HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- Ngô Quang Đức NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIỐNG CHÓ BẢN ĐỊA DẠNG SÓI CANIS FAMILIARIS FABRICIUS TRONG CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CHÓ TÌM KIẾM,
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
Ngô Quang Đức
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIỐNG
CHÓ BẢN ĐỊA DẠNG SÓI (CANIS FAMILIARIS FABRICIUS)
TRONG CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CHÓ TÌM KIẾM, PHÁT
HIỆN BOM MÌN TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ: ĐỘNG VẬT HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ -
Ngô Quang Đức
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIỐNG
CHÓ BẢN ĐỊA DẠNG SÓI (CANIS FAMILIARIS FABRICIUS)
TRONG CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CHÓ TÌM KIẾM, PHÁT
HIỆN BOM MÌN TẠI VIỆT NAM
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ này là do tự bản thân tôi thu thập được, các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Ngô Quang Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã được sự quan tâm, giúp đỡ của người thân, thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và các cơ quan, đơn vị Tôi vô cùng biết ơn tất cả những sự giúp đỡ nhiệt tình đó!
Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Xuân Phương, Phó Viện trưởng Viện Sinh thái Nhiệt đới/Trung tâm Nhiệt đới Việt- Nga, TS Ngô Xuân Tường Trưởng phòng Động vật học có xương sống, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật/Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam người thầy đã tận tâm hướng dẫn, động viên, hỗ trợ truyền thụ và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn trong suốt quá trình học tập và thực hiện nội dung nghiên cứu của Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo Khoa Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Học viện Khoa học và Công nghệ đã đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn Ban lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, các đồng chí, đồng nghiệp làm việc tại Viện Sinh thái Nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga/Bộ Quốc phòng, Trường Trung cấp 24 Biên phòng/Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin được bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng năm 2019
Học viên
Ngô Quang Đức
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CV : Hệ số biến động Max : Giá trị lớn nhất
Mean : Trung bình mẫu Min : Giá trị nhỏ nhất
P : Sắc xuất của FA
SE : Sai số trung bình mẫu
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá khả năng tìm kiếm, phát hiện bom mìn của chó.31
Bảng 3.1 Các dạng màu lông của giống chó bản địa dạng sói 32
Bảng 3.2 Các dạng kiểu tai của giống chó bản địa dạng sói……… 34
Bảng 3.3 Một số chỉ số hình thái của giống chó bản địa dạng sói… 35
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu sinh sản của giống chó bản địa dạng sói 36
Bảng 3.5 Khả năng thị giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn chó choai 39
Bảng 3.6 Khả năng thị giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn trưởng thành 40
Bảng 3.7 Khả năng thị giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn chó trưởng thành theo tính biệt 41
Bảng 3.8 Khả năng thính giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn chó choai 42
Bảng 3.9 Khả năng thính giác giống chó bản địa dạng sói ở giai đoạn trưởng thành 43
Bảng 3.10 Khả năng thính giác của giống chó bản địa dạng sói ở giai đoạn trưởng thành theo tính biệt 44
Bảng 3.11 Khả năng khứu giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn chó choai ở thời điểm 3 tháng tuổi 46
Bảng 3.12 Khả năng khứu giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn chó trưởng thành ở thời điểm 9 tháng tuổi 47
Bảng 3.13 Khả năng khứu giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn chó trưởng thành tại thời điểm 9 tháng tuổi theo tính biệt 48
Trang 7Bảng 3.14 Tính trạng trội hành vi của giống chó bản địa dạng sói 50 Bảng 3.15 Tỷ lệ các dạng thần kinh của giống chó bản địa dạng sói 51 Bảng 3.16 Kết quả huấn luyện giống chó bản địa dạng sói tìm kiếm, phát hiện bom mìn 52
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Minh họa một số phép đo được thực hiện trên chó… 20
Hình 3.1 Giống chó bản địa dạng sói màu xám 33
Hình 3.2 Các dạng kiểu tai của giống chó bản địa dạng sói 33
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỤC LỤC vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 ĐẶC ĐIỂM LOÀI CHÓ NHÀ 4
1.1.1 Vị trí phân loại của chó nhà 4
1.1.2 Đặc điểm hình thái chung của chó nhà 4
1.1.3 Đặc điểm của các cơ quan giác quan 7
1.1.4 Cơ chế tập tính của động vật 9
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CHÓ BẢN ĐỊA VIỆT NAM 12
1.2.1 Đặc điểm các giống chó bản địa Việt Nam 12
1.2.2 Tình hình nuôi dạy chó nghiệp vụ ở Việt Nam 15
1.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CHÓ TÌM KIẾM, PHÁT HIỆN BOM MÌN 16
1.3.1 Tình hình sử dụng chó tìm kiếm, phát hiện bom mìn trên thế giới 16
1.3.2 Tình hình sử dụng chó trong tìm kiếm bom mìn tại Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 19
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh sản của giống chó bản địa dạng sói 19
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phát triển các cơ quan giác quan của giống chó bản địa dạng sói 21
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm các tính trạng trội hành vi và thần kinh của giống chó bản địa dạng sói 25
Trang 102.3.4 Nghiên cứu khả năng tìm kiếm, phát hiện bom mìn của giống chó bản
địa dạng sói 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH SẢN CỦA GIỐNG CHÓ BẢN ĐỊA DẠNG SÓI 32
3.1.1 Các dạng màu lông của giống chó bản địa dạng sói 32
3.1.2 Các dạng kiểu tai của giống chó bản địa dạng sói 33
3.1.3 Chỉ số hình thái của giống chó bản địa dạng sói 34
3.1.4 Đặc điểm sinh sản của giống chó bản địa dạng sói trong điều kiện nuôi nhốt 36
3.2 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CÁC CƠ QUAN GIÁC QUAN CỦA GIỐNG CHÓ BẢN ĐỊA DẠNG SÓI 38
3.2.1 Đặc điểm thị giác giống chó bản địa dạng sói 38
3.2.2 Đặc điểm thính giác của giống chó bản địa dạng sói 41
3.2.3 Đặc điểm khứu giác của giống chó bản địa dạng sói giai đoạn chó choai và chó trưởng thành 45
3.3 ĐẶC ĐIỂM TÍNH TRẠNG TRỘI HÀNH VI VÀ THẦN KINH CỦA GIỐNG CHÓ BẢN ĐỊA DẠNG SÓI 49
3.3.1 Đặc điểm tính trạng trội hành vi của giống chó bản địa dạng sói 49
3.3.2 Các dạng thần kinh của giống chó bản địa dạng sói 50
3.4 KHẢ NĂNG TÌM KIẾM, PHÁT HIỆN BOM MÌN CỦA GIỐNG CHÓ BẢN ĐỊA DẠNG SÓI 51
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
4.1 KẾT LUẬN 53
4.2 KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 1 58
PHỤ LỤC 2 64
PHỤ LỤC 3 67
PHỤ LỤC 4 70
PHỤ LỤC 5 74
PHỤ LỤC 6 77
Trang 11MỞ ĐẦU
Trải qua nhiều năm chiến tranh, đất đai và con người Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi số lượng bom mìn, đạn dược Theo số liệu tổng kết, riêng số bom, đạn quân đội Mỹ đã sử dụng ở Việt Nam khoảng 15.350.000 tấn Hiện nay, tỷ lệ bom đạn chưa nổ chiếm khoảng 5% số lượng bom đạn đã
sử dụng [1] Tổng diện tích đất bị ô nhiễm bom mìn lên tới 6,6 triệu ha, chiếm khoảng 20% diện tích cả nước Điều này không chỉ gây nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống của người dân, mà còn cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội Bom mìn sót lại sau chiến tranh còn gây ra nhiều thương vong và tổn thất cho người dân và gánh nặng cho xã hội Theo thống kê chưa đầy đủ: Cả nước
đã có 42.132 người bị chết và 62.163 người bị thương, do bom mìn sót lại sau chiến tranh gây ra Trung bình mỗi năm bom mìn sót lại sau chiến tranh đã cướp đi tính mạng của 1.535 người và 2.272 người khác phải mang thương tật suốt đời [2]
Trước yêu cầu cấp thiết của thực tế, việc triển khai thực hiện công tác
rà phá bom mìn sau chiến tranh tại Việt Nam đòi hỏi phải được đầu tư nghiên cứu về phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả và an toàn, đẩy nhanh tiến độ khắc phục bom mìn sau chiến tranh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trên thế giới, việc sử dụng chó nghiệp vụ trong tìm kiếm phát hiện bom mìn đã được thực hiện từ lâu và cho thấy những ưu điểm của phương pháp này Chó tìm kiếm phát hiện bom mìn nhanh hơn, diện tích tìm kiếm lớn hơn, và đặc biệt là tránh thương vong rất lớn cho người trong công tác rà phá bom mìn
Ở Việt Nam hiện nay, việc sử dụng chó vào công tác nghiệp vụ tìm kiếm và phát hiện chất nổ nói chung và tìm kiếm và phát hiện bom mìn nói riêng còn chưa được chú trọng Ngay tại các Trung tâm huấn luyện nghiệp vụ
lớn của cả nước là Cục Cảnh sát quản lý, huấn luyện và sử dụng động vật
nghiệp vụ (K204)/Bộ Công An và Trường Trung cấp 24 Biên Phòng/Bộ Tư lệnh Biên phòng mới chỉ dừng ở việc đào tạo cơ bản chó trong tìm kiếm các
Trang 12chất nổ thông thường Số lượng cũng như chủng loại chó sử dụng trong nghiệp vụ này còn thiếu và ít so với yêu cầu của nhiệm vụ Các giống chó thường được sử dụng chủ yếu vẫn là những giống nhập nội như Cooker, Labrado, Becgie và gần đây là giống Malinois Việc lựa chọn giống chó bản địa phục vụ công tác tìm kiếm bom mìn sau chiến tranh là một nhu cần cấp thiết hiện nay ở Việt Nam
Để làm cơ sở cho việc lựa chọn, nhân giống, huấn luyện giống chó bản địa dạng sói tìm kiếm, phát hiện bom mìn còn lại sau chiến tranh tại Việt Nam, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh
học của giống chó bản địa dạng sói (Canis familiaris Fabricius) trong công
tác huấn luyện chó tìm kiếm, phát hiện bom mìn tại Việt Nam”
Ghi chú: Giống ở đây là đối tượng vật nuôi gọi theo ngôn ngữ chăn nuôi
Mục đích của đề tài
- Xác định được các đặc điểm về hình thái, sinh sản của giống chó bản địa dạng sói;
- Xác định được đặc điểm phát triển của các cơ quan giác quan phục vụ
cho việc chọn chó bản địa dạng sói phục vụ huấn luyện tìm kiếm, phát hiện bom mìn;
- Đánh giá được đặc điểm các tính trạng trội hành vi và thần kinh của giống chó bản địa dạng sói phục vụ cho việc chọn chó bản địa dạng sói phục
vụ huấn luyện tìm kiếm, phát hiện bom mìn;
- Bước đầu đánh giá được khả năng tìm kiếm, phát hiện bom mìn của giống chó bản địa dạng sói
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài làm cơ sở khoa học cho những
nghiên cứu tiếp theo, đồng thời đưa ra cái nhìn khái quát về giống chó bản địa dạng sói, giúp hiểu được một số đặc điểm về hình thái, sinh học, đặc điểm về tập tính của chúng, từ đó thấy được khả năng huấn luyện nghiệp vụ của giống chó này và có những nghiên cứu hữu ích khác phục vụ cho nhu cầu của con
người và xã hội
Trang 13Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài sẽ làm cơ sở, phương pháp luận
cho công tác huấn luyện chó nghiệp vụ nói chung, huấn luyện chó bản địa nói riêng Góp phần xây dựng và hoàn thiện các quy trình chọn, nhân giống và
huấn luyện chó nghiệp vụ
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐẶC ĐIỂM LOÀI CHÓ NHÀ
1.1.1 Vị trí phân loại của chó nhà
Chó nhà thuộc lớp thú (Mammalia), thuộc bộ Ăn thịt (Carnivora)
Những đại diện của bộ này sống ở khắp các lục địa, ngoại trừ Nam cực Những loài bản địa không có ở Úc và trên những đảo của đại dương Chó nhà phổ biến trên khắp thế giới Nguồn gốc của các loài ăn thịt ghi nhận được từ các loài ăn côn trùng nguyên thủy ở kỷ nguyên phấn trắng Hiện nay, bộ ăn thịt có khoảng 13 họ và 270 loài còn tồn tại [3,4]
Tuy nhiên, chó nhà thường không được động vật học coi là đối tượng nghiên cứu chính như một đơn vị loài mà chúng thường là đối tượng nghiên cứu trong các lĩnh vực dịch tễ, bệnh tật hay ở một khía cạnh về mặt xã hội [5,6]
Họ chó phổ biến rất rộng ở khắp nơi: Cả khu vực Âu - Á, Châu Phi, Châu Mỹ, Trung Mỹ về phía nam đến tận Costa Rica Chúng sống ở tất cả các sinh cảnh khác nhau, từ đầm lầy tới xa mạc và núi cao Theo tính chất dinh dưỡng là động vật ăn thịt song nguồn thức ăn của họ chó rất đa dạng và phong phú bao gồm cả thực vật và động vật
1.1.2 Đặc điểm hình thái chung của chó nhà
Khái niệm ngoại hình của chó là toàn bộ cơ thể thống nhất của nó, song
để cho dễ quan sát người ta thường quan sát ngoại hình thông qua bốn phần chính: Ngoại hình của đầu, cổ, thân và các chi Trong mỗi phần người ta lại chia thành những mục khác nhau
Ngoại hình đầu: Xương sọ và xương hàm là phần chính của đầu Đầu được phân chia thành những phần sau đây: gáy cùng với bờm gáy, đỉnh đầu, tai, trán; ở phần mõm có: mắt, sống mũi, đỉnh mũi, má, hàm trên và hàm dưới, môi mồm và răng
Về hình dáng đầu thường có hình tròn, hình nhọn (chóp), hình vuông
và hình chữ nhật Mõm có thể là mõm ngắn, mõm bình thường và mõm dài,
Trang 15chiều dài của mõm được thể hiện bằng tỷ lệ chiều dài mõm so với chiều dài của trán Mõm còn có kiểu hình khác nhau như: thẳng, hóp, hếch
Tai, hình dáng và chiều dài của tai rất khác nhau và phụ thuộc vào sự phát triển của sụn vành tai Phân loại tai thành tai đứng, tai chúc, tai cụp và còn tai xẻ (nhân tạo)
Mắt biểu thị đặc tính theo màu sắc, hình dáng, khe mắt, chiều sâu và chiều rộng của hố mắt, độ mỏng và độ khô của mí mắt
Mõm và răng, hình dạng của mõm phụ thuộc vào sự phát triển của hàm
và môi Mõm của loại chó to có 42 răng ổn định Trong số đó có 12 răng cửa,
4 răng nanh và 26 răng hàm Ở hàm dưới số răng hàm nhiều hơn ở hàm trên là
2 chiếc Được thể hiện cụ thể ở công thức tính số răng của chó: M= C1/1-Rm4/4-M2/3) x 2 = 42
(R3/3-Môi, môi khô phác họa rõ mồm và môi ướt và xốp thường có nếp nhăn
ở hai bên mép (gọi là môi dày)
Ngoại hình của cổ: người ta chia phần cổ gồm 7 đốt sống Chiều dài của cổ phụ thuộc vào chiều dài thân các đốt sống Để xác định chiều dài của
cổ người ta so sánh cổ với chiều dài của đầu Cổ gồm có những phần sau đây: họng cổ, mang cổ và sống cổ Độ uốn nếp và trễ của da ở khu vực cổ gọi là
“yếm cổ” Chó có cổ ngắn, to có nhiều nếp nhăn ở bờm, biểu thị sự “sung sức” của nó
Góc cổ so với mình gọi là khuỷu cổ Khuỷu cổ có góc đẹp nhất là 45
độ, nếu góc lớn hơn hoặc nhỏ hơn sẽ tạo thành khuỷu cổ cao hơn hoặc thấp hơn
Ngoại hình của mình: Mình chó được chia thành những phần sau đây: bướu vai, lưng, eo lưng, mông, đuôi, ngực và lồng ngực, bụng bẹn Ở chó đực
là phần thịt thừa ở chó cái là phần vú
Bướu vai: là phần mình được giới hạn ở phía trước là cổ, ở phía sau là lưng, ở hai bên là hai bả vai Cơ sở của bướu vai là 4 – 5 mấu có ngạnh của đốt sống ngực
Trang 16Lưng: là phần mình giữa bướu vai và thắt lưng, bên phải và bên trái được giới hạn bằng rẻo sườn của lồng ngực, nó bao gồm khoảng 8 – 9 đốt sống lưng và những đoạn trên của xương sườn lưng được đánh giá theo chiều rộng, chiều dài và hình dáng
Eo lưng: là phần mình bị giới hạn bởi lưng ở phía trước, bởi mông ở phía sau và ở hai bên vùng bẹn Phần eo lưng gồm bảy đốt sống của eo lưng
Đuôi: đuôi gồm 20 – 22 đốt sống đuôi xét theo chiều dài, thì đuôi có loại dài, loại ngắn loại ngắn nhân tạo Xét về mặt hình dáng, người ta phân loại thành: đuôi thẳng, đuôi hình lưỡi câu, hình vành khuyên, hình thanh kiếm, hình lưỡi liềm và hình xoắn ốc
Ngực và lồng ngực được đánh giá theo chiều rộng, chiều dài, chiều sâu, thể tích và hình dáng Lồng ngực thường có dáng phẳng, ô van cụt, hình thùng (ống) Đối với tất cả các giống chó cần phải có lồng ngực rộng, tương đối sâu
và dài
Chiều rộng ngực được đo ở phía trước, giữa các khớp vai, chiều sâu được đo theo đường thẳng đứng (đường dây dọi) ngay phía sau hai chân trước, tính từ bướu vai xuống đến xương ngực, đo vòng ngực bằng thước dây ngay sau chân trước (nách)
Bụng: là phần có thành bụng mềm, đoạn từ xương sườn cụt đến xương chậu Về hình dáng, bụng có dạng thon đều, béo mỡ và xệ Đối với tất cả các giống chó cần có dáng bụng thon đều mới tốt
Trang 17Ngoại hình của chi: Chi được đánh giá theo hình dáng, độ nở nang, cơ bắp và độ mở của các góc khớp
Chi ngực (chi trước), gồm xương bả vai, vai, khuỷu, cẳng chân, cổ chân, khớp đốt bàn chân và bàn chân
Tư thế đứng của chó được coi là đúng, trong trường hợp nếu các chi được đặt thẳng lên mặt đất, song song với nhau và mở ra bằng chiều rộng của ngực Bàn chân có hình vòm các ngón chân kín sát nhau và áp sát mặt đất Các góc khớp mở như sau: khớp vai 90 – 100 độ, khớp khuỷu 120 – 130 độ
Chi sau gồm đùi, gối, cẳng chân, khớp gối, xương bàn chân và bàn chân Khi nhìn từ phía sau các chi sau phải song song với nhau, có các góc của đốt khớp như sau: góc đùi khoảng 80 – 85 độ, góc mỏ khớp gối 125 – 135 độ
1.1.3 Đặc điểm của các cơ quan giác quan
Các cơ quan cảm giác cấu tạo một cách đặc biệt để tiếp nhận kích thích đưa đến từ môi trường bên ngoài và từ chính cơ thể Các cơ quan này làm cho động vật có khả năng tiếp xúc được với môi trường xung quanh và thích ứng được đối với môi trường Các cơ quan cảm giác cấu tạo bởi các cơ quan thụ cảm, các đường dẫn ở vùng ngoại biên và các trung tâm ở vỏ bộ não Trong
cơ thể chia thành các cơ quan phân tích như sau: Thị giác, khứu giác, thính giác, vị giác và xúc giác
* Cơ quan thị giác
Các các quan phân tích thị giác cho khả năng thu nhận thế giới bên ngoài một cách rõ ràng Cơ quan phân tích thị giác được cấu tạo từ nhãn cầu, các cơ quan phù trợ và bảo vệ, các đường thần kinh dẫn tuyến và trung tâm thần kinh tại vỏ não
Nhãn cầu được cấu tạo từ 3 lớp (màng trắng, màng mạch và võng mạc),
từ môi trường khúc xạ ánh sáng (nhãn mắt), thuỷ tinh thể, dịch nhãn cầu, các mạch máu và dây thần kinh
Màng mắt trong của mắt hay võng mạc có cấu trúc rất phức tạp và là bộ phận chủ yếu của mắt Ở võng mạc diễn ra sự biến đổi kích thích ánh sáng
Trang 18sang quá trình kích thích thần kinh Võng mạc được cấu tạo bởi các tế bào cảm thụ ánh sáng (tế bào hình nón và tế bào hình que), đó là các cơ quan thụ cảm thị giác Đối với các cơ quan thụ cảm thị giác khi ánh sáng tác động lên chúng thì làm xuất hiện xung đột hần kinh Các xung đột thần kinh này theo dây thần kinh thị giác được chuyền đến trung ương thị giác nằm ở thuỳ chẩm của não bộ
Thị giác của chó có những đặc thù riêng của nó Chó không có khả năng nhìn thấy vật cùng một lúc bằng hai mắt, nghĩa là mỗi mắt của chó có thị trường của mình Như phần lớn động vật có vú, chó là bị mù màu hay còn gọi
là lưỡng sắc biến dị và có tầm nhìn về màu xanh và đỏ tương đương với những người bị mù màu Bởi vậy chó chó thể nhìn thấy màu xanh lam và màu vàng nhưng khó để phân biệt giữa màu xanh lá cây và màu đỏ bởi vì chó chỉ
có hai loại tế bào hình nón trong khi đó ở người có ba loại tế bào này và chó
sử dụng màu sắc thay vì ánh sáng để phân biệt ánh sáng hoặc màu xanh lam màu vàng Chó ít nhạy cảm với sự khác biệt về sắc thái màu xám hơn con người và cũng có thể phát hiện độ sáng ở mức khoảng một nửa độ chính xác của con người
* Cơ quan khứu giác
Các cơ quan thụ cảm khứu giác nằm ở các biểu mô khứu giác, sâu trong đường ống trên ở mũi Ở chó vùng khứu giác rộng khoảng 250 đến 400
mm2, và do 125 đến 224 triệu tế bào khứu giác tạo thành Mỗi 1 tế bào lại có
vô số lông mao rất nhỏ, nhờ đó mà khả năng nhạy cảm khứu giác của chó được tăng lên nhiều lần
Sự nhạy cảm cao đối với các chất có trong không khí: là tính chất nổi bật của các tế bào cơ quan thụ cảm khứu giác Người ta đã chứng minh được chó có thể phát hiện được 1 phân tử hơi trong 1 lít không khí, và có thể tiếp nhận được 1 phân tử hơi trong 1 lít nước Các phân tử hơi từ không khí thâm nhập vào vùng khứu giác, tiếp xúc với các lông mao của tế bào thụ cảm và gây nên sự khử cực mạnh của các nơ-ron thần kinh khứu giác Nơ-ron đã được khử cực này sinh ra các xung động hưng phấn có cường độ tần số, biên
độ và thời hạn nhất định trong dây thần kinh khứu giác Sự phối hợp các xung
Trang 19động hưng phấn của các dây nền dây chằng rộng khác nhau, mạng thông tin
về mùi hơi đến các tế bào thần kinh hành khứu giác và trung tâm thần kinh khu khứu giác thùy thái dương của vỏ não
Trong khi ở não người, vùng vỏ não chi phối thị giác lớn thì ở chó vùng
vỏ não chi phối khứu giác lớn hơn, thùy khứu giác của chó gồ gề gấp 40 lần
so với ở người với 125 đến 220 triệu tế bào thụ cảm ở những giống chó săn thì vượt quá tiêu chuẩn với gần 300 triệu thụ thể Bởi vậy chó nói chung có cơ quan khứu giác nhạy hơn 100000 – 1000000 lần so với con người Với mũi luôn ẩm ướt bởi dịch mũi giúp chó định hướng mùi tốt hơn trong không khí
Nhờ có cơ quan phân tích khứu giác mà chó có thể xác định được nồng
độ và cường độ của mùi hơi, mùi hơi mới hay cũ (độ lâu) Người ta đã chứng minh được rằng: Chó có thể phân biệt được các nguồn hơi theo độ lâu với độ chênh lệch nhau trong khoảng từ 3 – 5 phút Còn trí nhớ nguồn hơi của chó có thể cho phép phân biệt được các nguồn hơi giống nhau Các phản xạ có điều kiện đối với mọi tính chất mùi hơi đều có thể dễ dàng được hình thành ở chó, điều này cho phép ta có thể huấn luyện và sử dụng thành công chó nghiệp vụ
về lĩnh vực giám định nguồn hơi và truy vết
* Cơ quan thính giác
Cơ quan thính giác là tai Tai được cấu tạo bởi phần tai ngoài, tai giữa
và tai trong Cơ quan thính giác của chó có khả năng thu nhận dải tần số khoảng 40 Hz đến 60.000Hz, có nghĩa là chó có thể phát hiện âm thanh vượt
xa giới hạn của con người Ngoài ra tai chó có thể cử động cho phép chó nhanh chóng xác định vị trí của một âm thanh, có khoảng hơn 18 cơ giúp chó điều khiển tai như nghiêng, xoay, nâng lên, hạ xuống
Chó có cơ quan thính giác rất nhạy cảm, điều này được sử dụng trong việc tập luyện (phát lệnh bằng giọng nói) Lệnh do giọng nói của người phát
ra đối với chó chỉ là kích thích âm thanh Chó có thể phân biệt khẩu lệnh theo cường độ và ngữ điệu của nó
1.1.4 Cơ chế tập tính của động vật
Trang 20* Cơ sở sinh học của tập tính động vật:
Cơ chế hình thành, điều khiển tập tính động vật chính là cơ chế hoạt động của hệ thần kinh, gồm các cơ quan tiếp nhận cảm giác trong, ngoài, cơ quan vận động và cơ quan điều khiển Mỗi hoạt động bất kì của cơ chế đều là một phần của tập tính động vật Để một hoạt động thực hiện, cơ chế cần có cơ quan tiếp nhận cảm giác, tín hiệu, tiếp thu mọi kích thích bên ngoài và bên trong cơ thể
Để thực hiện các hoạt động đa dạng và tổng hợp, hầu hết cơ thể động vật đều có một hện thần kinh phát triển, điều khiển thống nhất, đáp ứng phù hợp với các yếu tố môi trường xung quanh
* Các nhân tố trong và nhân tố ngoài
- Tập tính động vật rất đa dạng, có thể thay đổi theo thời gian, thời điểm khác nhau Tuy chịu cùng một loại kích thích cũng có những phản ứng ngay cả khi không có kích thích bình thường
- Các kích thích trong của một tập tính được biết rõ đó là hoocmon Tập tính hôn phối được một hệ thống hoocmon điều khiển do tuyến sinh dục và mấu não dưới tiết ra Một tập tính hôn phối đầy đủ, từ khoe mẽ, tán tỉnh, chọi nhau, canh tổ, nuôi con chỉ thể hiện được nếu các hoocmon sinh dục được tiết theo một trật tự nhất định
- Các kích thích trong khác là do các cơ quan thụ cảm trong Ví dụ, con thú buồn đái khi các cơ quan thụ cảm ở thành bàng quan phản ứng với áp suất tăng dần của nước tiểu Nhịp thở gấp của con thú là do khu trung ương hô hấp của hành tủy báo hiệu, nồng độ khí CO2 đã tăng trong máu
- Hệ thần kinh trung ương có thể chủ động gây tập tính Ví dụ, mèo đói thích bắt chuột để ăn, nhưng mèo no cũng vẫn thích bắt chuột
- Kích thích bên trong lại do ngoại cảnh điều khiển hoocmon của mấu não dưới và tuyến sinh dục tiết ra là nguyên nhân trong thực sự của tâp tính giao phối Nhưng sự tiết hoocmon đó lại do những nhân tố ngoài gây ra như
sự thay đổi độ dài ngày
Trang 21Những ví dụ trên chứng tỏ, tác dụng của ngoại cảnh rất quan trọng, nhưng đa số động vật đã có cơ chế tập tính ở ngay trong cơ thể Tập tính có thay đổi với sự tiếp xúc ngoại cảnh, nhưng đây chỉ là sự thay đổi đơn giản của một tập tính đã được khởi động Như vậy, tập tính được hình thành có thể do các tác nhân bên ngoài hoặc các tác nhân bên trong, nhưng cũng có thể do sự kết hợp cả hai yếu tố đó
* Sự kết hợp của các nhân tố
Nhân tố trong là gốc phát triển tập tính, nhưng vẫn kết hợp chặt chẽ với nhân tố bên ngoài trong sự thành hình tập tính Thử phân tích một chuỗi động tác của chim trong hiện tượng hôn phối Đây là một dây chuyền phức tạp của nhiều sự kiện với tầm quan trọng khác nhau
Tập tính hôn phối bắt đầu bằng độc chiếm lãnh thổ của chim đực, tiếp theo là sự rủ rê chim cái để ghép đôi, xây tổ, ấp trứng và sau cùng là nuôi con
Pha xây tổ: lúc đầu nó làm khung tổ bằng cỏ và sau đó, lót tổ bằng lông chim Trong quá trình này, chim thu nhặt cỏ ít dần và tha lông tăng dần Hoocmon điều khiển tập tính xây tổ, vì chim có thể làm tổ trái mùa nếu nó được tiêm hoocmon sinh dục là chất oestrogen Nhưng sự thay thế dần cỏ bằng lông không do hoocmon mà do kích thích ngoài điều khiển Khi chim mái nằm giữa đống vật liệu thu lượm được đặt trong tổ nó bị cỏ làm ngứa ngáy Trong thời kì đẻ trứng, bụng chim rụng lông tạo thành “tấm ấp” Sự dụng lông do hoocmon tiết ra điều khiển do sự có mặt của chim đực và dựng khung tổ Tất cả những nhân tố đó góp phần tạo nên “tấm ấp” Tấm ấp rất nhạy cảm và do bị cỏ kích thích, chim chuyển sang pha kiếm lông lót tổ Nằm trên lông, tất nhiên sự kích thích “tấm ấp” của chim cái giảm tới tối tiểu Các pha khác của tập tính hôn phối cũng tuần tự tiếp diễn như thế Cơ chế đầy đủ
cứ vận hành có trật tự: hoocmon và kích thích ngoài tác động lẫn nhau ở mỗi pha tạo nên tập tính thích ứng
* Tập tính trội
Trong một thời điểm, từ một địa điểm con vật chỉ sử dụng một tập tính nhất định, trong nhiều trường hợp con vật không thể thực hiện hai, ba tập tính
Trang 22đồng thời Tập tính được thực hiện đó gọi là tập tính trội Trong tình huống này, con vật có khả năng chọn trong số lớn hình ảnh, âm thanh hay kích thích khác thích hợp với yêu cầu đó
* Tập tính xung đột
Trong nhiều trường hợp, con vật bị kích thích mạnh, đồng thời bằng nhiều kiểu và hai hay ba kiểu tập tính không thể trội hơn nhau Khi đó có một tập tính xung đột Ví dụ: trên ranh giới lãnh thổ, xuất hiện một cá thể đực khác, thì trong con đực này đồng thời bị kích thích tấn công và bỏ chạy khi gặp chủ nhân của lãnh thổ đó
Các động tác của tập tính xung đột này rất thú vị, thường được các cá thể khác nhận biết Đây là các tín hiệu cơ sở của ngôn ngữ động vật Trong nhiều tình huống, con vật nổi giận, nhưng đồng thời lại sợ hãi hay có cảm xúc khác, hậu quả của tập tính đó rõ ràng như nhau
Như vậy, tập tính xung đột là cùng một lúc phải đối phó với các tình huống khác nhau, con vật buộc phải chọn lọc tình huống có lợi và xử lý kịp thời 1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CHÓ BẢN ĐỊA VIỆT NAM
1.2.1 Đặc điểm các giống chó bản địa Việt Nam
Theo Phạm Sỹ Lăng và Cs, (1993) [7] chó nhà Việt Nam hiện nay có thể có 5 nòi: Chó vàng, Chó Mèo, Chó Lào (ba nòi chó này có thể có nguồn gốc từ chó sói lớn hiện còn sống ở nước ta), Chó Bắc Hà, Chó Phú Quốc
Theo Lê Vũ Khôi, (2003) [8] họ chó Canidae ở Việt Nam cho thấy có 5
loài bao gồm: sói lửa (Cuon alpinus), cáo (Vulpes vulpes), lửng chó (Nyctereutesprocyonoides), chó rừng (Canis aureus) và một loài chó nhà
Nhìn chung những nghiên cứu cơ bản về chó nhà tại Việt Nam hầu như
có rất ít, chỉ là những thống kê không cơ bản về hình thái bên ngoài, chưa đưa
ra được tên khoa học
Theo kết quả nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2007 - 2011, Trung tâm Nhiệt đới Việt- Nga đã tiến hành nghiên cứu thành phần khu hệ chó bản
Trang 23địa Việt Nam tại các tỉnh phía Bắc và Trung Việt Nam, tổng số có 14 dạng và giống được ghi nhận bao gồm: Việt Dingo, Dingo lùn, Dingo lớn, H’mông cộc đuôi, H’mông lông dài, Bắc Hà, Akita, Laika, Sharki, Dạng kéo xe, Sapei, Chó Lào, Phú Quốc và Dạng sói có được bản đồ phân bố các giống chó tại khu vực nghiên cứu [9]
Đặc điểm một số giống chó nội:
1) Chó Việt Dingo
Việt Dingo hay còn được gọi là giống chó “Vàng”, chó “Gié” Chúng được nuôi phổ biến ở các vùng nông thôn, có tầm vóc trung bình, chiều cao trước: 47,48 cm, trọng lượng trưởng thành là 15,5 kg Đây là một trong những giống chó săn được nhân dân ta nuôi để giữ nhà
Chúng thường có màu lông vàng hay vàng nhạt đôi khi có xuất hiện các màu lông khác như xám, trắng,…đầu to rộng, trán rộng, phẳng giữa trán có rãnh khá sâu chia đầu thành hai phần bằng nhau Chiều dài của đầu chiếm 1/3
so với chiều cao trước của chó Chiều dài mõm khoảng 1/3 chiều dài đầu Chiều rộng của xương hộp sọ khoảng 1/2 chiều dài đầu
2) Chó Dingo lớn
Dingo lớn có nhiều đặc điểm giống với Việt Dingo, chúng cũng có màu lông vàng, tai dựng, người dân vẫn gọi Việt Dingo và Dingo lớn là một loại giống chó “Vàng” Tuy nhiên giữa chúng có sự khác nhau đáng kể Điểm khác biệt dễ nhận thấy giữa Việt Dingo và Dingo lớn là ở tầm vóc và kiểu dáng đầu, đôi khi có cả sự khác nhau về kiểu đuôi
Tầm vóc của Dingo lớn to cao hơn so với Việt Dingo bởi chúng có những cặp chân thon, cao, chắc khoẻ, khi trưởng thành chiều cao trước 52,5cm, trọng lượng 20,27kg, có cá thể đạt tới 25kg
Kiểu đầu của giống Dingo lớn trông dài và thon hơn so với Việt Dingo
Tỷ lệ giữa rộng đầu và dài đầu là 1/2, tỷ lệ dài mõm và dài đầu khoảng 1/2 Phần lớn các cá thể thuộc giống Dingo lớn có kiểu đuôi dài, thẳng và hơi cụp xuống Trong khi đó kiểu đuôi của Việt Dingo lại có hình xoắn ốc, hướng lên trên và lệch về một phía
Trang 243) Giống chó H’mông lông dài
Một trong những đặc điểm rất dễ nhận dạng chúng là giống H’mông lông dài có bộ lông khá dài giống với giống Bắc Hà song những chiếc lông dài này không chỉ có ở trên mình mà nó còn mọc lan rộng sang hai bên mõm
và toàn bộ mặt
Đầu của chúng trông gần giống với giống Việt Dingo, với mõm ngắn rộng, tỷ lệ giữa chiều dài đầu với chiều cao trước là 1/3; tỷ lệ chiều dài mõm với chiều rộng đầu là 1/2 và tỷ lệ giữa chiều rộng đầu - chiều dài đầu là 1/2
Hành vi ứng xử của chúng rất hung dữ nhưng đôi khi lại thân thiện, chúng luôn có trạng thái đề phòng với người lạ
4) Giống chó H’mông cộc đuôi
Đây có thể coi là một trong những giống chó tuyệt vời của Việt Nam Chúng có tầm vóc trung bình khá, có những cá thể đặc biệt to lớn Khi trưởng thành chúng đạt chiều cao trước 48,36 cm, trọng lượng trung bình đạt 17,05kg
Về kiểu hình: Lông màu đen, đôi khi xuất hiện màu vằn vện như màu lông hổ Đầu to, lớn với trán phẳng, rộng, tỷ lệ giữa dài đầu và chiều cao trước là 1/3, tỷ lệ giữa rộng đầu và dài đầu khoảng 1/3, tỷ lệ giữa chiều dài mõm và chiều dài đầu là 1/2, hai tai thường dựng đứng hoặc dựng nhưng 1/4 phía đỉnh tai lại rủ xuống Đuôi bị cộc bẩm sinh với độ dài khác nhau nhưng dao động từ 3 đến 15cm, đây là một trong những đặc điểm quan trọng để nhận dạng giống chó này
Chúng sở hữu một trí thông minh tuyệt vời, những con chó con dễ dàng bắt chước các động tác của chó trưởng thành và chúng có khả năng nhớ tốt Bởi vậy hướng sử dụng có thể dùng giống chó này vào hoạt động huấn luyện chó nghiệp vụ phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau
5) Giống chó Bắc Hà
Bắc Hà là tên gọi của giống chó được tìm thấy ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai Chúng xuất hiện nhiều ở các bản vùng cao hay ngay cả ở các trung tâm huyện, thị trấn, thành phố
Đặc điểm nổi bật của giống chó này là chúng có bộ lông rất dài màu
Trang 25đen hay đôi khi xuất hiện màu pha tạp
Kiểu đầu của chúng nhìn tương đối vuông và có đặc điểm gần giống với giống Việt Dingo, tỷ lệ chiều rộng đầu với chiều dài đầu là 1/2; tỷ lệ giữa dài mõm và dài đầu là 1/3; hai tai của chúng dựng hoặc một phần nhỏ của đỉnh tai rủ xuống
Tính cách chúng thân thiện nhưng sẵn sàng hung dữ với kẻ thù, chúng
có trí nhớ tốt nhưng hệ thần kinh dễ bị chai lì
6) Giống chó Phú Quốc
Chó Phú Quốc là giống chó của Việt Nam hiện đang được nhân giống ra nhiều Chó Phú Quốc thường có bụng thon, trên lưng lông mọc
có hình xoắn, hay lật theo kiểu rẽ “ngôi”, là một trong ba quần thể chó
có đặc tính xoáy lưng là chó Phú Quốc Việt Nam, chó xoáy lưng Thái Lan và chó xoáy lưng châu Phi Bộ lông mượt sát (1-2 cm) rất ngắn, màu vàng xám, màu nâu xám hoặc đen Bàn chân của chó Phú Quốc khi đứng
sẽ chụm hẳn lại theo một thế rất vững
7) Giống chó bản địa dạng sói
Giống chó bản địa dạng sói có tầm vóc trung bình và quan sát theo mặt cắt ngang có hình thể hơi dài Chúng có cấu trúc cơ thể nhẹ nhàng, rắn chắc
và kết cấu đầu, mình, các chi cân đối một cách tự nhiên, không có xu hướng phát triển thô kệch hoặc thể tạng béo phệ
Đây là một dạng của một giống chó cổ xưa (có thể là cổ xưa nhất trong lịch sử động vật), có hình dáng giống như loài sói nhỏ ở Trung Quốc và Ấn
Độ, bởi vậy tạm gọi là giống chó bản địa dạng sói Hiện nay quần thể giống chó này đang có xu hướng giảm về số lượng và có khả năng bị lai tạp với các giống chó khác Tại Việt Nam chủ yếu giống chó này được tìm thấy ở hạ lưu sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hoá
1.2.2 Tình hình nuôi dạy chó nghiệp vụ ở Việt Nam
Từ năm 1954, Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An nước ta đã tiến hành tổ chức nuôi chó nghiệp vụ Các cơ sở như Trường 24 và Trung Tâm 32 đã được
Trang 26thành lập và thực hiện nhiệm vụ này Chúng ta đã nhập, nuôi thích nghi các giống chó của Liên Xô, Đức, đã thử huấn luyện các giống chó nội như chó Mèo, chó lai Việt Nam Đã tiến hành lai chó của Liên Xô, Đức với chó lai Việt Nam Một thực trạng khó khăn trong công việc này là các giống nhập nội thích nghi kém, khó nuôi nên phải nhập đi nhập lại [10]
Những năm gần đây, công tác huấn luyện chó chuyên khoa ở nước ta được quan tâm đầu tư phát triển Nhiều giống chó ngoại nổi tiếng như Berger, Labarador, Rottwailer, Cocker…đã được nhập vào nước ta Sau nhiều năm nhân nuôi và huấn luyện chúng đã hỗ trợ tích cực và có hiệu quả cho các lực lượng chức năng trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự xã hội Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của giống chó ngoại là khả năng thích nghi trong điều kiện nóng ẩm của nước ta không cao, hay mắc bệnh, đặc biệt chi phí con giống và nhu cầu dinh dưỡng cao Do đó, bên cạnh nghiên cứu và sử dụng các giống chó ngoại, đã có những công trình nghiên cứu về giống chó bản địa Việt Nam phục vụ cho công tác An ninh - Quốc phòng [11]
Giống chó bản địa Việt Nam được các chuyên gia khuyển học đánh giá rất cao về hình thái, tính cách cũng như khả năng làm việc của chúng trong công tác nghiệp vụ [10,12]
Trong số các giống chó bản địa đáng chú ý là giống chó H’mông cộc đuôi
và giống chó bản địa dạng sói Theo kết quả huấn luyện bước đầu chó thấy giống chó H’mông cộc đuôi và giống chó bản địa dạng sói có khả năng thực hiện các khoa mục nghiệp vụ: Kỷ luật cơ bản, Truy vết và Bảo vệ [13]
Như vậy có thể thấy, ngành nuôi dạy chó nghiệp vụ nước ta tuy đã có
từ lâu, nhưng công tác nghiên cứu về nghiệp vụ vẫn chưa được chú trọng, đặc biệt hơn nữa là việc nghiên cứu đánh giá giống chó bản địa của Việt Nam làm chó nghiệp vụ
1.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CHÓ TÌM KIẾM, PHÁT HIỆN BOM MÌN
1.3.1 Tình hình sử dụng chó tìm kiếm, phát hiện bom mìn trên thế giới
Chương trình “Chó phát hiện mìn” của Trung tâm rà phá bom mìn Campuchia CMAC được thành lập vào năm 1996, tập trung vào việc huấn
Trang 27luyện chó đánh hơi mìn và các loại chất nổ được chôn dưới lòng đất Phần lớn trong số 87 con chó được huấn luyện ở đây được mua từ một trung tâm huấn luyện chó ở Bosnia-Herzegovina với giá khá cao Trung tâm CMAC hoạt động với sự hỗ trợ của Chính phủ Campuchia và các đối tác như Tổ chức Quốc tế về người tàn tật của Bỉ, Trung tâm rà phá bom mìn Nhật Bản, Cơ quan Viện trợ của Na Uy, Trung tâm Quốc tế rà phá bom mìn nhân đạo của Geneva, Thụy sĩ Hầu hết chó dò mìn ở trung tâm CMAC được mua từ nước ngoài
Cơ quan nghiên cứu rà phá bom mìn của Mỹ (JIEDDO) cho biết chó là loài vật tìm kiếm chất nổ tốt nhất Trong cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq, các thiết bị do cơ quan JIEDDO cung cấp chỉ tìm kiếm được 50% chất nổ IED, trong khi đó tỷ lệ thành công ở những chú chó được huấn luyện lên tới 80% [14]
Viện di sản Marshall (the Marshall Legacy Institute) MLI phát động chương trình Chó phát hiện bom mìn (Mine Detection Dog Partnership Program) MDPP vào năm 1999 Chương trình này sử dụng kinh phí của chính phủ và tư nhân đóng góp để mua, đào tạo và cung cấp chó phát hiện bom mìn nhằm giúp đỡ các nước nhiễm bom mìn trên khắp thế giới Hiện tại có hơn
900 cá thể chó phát hiện bom mìn làm việc tại 24 quốc gia; Kể từ khi thực hiện chương trình chó phát hiện bom mìn, đã sử dụng chó tìm kiếm làm sạch hơn 10.600 mẫu đất nhiễm bom mìn, cứu sống vô số con người [15]
Trong lĩnh vực Công binh và rà phá bom mìn sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Liên Bang Nga đã sử dụng chó nghiệp vụ giải quyết số bom mìn tồn lưu trong đất hiệu quả cao, chó có khả năng phát hiện bom mìn đã tồn tại sau chiến tranh trong đất hàng trăm năm và ở độ sâu tới 2m Hiện tại, Liên bang Nga đang là cường quốc sử dụng chó nghiệp vụ trong rà phá bom mìn, tham gia vào hội rà phá bom mìn tình nguyện quốc tế (Trung tâm chó nghiệp
vụ 46, Bộ Tình trạng khẩn cấp, Liêng bang Nga)
1.3.2 Tình hình sử dụng chó trong tìm kiếm bom mìn tại Việt Nam
Lần đầu tiên ở Việt Nam, hai cá thể chó nghiệp vụ có tên là O-lada và
Trang 28Fini được huấn luyện đặc biệt để đưa vào hỗ trợ rà phá bom mìn tại tỉnh Quảng Trị Chương trình thử nghiệm chó nghiệp vụ hỗ trợ hoạt động khảo sát
và rà phá bòm mìn do Cơ quan Phát triển Quốc tế Thụy Điển – Sida tài trợ thông qua Quỹ Viện trợ Nhân dân Na Uy, Dự án RENEW và phê duyệt của UBND tỉnh Quảng Trị [16]
Khu vực được tìm kiếm bom mìn gần đường Hồ Chí Minh nhánh Đông, gần một căn cứ quân sự cũ của Mỹ trong chiến tranh, ở thôn Xuân Mỹ,
xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ với diện tích 11 hec ta Khu vực này trước đó
đã được đội khảo sát kỹ thuật của Dự án Renew xác định là nguy hiểm cần được rà phá
Sau hơn một tuần rà soát 17.852 m² đất tại Quảng Trị, chó nghiệp vụ đã phát hiện 21 quả bom bi loại BLU-63 và 12 quả đạn M79 Tất cả 33 vật liệu
nổ này đã được đội xử lý bom mìn lưu động Dự án RENEW phá hủy tại chỗ an toàn
Hiện tại, chương trình đã kết thúc và vẫn chưa có thêm hoạt động nào trong lĩnh vực tìm kiếm, phát hiện bom mìn bằng chó nghiệp vụ được triển khai
Như vậy có thể thấy, các nghiên cứu cơ bản về chó bản địa, sử dụng để làm chó nghiệp vụ ở nước ta nói chung, huấn luyện tìm kiếm phát hiện bom mìn nói riêng còn rất ít Công tác huấn luyện chó tìm kiếm, phát hiện bom mìn còn lại sau chiến tranh tại Việt Nam hầu như chưa được thực hiện nếu không muốn nói là chưa có Việc nghiên cứu, đánh giá khả năng tìm kiếm, phát hiện bom mìn sử dụng giống chó bản địa sẽ mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi dạy chó nghiệp vụ nước ta Góp phần vào công tác an sinh xã hội cũng như An ninh – Quốc phòng
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Giống chó bản địa dạng sói của Việt Nam nuôi tại trạm Nghiên cứu Thử nghiệm Tự nhiên Hoà Lạc, được chia thành các nhóm (Shook, Larry, 1995) [17]:
- Nhóm 1: Chó từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi (giai đoạn chó con)
- Nhóm 2: Chó từ 2 đến 8 tháng tuổi (giai đoạn chó choai)
- Nhóm 3: Trên 8 tháng tuổi (giai đoạn chó trưởng thành)
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Thực hiện từ tháng 5/2017 – 5/2019
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Trại chó bản địa dạng sói, Trạm Nghiên cứu thử nghiệm Tự nhiên Hòa Lạc/Trung tâm Nhiệt đới Việt–Nga, xã Yên Bình, huyện Thạch Thất, TP
Hà Nội
+ Trường Trung cấp 24 Biên Phòng/BTL Bộ đội Biên phòng, Xã Vật Lại, huyện Ba Vì, TP Hà Nội
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh sản của giống chó bản địa dạng sói
a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái của giống chó bản địa dạng sói:
Quan sát chó từ nhiều hướng khác nhau: Phía trước, phía sau, hai bên sườn ở cự ly 3 – 4 m Đo các chỉ tiêu hình thái, tính tỷ lệ tương quan giữa các phần trên cơ thể Khi đo chó phải đứng cân đối trên địa thế bằng phẳng và toàn thân dồn đều lên các đầu chi, khi đo đặt thước đo chiều cao và thước dây vào gần chó một cách nhẹ nhàng để chó không có phản ứng tự vệ [18]
Dụng cụ đo: Thước dây; thước đo chiều cao; thước compa
Trang 30Vị trí và cách đo:
- Chiều cao trước: Được đo từ đỉnh xương bả vai đến mặt đất theo
hướng vuông góc với mặt đất;
- Chiều cao sau: Được đo từ đỉnh xương chậu đến mặt đất theo hướng
vuông góc với mặt đất;
- Chiều cao chân trước: Được đo từ mặt đất đến khớp cẳng tay – cánh
tay theo hướng vuông góc với mặt đất;
1 - Chiều dài đầu; 2- Chiều dài mõm; 3 - Vòng ngực; 4 - Vòng cổ chân;
5 - Rộng ngực; 6 - Cao thân trước; 7 - Cao thân sau; 8 - Chiêu sâu
ngực; 9 - Chiều dài thân
Hình 2.1 Minh họa một số phép đo được thực hiện trên chó
- Chiều dài thân: Được đo theo hướng song song với mặt đất bắt đầu từ
khớp bả vai – cánh tay đến u ngồi của xương chậu;
- Chiều dài đầu: Sử dụng thước compa đo từ đỉnh xương chẩm đến đầu mũi;
- Chiều dài mõm: Sử dụng thước compa đo từ đỉnh mũi đến trung điểm
đường nối hai đầu mắt;
- Chiều rộng đầu: Sử dụng thước compa đo khoảng cách sau hai gốc tai;
Trang 31- Chiều rộng ngực: Đo khoảng cách giữa hai khớp bả vai – cánh tay;
- Vòng ngực: Sử dụng thước dây đo chu vi lồng ngực ngay sau bẹn
chân trước;
- Vòng cổ chân: Sử dụng thước dây đo chu vi xương bàn trân trước;
- Xác định trọng lượng chó: Sử dụng cân để cân trọng lượng cơ thể
chó, được thực hiện trước hoặc sau khi cho chó ăn 2 giờ
b) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản của giống chó bản địa dạng sói:
Theo dõi, ghi chép tổng hợp các số liệu về tuổi thành thục tính, thời gian động dục lại, thời gian mang thai, số con sinh ra/ổ, tỷ lệ sơ sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh, tỷ lệ đực cái trên ổ của giống chó bản địa dạng sói
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phát triển các cơ quan giác quan của giống chó bản địa dạng sói
Nghiên cứu đặc điểm phát triển của các cơ quan giác quan được sử dụng phương pháp đánh giá các cơ quan giác quan do chuyên gia Nga Vlaxenko A.Nh đưa ra vào năm 2007, sử dụng cho đối tượng chó bản địa Việt Nam Cụ thể như sau:
a Phương pháp nghiên cứu cơ quan thị giác
Phương pháp được xây dựng dựa trên sự thành lập phản xạ có điều kiện của chó đối với tín hiệu vật chuyển động (bảng kích thước 12 cm x 12 cm) và thức ăn
Điều kiện thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành tại bãi tập có độ dài trên 500 m và không có vật cản che khuất tầm nhìn (Sân bay bê tông Hòa Lạc
có chiều dài 3000 m và rộng 50 m) Một bảng lớn có kích thước 1,5 x 1 m bảng có màu đồng nhất (màu trắng) và được thiết kế sao cho dễ di chuyển Một bảng nhỏ kích thước 12 x 12 cm, có màu sắc tương phản với bảng lớn (màu đỏ) và được gắn với tay cầm, sao cho dễ dàng di chuyển lên, xuống và sang trái, sang phải Một thước dây để đo khoảng cách chó quan sát được Thí nghiệm được tiến hành trên các cá thể chó khoẻ mạnh, thành lập phản xạ có
Trang 32điều kiện của chó đối với tín hiệu vật chuyển động (bảng kích thước 12 cm x
12 cm) và thức ăn Điều kiện thời tiết tốt, ban ngày không có mưa và sương
mù, điều kiện ngoại cảnh yên tĩnh
Cách tiến hành: Đặt bảng lớn 1,5 x 1 m tại vị trí có địa hình bằng phẳng Huấn luyện viên dắt chó vào trước bảng với khoảng cách ban đầu từ chó đến bảng lớn là 10 m Huấn luyện viên cho chó ngồi hoặc đứng sao cho đầu hướng về bảng Phía sau bảng lớn 1,5 x 1 m một người cầm bảng nhỏ giơ cao lên và di chuyển sang trái, sang phải cho chó quan sát Khi chó có phản ứng với tấm bảng nhỏ thì huấn luyện viên cho chó chạy về phía bảng lớn và thưởng thức ăn cho chó Mỗi vị trí tương ứng với khoảng cách từ chó đến bảng được tiến hành 3 lần Nếu chó thực hiện được tiến hành tịnh tiến khoảng cách giữa chó và bảng ra xa hơn cho đến khi đạt giá trị cực đại Nếu trường hợp tịnh tiến ra xa chó không quan sát thấy bảng nhỏ thì phải dịch chuyển dần chó về phía gần bảng hơn đến khi chó có thể quan sát thấy Khi đã xác định được khoảng cách xa nhất chó có thể nhìn thấy, tiến hành đo và ghi chép số liệu thực hiện được
Tiến hành đánh giá ở giai đoạn chó choai và chó trưởng thành Xác định khoảng cách mà chó có thể nhìn thấy vật ở mỗi giai đoạn tuổi
b Phương pháp nghiên cứu cơ quan thính giác
- Nguyên tắc: Sử dụng thức ăn thành lập phản xạ có điều kiện cho chó khi nghe thấy tín hiệu âm thanh
- Cách tiến hành: Trên bãi tập bố trí các vạch cách nhau 10 m, từ điểm ban đầu cách xa 50 m, tại điểm ban đầu để một tấm bảng và bố trí tạo âm thanh trên bảng Huấn luyện viên dắt chó đến các vị trí vạch đã được bố trí, huấn luyện viên cho chó ngồi hướng về phía bảng, để trôi qua hai giây một người khác dùng bảng điều khiển để tạo âm thanh ở tấm bảng Khi chó có phản ứng với âm thanh thì huấn luyện viên cho chó chạy về phía tấm bảng Mỗi vị trí tương ứng với khoảng cách từ chó đến bảng được tiến hành 3 lần Nếu chó thực hiện được tiến hành tịnh tiến khoảng cách giữa chó và bảng ra
xa hơn cho đến khi đạt giá trị cực đại Nếu trường hợp tịnh tiến ra xa chó
Trang 33không nghe thấy âm thanh thì phải dịch chuyển dần chó về phía gần bảng hơn đến khi chó có thể nghe thấy Khi đã xác định được khoảng cách xa nhất chó
có thể nghe thấy, tiến hành đo và ghi chép số liệu thực hiện được
- Điều kiện tiến hành: Tiến hành thí nghiệm trong điều kiện thời tiết bình thường, không mưa, không nắng quá to và không có gió to, yên tĩnh Những con chó khoẻ mạnh, đã hình thành phản xạ với âm thanh (khi nghe thấy tiếng chuông thì chạy lại trước bảng ngồi) mới được tham gia thí nghiệm
+ Điều kiện trang thiết bị:
Bãi tập: Sân bay bê tông Hòa Lạc có chiều dài 3000 m và rộng 50 m
01 bảng có kích thước 1,5 x 1 m bên trên được bố trí âm thanh
01 chuông điện tử dùng nguồn điên 220V để phát ra âm thanh có cường độ 80db, tần số 50hz
Tiến hành đánh giá ở giai đoạn chó choai và chó trưởng thành Xác định khoảng cách mà chó có thể nghe thấy âm thanh ở mỗi giai đoạn tuổi
c Phương pháp nghiên cứu cơ quan khứu giác
- Đối với giai đoạn chó choai (đánh giá ở 3 tháng tuổi):
Phương pháp bố trí thí nghiệm như sau: Trên một bãi đất rộng 5 x 5 m,
đi vết theo hình zic zắc chéo sân, đặt 5 điểm vết (thịt) mỗi điểm vết cách nhau 1,5 m Để khoảng 30 phút hướng chó đi tìm, quan sát và đánh giá
- Đối với giai đoạn chó trưởng thành (đánh giá ở 9 tháng tuổi):
Phương pháp bố trí thí nghiệm như sau: Trên một bãi đất rộng 15 x 15
m, đi vết theo hình zic zắc chéo sân, đặt 5 điểm vết (thịt) mỗi điểm vết cách nhau 3 m Để khoảng 30 phút hướng chó đi tìm, quan sát và đánh giá
* Điều kiện và cách đánh giá:
Tiến hành đánh giá đối với những cá thể chó khoẻ mạnh, không tiến đánh giá vào ngày mưa, gió to Điều kiện bãi tập: bãi tập có diện tích rộng
Trang 34300 m2 (bãi huấn luyện của trường sĩ quan lục quân I), tương đối bằng phẳng, cách xa khu dân cư, đường giao thông
* Thang điểm đánh giá như sau:
- Độ nhạy cơ quan khứu giác (5 điểm): Thời gian lưu mẫu, số lượng vật tìm được và thời gian tìm được vật
+ Thời gian lưu mùi hơi 30 phút
+ Thời gian từ 01- 05 phút chó phát hiện đủ năm mẫu: 5 điểm
+ Thời gian từ 06-10 phút chó phát hiện đủ năm mẫu: 4 điểm
+ Thời gian từ 11-15 phút chó phát hiện đủ năm mẫu: 3 điểm
+ Thời gian từ 16-20 phút chó phát hiện đủ năm mẫu: 2 điểm
+ Thời gian từ 21-25 phút chó phát hiện đủ năm mẫu: 1 điểm
- Mức độ tích cực tìm kiếm: Dựa vào số điểm vết mà chó phát hiện ra
để cho điểm, khả năng chó tự tiếp tục tìm kiếm khi phát hiện điểm vết (phát hiện hết các điểm vết được 5 điểm, mỗi điểm không phát hiện được trừ 1 điểm)
- Khả năng hít vết liên tục: Dựa vào sự quan sát của huấn luyện viên khi cho chó truy vết để cho điểm, chó chạy sai đường vết mỗi lần trừ 1 điểm; chó đang truy vết mà ngừng hoặc nghỉ không hít vết tiếp (mỗi lần trừ 1 điểm)
- Định hướng bằng cơ quan khứu giác: Mỗi lần chó truy vết bằng mắt
Trang 352.3.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm các tính trạng trội hành
vi và thần kinh của giống chó bản địa dạng sói
Theo Alekxayev A., (2007) [19], việc đánh giá các tính trạng trội của hành vi và đánh giá các dạng thần kinh của giống chó bản địa dạng sói dựa trên phản ứng của các cá thể chó trước những kích thích và tác động của người lạ đối với bản thân chúng;
Phương pháp đánh giá một số tính trạng trội của hành vi và các dạng thần kinh của giống chó bản địa dạng sói trong huấn luyện nghiệp vụ được thực hiện tại Trạm thử nghiệm tổng hợp Hòa Lạc
a) Bố trí kiểm tra
Để khảo sát các phản ứng hành vi của chó, phải chọn địa điểm chó chưa quen và không có các kích thích bên ngoài, có những nơi ẩn nấp tự nhiên hoặc nhân tạo, riêng biệt cho cán bộ huấn luyện, 2 trợ lý và người chỉ đạo Ở giữa khu vực, phải bố trí cọc buộc chó và dây xích, làm sao để chó không cảm nhận được mùi và không nhìn thấy chủ, các trợ lý và người chỉ đạo
Theo tín hiệu của người chỉ đạo, huấn luyện viên hoặc chủ chó xích chó vào cọc và đi đến địa điểm định sẵn, sao cho chó không thể nhìn thấy Người chỉ đạo quan sát hành vi của chó, đánh giá mức độ thể hiện của phản ứng lệ thuộc và phản ứng định hướng Khi chó đã trấn tĩnh, theo tín hiệu của người chỉ đạo, trợ lý thứ nhất đi ra khỏi nơi ẩn nấp, bình tĩnh tiến đến trước mặt chó, gọi tên, thử trao thức ăn và trốn vào nơi ẩn nấp
Sau khi chó vừa trấn tĩnh, từ phía ngược lại, trợ lý 2 bước ra, cầm theo roi trong tay Trợ lý 2 phải tạo ra tiếng la hét, trêu, kích thích chó bằng sự di động và nhanh chóng tiến về phía chó, giả bộ tấn công, đánh nhẹ bằng roi, và chạy nhanh vào nơi ẩn nấp
Sau đó, huấn luyện viên bước ra, bình tĩnh đến đặt trước mặt chó chậu thức ăn và trở về nơi ẩn nấp Ngay sau khi chó bắt đầu ăn, người trợ lý thứ 2 lại xuất hiện, chạy nhanh đến chỗ chó, giả bộ tấn công và giành cướp chậu thức ăn Sau 2 lần giả giành cướp thức ăn, trợ lý 2 trở về chỗ của mình Lần xuất hiện bổ sung của trợ lý, được thực hiện nhằm xác định chính xác lần cuối
Trang 362 phản ứng: phòng vệ thụ động hoặc phản ứng hung dữ - hèn nhát, phản ứng nào trội hơn, với sự có mặt của huấn luyện viên
b) Đánh giá các tính trạng trội hành vi
- Phản ứng lệ thuộc
Phản ứng lệ thuộc thể hiện khá mạnh ở hầu hết các cá thể chó Những
cá thể chó có phản ứng lệ thuộc trội, luôn tìm cách chạy đến phía huấn luyện
viên, nhìn về nơi chủ ẩn nấp Khi trợ lý thứ nhất, thứ hai tiến đến gần, chó phản ứng lại hành vi của họ, nhưng khi họ rút, chó lập tức chuyển sang hướng chủ mình Đối với thức ăn, chó hứng thú ăn khi chủ có mặt, còn khi chủ đi khỏi, chó ngừng ăn và chú ý quan sát hành vi của chủ
- Phản ứng định hướng
Những cá thể trội phản ứng định hướng, tại những địa bàn mới thường
ngửi xuống đất, nhìn xung quanh và chú ý, lắng nghe Khi trợ lý đến gần, thường rướn lên phía trước, ngửi, ve vãn, thức ăn không nhận ngay, khi bị trêu chọc, không bộc lộ phản ứng tích cực phòng thủ và phản ứng hèn nhát Cần phải nhớ rằng, phản ứng định hướng thường diễn ra trước các phản ứng khác và khi được bộc lộ đúng liều, nó nhanh chóng bị thay thế bằng các phản ứng khác
- Phản ứng phòng thủ - tích cực
Những cá thể chó trội về phản ứng phòng thủ - tích cực, thường cảnh
giác với người lạ Khi trợ lý xuất hiện, thường tỏ ra hung dữ, tấn công chủ động, cắn xé trợ lý, không nhận thức ăn Khi trợ lý thứ hai xuất hiện, chó còn hăng hơn, quyết liệt hơn, nhất là khi trợ lý dùng roi chọc, đánh Nếu đang ăn, chó lập tức bỏ ăn mà chú ý ngay đến sự xuất hiện của trợ lý Sau khi trợ lý rời
đi, chó chưa trở lại ăn ngay mà tiếp tục nhìn theo trợ lý
- Phản ứng phòng thủ - thụ động
Những con chó trội phản ứng phòng thủ - thụ động, khi đến địa bàn lạ,
thường tỏ hèn nhát nhìn quanh, khi trợ lý xuất hiện thường bỏ chạy, khi bị
Trang 37trêu chọc thường bỏ chạy lùi về sau hoặc nằm xuống đất Đối với thức ăn, vừa
ăn vừa sợ bỏ chạy hoặc không dám ăn
- Phản ứng thức ăn
Những cá thể có phản ứng thức ăn trội, thì khi trợ lý đưa thức ăn,
thường ăn ngay, hay ve vãn, khi bị chọc trêu, tỏ phản ứng hung dữ, đối với thức ăn, nhảy bổ vào ăn ngay, đầy tham lam, không để ý đến việc trợ lý đến gần, bảo vệ thức ăn khi bị giật và cố ăn nhanh thức ăn
- Phản ứng tìm kiếm bằng khứu giác
Cho chó tiến đến điểm có vết mùi tại hiện trường Sau khi phát hiện được từ xa nơi có vết mùi, chó chuyển hướng chú ý về phía có mùi, ngửi và đi đến chỗ có vết mùi đó, đi qua nơi có vết mùi, dựa vào mùi xác định hướng đi của người trợ lý
c) Đánh giá thần kinh ở chó
Việc xác định dạng hoạt động thần kinh cao cấp của chó trong thực tiễn
là vấn đề không dễ Khó là ở chỗ lựa chọn chính xác các kích thích khi nghiên cứu cường độ kích thích, ức chế, cân bằng và độ linh hoạt của quá trình này
Việc bố trí kiểm tra đánh giá nhanh các dạng thần kinh của chó cũng được tổ chức giống như việc kiểm tra đánh giá các tính trạng trội
Đối với những cá thể dạng mạnh không cân bằng hưng phấn, đặc trưng
nổi bật là kích thích mạnh đối với trợ lý thứ nhất và còn mạnh hơn đối với trợ
lý thứ hai Sau khi các trợ lý đi khỏi, chó tiếp tục trong trạng thái kích động mạnh thêm một thời gian Sau khi trấn tĩnh, chó nhanh chóng chuyển sang phản ứng mạnh với huấn luyện viên, với thức ăn và với tất cả mọi kích thích xuất phát từ môi trường xung quanh
Đối với các cá thể chó có dạng hoạt động thần kinh mạnh cân bằng
linh hoạt đặc trưng nổi bật là kích thích mạnh và chủ yếu lên hành động của
trợ lý 2 Sau khi trợ lý này đi khỏi, chó nhanh chóng trấn tĩnh và chuyển nhanh sang sự xuất hiện của huấn luyện viên, đón nhận thức ăn và các kích thích khác Trong quá trình kiểm tra, dễ nhận thấy sự thể hiện mạnh của tất cả
Trang 38các phản ứng hành vi, dễ dàng và nhanh chóng chuyển đổi từ phản ứng này sang phản ứng khác
Đối với các cá thể chó thuộc dạng mạnh cân bằng không linh hoạt
điểm đặc trưng là độ chậm chạp và uể oải của các phản ứng đối với hành động của người trợ lý Sau khi bị kích thích bởi hành động của người trợ lý thứ nhất, chó rất khó chuyển sang trợ lý thứ hai và càng chậm chạp hơn đối với sự xuất hiện của huấn luyện viên và đón nhận thức ăn Sự thể hiện yếu ớt
và trì trệ cũng được nhận thấy trong phản ứng của chó đối với tác động của các kích thích khác
Đối với các cá thể chó có dạng hoạt động thần kinh yêu ức chế, nổi bật
phản ứng định hướng đối với địa điểm mới, mùi, sự xuất hiện và rút lui của các trợ lý và sự ức chế bất ngờ của các phản ứng kích thích đối với sự tác động mạnh hoặc dứt khoát của trợ lý thứ hai Ở những cá thể chó có quá trình kích thích yếu thì thường nổi bật độ thụ động của hành vi, còn những cá thể
có quá trình ức chế yếu thì đặc trưng bởi phản ứng hấp tấp, giật mình vô cớ đối với tác động của các kích thích
Nếu sử dụng các kích thích mạnh, trong cả hai trường hợp đều gây ra
ức chế, sự thận trọng và sợ hãi, mà sẽ hết sau một thời gian nhất định hoặc khi thay đổi bối cảnh Đối với các cá thể chó dạng này, đặc trưng nổi bật là sự thể hiện yếu của các phản ứng cơ bản, còn phản ứng phòng thủ - thụ động, đôi khi thể hiện dưới hình thức hèn nhát
2.3.4 Nghiên cứu khả năng tìm kiếm, phát hiện bom mìn của giống chó bản địa dạng sói
Sử dụng phương pháp clicker trong huấn luyện chó tìm kiếm, phát hiện bom mìn được chuyên gia Nga ЮлияГаниская đưa ra năm 2018
2.3.4.1 Phương pháp huấn luyện chó bản địa dạng sói tìm kiếm phát hiện bom mìn
Phương pháp huấn luyện sử dụng clicker có thể thay đổi tùy thuộc vào các đặc điểm của hình thành kỹ năng và các điều kiện của quá trình huấn luyện
Trang 39Huấn luyện dùng clicker là phương pháp chọn lọc hành vi của chó, sử dụng sự củng cố tích cực tương đối, là một trong những cách phổ biến và hiệu quả trong huấn luyện dựa trên nhu cầu của động vật
Phương pháp clicker là cách huấn luyện dựa trên nhu cầu của bản thân phương pháp chọn lọc hành vi bằng sự củng cố tích cực, chủ yếu là củng cố bằng thức ăn, củng cố có điều kiện và củng cố tự nhiên
Đối với việc đào tạo chó để tìm kiếm thuốc nổ bằng mùi (tìm kiếm chất nổ), chuỗi các giai đoạn đào tạo clicker có thể được nhìn nhận như sau:
Giai đoạn 1 - Hình thành, củng cố phản ứng có điều kiện đối với việc bấm clicker;
Giai đoạn 2 - Cung cấp tín hiệu đối với mùi thuốc nổ;
Giai đoạn 3 - Hình thành hành vi báo hiệu (chỉ định tín hiệu) với mùi thuốc nổ; Giai đoạn 4 - Hình thành “kịch bản” cho hành vi tìm kiếm, tùy thuộc vào tình hình tìm kiếm; đưa vào kích thích hoặc mệnh lệnh ban đầu cho chó;
Giai đoạn 5 - Đưa tín hiệu cho mùi của thuốc nổ;
Giai đoạn 6 - Hoàn thiện và củng cố quy trình tìm kiếm trong các tình huống tìm kiếm khác nhau;
Giai đoạn 7 - Mở rộng các tình huống tìm kiếm và tăng độ khó của điều kiện tìm kiếm, tăng sức làm việc của chó
Trong đó, các giai đoạn 2 và 3 được kết hợp, tức là sự hình thành của hành vi báo hiệu xảy ra đồng thời với việc đưa ra một ý nghĩa tín hiệu cho mùi thuốc nổ, và giai đoạn 5 được chuyển đến một địa điểm thuận tiện có tính đến các yêu cầu cụ thể Sự hình thành hành vi tìm kiếm được thực hiện theo các phương pháp được chấp nhận chung
2.3.4.2 Phương pháp đánh giá chó bản địa dạng sói tìm kiếm, phát hiện bom mìn
a) Tình huống kiểm tra đánh giá
Trang 40Phạm vi thao trường có diện tích 100 x100 m được tạo thành khu vực
có xây dựng hàng rào đảm bảo, địa hình sườn dốc có các bụi cỏ và cây bụi sát với địa hình thực tế đã được khảo sát Trong thao trường được bố trí thành các bãi tập theo thứ tự từ 1 đến 5 Mỗi bãi tập tượng trưng cho một cụm bố trí mìn, ở các hướng khác nhau Ở đây mỗi bãi được căng dây với chia thành các làn với chiều rộng 40 cm, chiều dài 15 m, tổng 5 làn Trên mỗi bãi bố trí 3 vị trí mùi hơi cần tìm (mìn bộ binh M652A, K58, PPM-2) Các bãi cách nhau 10 – 15m Bằng kiến thức đã học và huấn luyện, cán bộ huấn luyện điều khiển chó tìm kiếm phát hiện vị trí các quả mìn trong bãi mìn đó
b) Điều kiện kiểm tra
- Thao trường có diện tích (100 x 100) m được tạo thành khu vực có xây dựng hàng rào đảm bảo Trong thao trường được bố trí thành các bãi tập theo thứ tự từ 1 đến 5
- Mỗi bãi bố trí 03 vị trí chôn giấu mìn;
- Nguồn hơi cần tìm là hơi thuốc nổ TNT có trong các quả mìn bộ binh;
- Độ sâu chôn giấu nguồn hơi cần tìm là 20 - 30cm; thời gian lưu giữ nguồn hơi trên 3 tháng (theo thuyết minh đề tài);
- Thời gian chó tìm kiếm không quá 10 phút (không tính thời gian xử lý mìn sau khi chó đã phát hiện được mìn);
- Mỗi cá thể chó tìm kiếm mìn 01 trong 05 bãi bốc thăm ngẫu nhiên;
- Cán bộ huấn luyện điều khiển chó bằng dây cương dài tìm kiếm phát hiện mìn trên thao trường
c) Chương trình kiểm tra
Tiến hành kiểm tra từng cá thể chó theo danh sách Các bước kiểm tra: + Gọi tên cán bộ và tên chó vào kiểm tra;
+ Cán bộ huấn luyện nghe lệnh gọi vào vị trí, chào báo cáo, xin phép được kiểm tra và thực hiện kiểm tra theo đề bài đã đề ra;
+ Khi thực hiện xong bài kiểm tra hoặc hết giờ quy định, cán bộ huấn luyện về vị trí báo cáo hội đồng và thực hiện theo hướng dẫn;
+ Hội đồng đưa ra nhận xét, đánh giá đối với từng cá thể chó