, Tong S (2011), "Dengue transmission in the Asia-Pacific region: impact of climate change and socio-environmental factors", Trop Med Int Health. 2011 May;16(5):598-607. doi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dengue transmission in the Asia-Pacific region: impact of climate change and socio-environmental factors
Tác giả: Banu S, Hu W, Hurst C, Tong S
Năm: 2011
8. Charuai Suwanbamrung, Suwich Thammapalo Anan Dumpan, Ratana Sumrongtong &amp; Pitaya Phedkeang et all, (2011 ), "A model of community capacity building for sustainable dengue problem solution in Southern Thailand",Health. Vol.3(9), p. 584-601.55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A model of community capacity building for sustainable dengue problem solution in Southern Thailand
11. Eduardo Fernández, Mercedes Martinez (2004), "Social Mobilization for Dengue Control in Honduras",Dengue Bulletin (WHO).Vol 28(Supplement), p. 30-34.50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Mobilization for Dengue Control in Honduras
Tác giả: Eduardo Fernández, Mercedes Martinez
Năm: 2004
12. Eilenberg J, Hajek A, Lomer C (2001). Suggestions for unifying the terminology in biological control. BioControl 46:387–400.06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suggestions for unifying the terminology in biological control
Tác giả: Eilenberg J, Hajek A, Lomer C
Năm: 2001
13. Eli Agbayani, 2007. “Common Names of Poecilia reticulata”. Website: http://www.fishbase.se/.07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Common Names of Poecilia reticulata
14. Eli Agbayani, 2007.“Countries where Poecilia reticulata is found”. Website: http://www.fishbase.se/.08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Countries where Poecilia reticulata is found”
15. Encyclopaedia Britannica, 2007. Encyclopaedia Britannica. Website: https://www.britannica.com/.09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Encyclopaedia Britannica
16. Endruweit, M. , 2014 - Taxonomical notes on selected freshwater fish species described from northern and central Vietnam (Cypriniformes:Balitoridae, Cobitidae, Cyprinidae, Nemacheilidae; Perciformes:Channidae, Osphronemidae; Synbranchiformes: Mastacembelidae).Zoological Research 35(2): 142-159.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taxonomical notes on selected freshwater fish species described from northern and central Vietnam (Cypriniformes: "Balitoridae, Cobitidae, Cyprinidae, Nemacheilidae; Perciformes: "Channidae, Osphronemidae; Synbranchiformes: Mastacembelidae)
20. Froese, Rainer and Pauly, Daniel, 2014. “Betta splendens”. FishBase.14 21. Froese, Rainer and Pauly, Daniel, 2014. "Macropodus opercularis". Databy FishBase.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Betta splendens”. FishBase.14 21. Froese, Rainer and Pauly, Daniel, 2014. "Macropodus opercularis
22. Gilotra, S.K., Rozeboom và Bhattacharya L.E. N.C., (1967), "Observation on possible competitive displacement between populations of Aedes aegypti and Aedes albopictus Skuse in Caculta". Bulletin of the World Health Organization. Voi 37, p. 437-446.62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Observation on possible competitive displacement between populations of Aedes aegypti and Aedes albopictus Skuse in Caculta
Tác giả: Gilotra, S.K., Rozeboom và Bhattacharya L.E. N.C
Năm: 1967
23. Ghadially, F. N.; Myron Gordon,1956. “A Localized Melanoma in a Hybrid Fish Lebistes x Mollienesia”. Cancer Research: 597–599.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Localized Melanoma in a Hybrid Fish Lebistes x Mollienesia
24. Lamborn RH (1890). Dragon flies vs. mosquitoes. Can the mosquito pest be mitigated? Studies in the life history of irritating insects, their natural enemies, and artificial checks by working entomologists. D Appleton Co, New York, p 202.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dragon flies vs. mosquitoes. Can the mosquito pest be mitigated? Studies in the life history of irritating insects, their natural enemies, and artificial checks by working entomologists
26. Mark Lund, 2005. Mosquitofish: Friend or Foe?.Cowan University.27 27. Rainboth, W.J., 1996. Fishes of the Cambodian Mekong. FAO speciesidentification field guide for fishery purposes. FAO, Rome, 265p.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mosquitofish: Friend or Foe?."Cowan University.27 27. Rainboth, W.J., 1996. "Fishes of the Cambodian Mekong
28. Ranier Froese, Daniel Pauly, 2007. "Poecilia reticulata". Website: http://www.fishbase.se/.31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poecilia reticulata
29. Schreitmüller, W., 1936. Ein neuer Makropode. Macropodus opercularis L. var. spechti Schreitm (Netz- oder Gitterparadiesfisch). Das Aquarium:die Fachzeitschrift des Naturfreundes, Berlin v. 10: 181-182.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ein neuer Makropode. Macropodus opercularis L. var. spechti Schreitm (Netz- oder Gitterparadiesfisch)
30. Steindachner, 1864. "Fact Sheet for Oreochromis aureus". Gulf States Marine Fisheries Commission.34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fact Sheet for Oreochromis aureus
32. World Health Organization (2014), "A global brief on vector-borne diseases", World Health Organization, 20 Avenue Appia, 1211 Geneva 27, Switzerland. Printed by WHO, Document number:WHO/DCO/WHD/2014.51=54 Tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: A global brief on vector-borne diseases
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2014
33. Bộ Y tế (2011), "Quyết định ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị Sốt xuất huyết Dengue", số 458/QĐ-BYT ngày 16/02/2011.66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị Sốt xuất huyết Dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
35. Đặng Thị Kim Hạnh, 2007." Thực trạng và một số yếu tổ liên quan đếnquần thể muỗi truyền bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue tại 2 phường Thịnh Liệt và Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, năm 2007",Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Y tế Công Cộng, Hà Nội.71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tổ liên quan đếnquần thể muỗi truyền bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue tại 2 phường Thịnh Liệt và Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, năm 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w