Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 10152:2013 quy định các phương pháp đo công suất tiêu thụ điện ở các chế độ chờ và chế độ công suất thấp khác (chế độ tắt và chế độ mạng) tùy theo từng trường hợp. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1TIÊU CHUẨN QUỐC GIA TCVN 10152:2013 IEC 62301:2011
THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG - ĐO CÔNG SUẤT Ở CHẾ ĐỘ CHỜ
Household electrical appliances - Measurement of standby power
Lời nói đầu
TCVN 10152:2013 hoàn toàn tương đương với IEC 62301:2011;
TCVN 10512:2013 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC/E1 Máy điện và khí cụ điện
biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố
Lời giới thiệu
Các phương pháp xác định trong tiêu chuẩn này dùng cho các chế độ công suất thấp Các phương pháp này không sử dụng để đo công suất tiêu thụ của các sản phẩm trong chế độ hoạt động (còn gọi là “on mode”) vì chúng thường nằm trong các tiêu chuẩn IEC hoặc tiêu chuẩn sản
phẩm khác (xem tài liệu viện dẫn) mặc dù vậy các kỹ thuật đo, xác định độ không đảm bảo đo và các yêu cầu kỹ thuật thử nghiệm có thể được chấp nhận cho những phép đo này nhưng cần xem xét cẩn thận
THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG - ĐO CÔNG SUẤT Ở CHẾ ĐỘ CHỜ
Household electrical appliances - Measurement of standby power
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định các phương pháp đo công suất tiêu thụ điện ở các chế độ chờ và chế
độ công suất thấp khác (chế độ tắt và chế độ mạng) tùy theo từng trường hợp Tiêu chuẩn
này áp dụng cho các sản phẩm điện có điện áp vào danh định hoặc dải điện áp vào danh định nằm hoàn toàn hoặc một phần trong dải từ 100 V xoay chiều đến 250 V xoay chiều đối với các sản phẩm một pha và từ 130 V xoay chiều đến 480 V xoay chiều đối với các sản phẩm khác.Mục đích của tiêu chuẩn này nhằm đưa ra phương pháp thử nghiệm để xác định công suất tiêu
thụ của một loạt sản phẩm ở chế độ công suất thấp liên quan (xem 3.4), thường là khi sản phẩm không ở chế độ hoạt động (tức là không thực hiện chức năng chính của nó).
CHÚ THÍCH 1: Phép đo năng lượng tiêu thụ và tính năng của sản phẩm trong quá trình sử dụng
dự kiến thường được quy định trong các tiêu chuẩn sản phẩm liên quan mà không được đề cập trong tiêu chuẩn này
CHÚ THÍCH 2: Thuật ngữ “sản phẩm” trong tiêu chuẩn này nghĩa là sản phẩm sử dụng năng lượng ví dụ như thiết bị điện gia dụng hoặc thiết bị khác thuộc lĩnh vực của Ban kỹ thuật IEC/TC
59 Tính năng của thiết bị điện gia dụng và thiết bị điện tương tự Tuy nhiên, phương pháp đo có
thể áp dụng cho các sản phẩm khác
CHÚ THÍCH 3: Trong trường hợp tiêu chuẩn này được viện dẫn bởi các tiêu chuẩn tính năng
hoặc các qui trình thì các tiêu chuẩn hoặc qui trình này cần xác định và gọi tên các chế độ công suất thấp liên quan (xem 3.4) áp dụng cho qui trình thử nghiệm đó.
CHÚ THÍCH 4: Việc đưa các sản phẩm được cấp điện một chiều vào phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn này đang được xem xét
Tiêu chuẩn này không quy định yêu cầu về an toàn Tiêu chuẩn này không quy định các yêu cầu
về tính năng tối thiểu và cũng không đặt ra các giới hạn tối đa về công suất hoặc năng lượng tiêu thụ
Trang 22 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau là cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng bản được nêu Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì
áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi
TCVN 8095-300 (IEC 60050-300), Từ vựng kỹ thuật điện quốc tế - Chương 300: Phép đo và dụng cụ đo điện và điện tử
IEC 60050-131, International Electrotechnical Vocabulary (IEV) - Part 131: Circuit theory (Từ vựng kỹ thuật điện quốc tế (IEV) - Phần 131: Lý thuyết mạch)
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này áp dụng các thuật ngữ và định nghĩa có trong IEC 60050-131 và TCVN 8095-300 (IEC 60050-300) và các thuật ngữ và định nghĩa dưới đây
3.1 Chức năng (function)
Hoạt động đã xác định trước được thực hiện bởi sản phẩm sử dụng năng lượng Chức năng có
thể được điều khiển bởi sự tương tác của người sử dụng, của hệ thống kỹ thuật khác, của bản thân hệ thống, từ các đầu vào đo được từ môi trường và/hoặc thời gian
Trong tiêu chuẩn này, chức năng được chia làm 4 loại chính:
● chức năng phụ do người sử dụng định hướng (xem 3.6 - chế độ chờ)
● chức năng phụ liên quan đến mạng (xem 3.7 - chế độ mạng)
● chức năng chính (xem 3.8 - chế độ hoạt động, không phải là trọng tâm của tiêu chuẩn này)
● các chức năng khác (các chức năng này không ảnh hưởng đến việc phân loại chế độ)
CHÚ THÍCH: Danh mục các chức năng điển hình của các sản phẩm được đề cập trong Phụ lục
A Việc ghi lại chính xác và lập tài liệu các chức năng trong chế độ sản phẩm liên quan là yếu
tố then chốt về lập tài liệu trong tiêu chuẩn này (xem 6.3) Các loại chức năng thường được
phân loại là chính hoặc phụ (từ xa, mạng, cảm biến và bảo vệ)
3.2 Chế độ (mode)
Trạng thái không có chức năng, có một chức năng hoặc kết hợp của nhiều chức năng.
CHÚ THÍCH 1: Việc phân loại chế độ công suất thấp trong tiêu chuẩn này nhằm cung cấp hướng dẫn để xây dựng các định nghĩa về chế độ cụ thể cho các sản phẩm.
CHÚ THÍCH 2: Phụ lục A đưa ra hướng dẫn về các chế độ có thể có trong các cấu hình và thiết
kế sản phẩm khác nhau dựa trên mạch điện và sơ đồ bố trí của chúng nhưng không xác định các
chế độ này Phụ lục A cũng đưa ra cơ sở và hướng dẫn cho người sử dụng tiêu chuẩn này liên quan đến việc xây dựng các định nghĩa về chế độ cho các sản phẩm cụ thể.
CHÚ THÍCH 3: Xem Phụ lục C về các ví dụ cách tính tổng năng lượng tiêu thụ từ các phép đo
công suất khi đã biết thời gian của từng chế độ.
3.3 Chế độ sản phẩm (product mode)
Chế độ trong đó có các chức năng, nếu có, và việc chúng có được kích hoạt hay không phụ
thuộc vào cấu hình cụ thể của sản phẩm
CHÚ THÍCH: Việc đặt tên gọi thích hợp cho các chế độ sản phẩm là một vấn đề đối với các ban
kỹ thuật khi xây dựng tiêu chuẩn cho các sản phẩm liên quan Mặc dù tên gọi của chế độ sản phẩm thường phản ánh các chức năng được kích hoạt nhưng chúng không nhất thiết phải có các thuật ngữ “chờ” hoặc “mạng” ngay cả trong trường hợp chế độ sản phẩm nằm trong các loại chế độ này.
3.4 Chế độ công suất thấp (low power mode)
Chế độ sản phẩm thuộc một trong các loại chế độ sau:
Trang 3CHÚ THÍCH 2: Các loại chế độ công suất thấp được xác định để đưa ra hướng dẫn cho người
sử dụng tiêu chuẩn này và để đưa ra một khung nhất quán cho việc xây dựng các chế độ công suất thấp.
CHÚ THÍCH 3: Bất kỳ việc chuyển đổi nào xảy ra giữa các chế độ, do sự can thiệp của người sử dụng hoặc tự động, đều không được xem là một chế độ.
CHÚ THÍCH 4: Không phải tất cả các loại chế độ công suất thấp đều có trên mọi sản phẩm Một số sản phẩm có thể có nhiều hơn một chế độ sản phẩm trong mỗi loại chế độ công suất thấp với việc kết hợp khác nhau các chức năng được kích hoạt Công suất tiêu thụ trong từng chế độ công suất thấp phụ thuộc vào thiết kế của sản phẩm và các chức năng được kích hoạt trong chế độ sản phẩm cụ thể.
3.5 Chế độ tắt (off mode)
Chế độ sản phẩm bất kỳ trong đó sản phẩm sử dụng năng lượng được nối vào nguồn công suất lưới và không cung cấp bất kỳ chức năng nào ở chế độ chờ, chế độ mạng hoặc chế độ hoạt động và ở đó chế độ này thường được duy trì Bộ chỉ thị chỉ để chỉ ra cho người sử dụng rằng sản phẩm đang ở vị trí tắt thuộc phân loại của chế độ tắt.
CHÚ THÍCH: Hướng dẫn về các chế độ và chức năng được nêu trong Phụ lục A.
3.6 Chế độ chờ (standby mode)
Chế độ sản phẩm bất kỳ trong đó sản phẩm sử dụng năng lượng được nối vào nguồn lưới và cho một hoặc nhiều chức năng được người sử dụng định hướng dưới đây hoặc chức năng bảo
vệ mà thường được duy trì
● tạo thuận lợi cho việc kích hoạt các chế độ khác (kể cả kích hoạt hoặc không kích hoạt chế độ hoạt động) bằng cơ cấu đóng cắt từ xa (kể cả bộ điều khiển từ xa), cảm biến bên trong, bộ định
thời gian;
● chức năng liên tục: hiển thị thông tin hoặc hiển thị trạng thái kể cả đồng hồ;
● chức năng liên tục: các chức năng dựa vào cảm biến
CHÚ THÍCH: Hướng dẫn về chế độ và chức năng có trong Phụ lục A Bộ định thời gian là chức năng đồng hồ liên tục (có thể kết hợp hoặc không kết hợp bộ hiển thị) cung cấp các nhiệm vụ
được lập lịch trình đều đặn (ví dụ như đóng cắt) và hoạt động liên tục
3.7 Chế độ mạng (network mode)
Chế độ sản phẩm bất kỳ trong đó sản phẩm sử dụng năng lượng được nối vào nguồn lưới và ít nhất có một chức năng mạng được kích hoạt (ví dụ như kích hoạt lại thông qua yêu cầu mạng hoặc truyền thông tích hợp mạng) nhưng trong đó chức năng chính không hoạt động.
CHÚ THÍCH: Trong trường hợp có chức năng mạng nhưng không hoạt động và/hoặc không được nối vào mạng thì không áp dụng chế độ này Chức năng mạng có thể hoạt động một cách
gián đoạn theo lịch trình cố định hoặc để đáp ứng với yêu cầu mạng "Mạng’’ trong trường hợp này bao gồm sự giao tiếp giữa hai hoặc nhiều cơ cấu hoặc sản phẩm riêng rẽ được cấp nguồn độc lập Mạng không bao gồm một hoặc nhiều bộ điều khiển dành riêng cho một sản phẩm đơn
lẻ Chế độ mạng có thể gồm một hoặc nhiều chức năng chờ.
Trang 43.8 Chế độ hoạt động (active mode)
Chế độ sản phẩm trong đó sản phẩm sử dụng năng lượng được nối vào nguồn lưới và ít nhất một chức năng chính được kích hoạt.
CHÚ THÍCH: Các thuật ngữ thường được sử dụng như “bật”, “đang sử dụng” và “hoạt động bình
thường” cũng mô tả chế độ này.
3.9 Chế độ ngắt điện (disconnected mode)
Trạng thái trong đó tất cả các dây nối vào nguồn lưới của sản phẩm sử dụng năng lượng được tháo ra hoặc được gián đoạn
CHÚ THÍCH: Các thuật ngữ thường được sử dụng như “không cắm điện” hoặc “cắt nguồn lưới"
cũng mô tả chế độ này Chế độ này không thuộc loại chế độ công suất thấp.
3.10 Điện áp danh định (rated voltage)
(Dải) điện áp cung cấp được nhà chế tạo ấn định
3.11 Tần số danh định (rated frequency)
(Dài) tần số cung cấp được nhà chế tạo ấn định
3.12 Hướng dẫn sử dụng (instructions for use)
Thông tin cung cấp cho người sử dụng sản phẩm
CHÚ THÍCH: Hướng dẫn sử dụng có thể bao gồm sổ tay sử dụng và có thể ở dạng bản in hoặc
bản điện tử Hướng dẫn sử dụng không bao gồm các hướng dẫn mà nhà cung cấp sản phẩm cung cấp riêng cho phòng thử nghiệm cho mục đích thử nghiệm
4 Điều kiện chung của phép đo
4.1 Yêu cầu chung
Nếu không có quy định khác thì phải thực hiện phép đo trong các điều kiện thử nghiệm và với thiết bị đo được quy định ở các điều từ 4.2 đến 4.4
4.2 Phòng thử nghiệm
Các thử nghiệm phải được thực hiện trong phòng có vận tốc không khí bao quanh sản phẩm cần thử nghiệm 0,5 m/s Nhiệt độ môi trường xung quanh phải duy trì ở (23 ± 5) oC trong quá trình thử nghiệm
Trong trường hợp sản phẩm có bộ cảm biến ánh sáng môi trường xung quanh ảnh hưởng đến công suất tiêu thụ thì phải thực hiện thử nghiệm trong các điều kiện ánh sáng môi trường xung quanh có khống chế Trong trường hợp độ rọi được xác định từ bên ngoài (trong qui trình thử
nghiệm hoặc trong hướng dẫn sử dụng) thì phải sử dụng các giá trị này Trong trường hợp
không công bố hoặc không xác định các độ rọi thì sử dụng độ rọi chuẩn >300 Ix và <10 Ix
Thông tin về phương pháp sử dụng để đạt được các mức độ rọi trên, trong trường hợp có liên quan, phải được ghi lại trong báo cáo thử nghiệm (xem 6.3) Trong trường hợp đã cho các giá trị
về độ rọi thì chúng phải được đo càng gần càng tốt với bộ cảm biến ánh sáng của sản phẩm
CHÚ THÍCH: Công suất đo được đối với một số sản phẩm và các chế độ có thể bị ảnh hưởng
bởi các điều kiện môi trường xung quanh (ví dụ như độ rọi, nhiệt độ)
4.3 Nguồn công suất
4.3.1 Điện áp và tần số cung cấp
Trong trường hợp tiêu chuẩn này được tham chiếu trong tiêu chuẩn hoặc quy định quản lý khác
có quy định điện áp và tần số thử nghiệm thì điện áp và tần số thử nghiệm đó phải được sử dụng cho tất cả các thử nghiệm
Trong trường hợp điện áp và tần số thử nghiệm chưa được xác định trong tiêu chuẩn khác thì
Trang 5điện áp thử nghiệm và tần số thử nghiệm phải là điện áp danh nghĩa và tần số danh nghĩa của quốc gia thực hiện thử nghiệm với dung sai ± 1 % (xem Bảng 1).
CHÚ THÍCH: Có thể yêu cầu nguồn công suất ổn định để đáp ứng các yêu cầu này
Bảng 1 - Chi tiết về nguồn điện danh nghĩa điển hình cho một số khu vực
Quốc gia/Khu vực Điện áp danh nghĩa và tần số danh
dụ lò và máy sấy quần áo)
b “50 Hz” áp dụng cho phía Đông và “60 Hz” đối với phía Tây của Nhật Bản
CHÚ THÍCH: Điện áp danh nghĩa và tần số danh nghĩa của Việt Nam là 220 V, 50 Hz
4.3.2 Dạng sóng điện áp cung cấp
Thành phần hài tổng của điện áp cung cấp khi cung cấp cho sản phẩm cần thử nghiệm ở chế độ xác định không được vượt quá 2 % (đến và bằng hài bậc 13); thành phần hài được xác định là căn bậc hai của tổng bình phương (r.m.s.) của các thành phần hài riêng rẽ sử dụng thành phần
cơ bản là 100 % Giá trị của thành phần hài của điện áp cung cấp phải được ghi lại trong quá trình thử nghiệm và được ghi vào báo cáo (xem 6.3)
Ngoài ra, tỷ lệ giữa giá trị đỉnh và giá trị hiệu dụng của điện áp thử nghiệm (tức là hệ số đỉnh) khi cung cấp cho sản phẩm cần thử nghiệm phải nằm trong khoảng từ 1,34 đến 1,49
CHÚ THÍCH: Nguồn công suất đáp ứng IEC 61000-3-2 có nhiều khả năng đáp ứng các yêu cầu trên
4.4 Thiết bị đo công suất
CHÚ THÍCH: Nhiều đồng hồ đo công suất cũng có thể ghi lại thành phần hài như yêu cầu ở 4.3.2
4.4.1 Độ không đảm bảo đo của phép đo công suất
Mục này bao gồm các yêu cầu đối với độ không đảm bảo đo do thiết bị đo công suất gây ra khi thử nghiệm trên sản phẩm cần thử nghiệm kể cả các điện trở sun bên ngoài
Độ không đảm bảo đo cho phép lớn nhất của phép đo phụ thuộc vào cỡ tải và đặc tính tải Đặc tính then chốt của tải sử dụng để xác định độ không đảm bảo đo lớn nhất cho phép là tỷ số dòng điện lớn nhất (MCR), được tính như sau:
Tỷ số dòng điện lớn nhất (MCR) = Hệ số đỉnh (CF)
Hệ số công suất (PF)trong đó
● Hệ số đỉnh (CF) là dòng điện đỉnh đo được từ sản phẩm chia cho dòng điện hiệu dụng đo được
từ sản phẩm;
● Hệ số công suất (PF) là đặc tính của công suất do sản phẩm tiêu thụ Hệ số này là tỷ số giữa công suất thực tế đo được và công suất biểu kiến đo được
Trang 6a) Độ không đảm bảo đo cho phép đối với các giá trị MCR 10
Đối với các giá trị công suất đo được lớn hơn hoặc bằng 1,0 W, độ không đảm bảo đo tương đối cho phép lớn nhất do thiết bị đo công suất đưa vào, Umr, phải nhỏ hơn hoặc bằng 2 % giá trị công suất đo được ở mức tin cậy 95 %
Đối với các giá trị công suất đo được nhỏ hơn 1,0 W, độ không đảm bảo đo tuyệt đối cho phép lớn nhất do thiết bị đo công suất đưa vào, Uma, phải nhỏ hơn hoặc bằng 0,02 W ở mức tin cậy 95
%
b) Độ không đảm bảo đo cho phép đối với các giá trị MCR >10
Giá trị Upc phải được xác định theo công thức dưới đây:
CHÚ THÍCH 1: Tốt nhất là thiết bị đo công suất phát hiện, chỉ thị, tạo tín hiệu và ghi lại các điều kiện “ngoài dải” bất kỳ
CHÚ THÍCH 2: Xem Phụ lục D và hướng dẫn thể hiện độ không đảm bảo đo (GUM) để có mô tả chi tiết hơn
CHÚ THÍCH 3: Mặc dù yêu cầu kỹ thuật đối với đồng hồ đo công suất liên quan đến hệ số đỉnh cho phép không được đề cập ở đây nhưng điều quan trọng là dòng điện đỉnh của dạng sóng đo được không vượt quá dòng điện đỉnh đo được cho phép trong dải được chọn, nếu không thì sẽ không đạt được các yêu cầu về độ không đảm bảo đo ở trên Xem B.1.2 ví dụ về cách tính toán cho Upc và để có thêm thông tin
Đối với các sản phẩm được nối đến hai pha trở lên thì thiết bị đo công suất phải có khả năng đo công suất tổng của tất cả các pha được nối đến
Trong trường hợp công suất được đo bằng phương pháp năng lượng tích lũy (xem 5.3.3) thì độ không đảm bảo đo công suất tính được phải đáp ứng các yêu cầu trên
4.4.2 Đáp tuyến tần số trong phép đo công suất
Thiết bị đo công suất phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu ở 4.4.1 khi đo theo:
● điện một chiều
● điện xoay chiều với tần số nằm trong khoảng từ 10 Hz đến 2 000 Hz
CHÚ THÍCH: Nếu đồng hồ đo công suất có chứa bộ lọc giới hạn băng thông thì phải có khả năng lấy bộ lọc này ra được khỏi mạch đo
4.4.3 Yêu cầu lấy trung bình dài hạn trong phép đo công suất
Trong trường hợp cần thực hiện phép đo theo 5.3.3, dụng cụ đo công suất phải có khả năng:
- đo công suất trung bình trong khoảng thời gian hoạt động được chọn bất kỳ, hoặc
- tích phân năng lượng trong khoảng thời gian hoạt động được chọn bất kỳ
CHÚ THÍCH: Khả năng ghi dữ liệu (lấy mẫu) hoặc đầu ra đến một máy tính hoặc bộ ghi dữ liệu là khả năng mong muốn nhất theo yêu cầu ở 5.3.2 - xem B.2.5 để có thêm thông tin
Trang 75 Phép đo
5.1 Yêu cầu chung
Mục đích của phương pháp thử nghiệm này là xác định công suất tiêu thụ ở chế độ sản phẩm liên quan, thường được duy trì hoặc tồn tại trong một khoảng thời gian giới hạn Chế độ được xem là duy trì khi mức công suất là không đổi hoặc trong trường hợp có một vài mức công suất xuất hiện theo một trình tự đều đặn trong một khoảng thời gian không xác định
CHÚ THÍCH 1: Trong quá trình chuyển đổi từ một chế độ này sang chế độ khác (tự động hoặc do người sử dụng khởi động), một số thiết bị có thể chờ ở trạng thái công suất cao hơn trong khi các nhiệm vụ chuyển đổi được thực hiện hoặc các mạch điện được đóng hoặc ngắt điện, vì vậy
có thể phải mất một khoảng thời gian để chúng đi vào trạng thái ổn định
CHÚ THÍCH 2: Trong trường hợp chế độ sản phẩm này thay đổi tự động, đôi khi có thể cần tác
động đến sản phẩm thông qua một trình tự tự động trong một vài lần trên cơ sở thử để đảm bảo rằng trình tự này được thông hiểu hoàn toàn và được tài liệu hóa trước khi kết quả thử nghiệm
được ghi lại và được báo cáo lại Trình tự của các chế độ sản phẩm riêng rẽ cũng có thể thể
hiện một dạng đồ thị đều đặn của các mức công suất đang diễn ra Xem Phụ lục B để có hướng dẫn thêm
CHÚ THÍCH 3: Mặc dù các chế độ thời gian giới hạn có thể được lập thành tài liệu bằng cách sử dụng các phép đo trong tiêu chuẩn này thì các kết quả cho các chế độ này cần được báo cáo ở dạng năng lượng tiêu thụ (Wh) và thời gian Chế độ sản phẩm ổn định cần được duy trì mà
không có sự can thiệp của người sử dụng
5.2 Chuẩn bị sản phẩm
Thử nghiệm trong tiêu chuẩn này được thực hiện trên một sản phẩm đơn lẻ
Sản phẩm phải được chuẩn bị và bố trí theo hướng dẫn sử dụng trừ khi có mâu thuẫn với yêu
cầu của tiêu chuẩn này và/hoặc tiêu chuẩn tính năng của sản phẩm liên quan Nếu không có
hướng dẫn sử dụng thì phải sử dụng các chế độ đặt của nhà máy hoặc chế độ “mặc định" hoặc
trong trường hợp không có chỉ dẫn cho các chế độ đặt này thì sản phẩm được thử nghiệm như được cung cấp
CHÚ THÍCH: Tiêu chuẩn sản phẩm thích hợp có thể là, ví dụ IEC 60436 (máy rửa bát) hoặc IEC
60456 (máy giặt)
Một khi sản phẩm đã được chọn và sẵn sàng để thử nghiệm thì phải theo các bước dưới đây và lập tài liệu trong báo cáo thử nghiệm nếu áp dụng:
- lấy sản phẩm ra khỏi bao gói (nếu có);
- đọc hướng dẫn sử dụng và thiết lập cấu hình sản phẩm theo các hướng dẫn đó;
- xác định xem sản phẩm có chứa bộ cảm biến ảnh hưởng đến kết quả đo hay không, ví dụ cảm biến ánh sáng môi trường xung quanh;
- xác định xem sản phẩm có chứa pin/acqui và sản phẩm có chứa mạch để nạp lại pin/acqui nạp lại được hay không Phải xác định xem có điều khoản pháp lý nào quy định các điều kiện cần áp dụng trong trường hợp này hay không, nếu không có thì phải áp dụng như dưới đây Đối với sản phẩm có chứa mạch nạp lại, công suất tiêu thụ ở:
● chế độ tắt và chế độ chờ phải được đo sau khi đã thực hiện các phòng ngừa để đảm bảo
rằng pin/acqui không được nạp trong khi thử nghiệm, ví dụ bằng cách lấy pin/acqui ra, trong trường hợp có thể, hoặc đảm bảo rằng pin/acqui được nạp đầy nếu pin/acqui không lấy ra được;
● chế độ duy trì phải được đo với pin/acqui được lắp và nạp đầy trước khi thực hiện các phép đo
bất kỳ
- tham chiếu qui trình thử nghiệm sản phẩm liên quan, yêu cầu bên ngoài (ví dụ quy định kỹ
thuật) hoặc hướng dẫn sử dụng quy định (các) chế độ sản phẩm cần thử nghiệm (trong trường hợp áp dụng) Các chế độ sản phẩm được thử nghiệm cần liên quan đến khách hàng và
Trang 8đại diện cho việc sử dụng bình thường dự kiến Trong trường hợp hướng dẫn sử dụng đưa ra các lựa chọn cấu hình thì từng lựa chọn liên quan cần được thử nghiệm riêng rẽ (Các) chế độ hoạt động cần được đo theo tiêu chuẩn tính năng liên quan đối với sản phẩm;
- thực hiện thử nghiệm trên các chế độ sản phẩm liên quan theo 5.3;
- phân loại từng chế độ trong các chế độ sản phẩm được thử nghiệm thành một trong các loại chế độ công suất thấp (xem 3.4) hoặc chế độ khác nếu thuộc đối tượng áp dụng.
5.3 Qui trình
5.3.1 Yêu cầu chung
Trong phạm vi của tiêu chuẩn này, công suất tiêu thụ phải được xác định bằng:
- phương pháp lấy mẫu: bằng cách sử dụng thiết bị để ghi các số đo công suất ở các khoảng thời gian đều đặn trong suốt thời gian đo (xem 5.3.2) Lấy mẫu là phương pháp ưu tiên của phép
đo cho tất cả các chế độ và các loại sản phẩm trong tiêu chuẩn này Đối với các chế độ trong đó công suất thay đổi theo chu kỳ hoặc không ổn định hoặc các chế độ có thời gian giới hạn thì lấy
mẫu là phương pháp đo duy nhất cho phép trong tiêu chuẩn này; hoặc
- phương pháp số đọc trung bình: trong trường hợp giá trị công suất là ổn định và chế độ ổn định, bằng cách lấy trung bình các số đọc công suất của thiết bị đo trong khoảng thời gian quy định hoặc, một cách khác, bằng cách ghi lại năng lượng tiêu thụ trong khoảng thời gian xác định
và chia cho thời gian (xem 5.3.3 để có mô tả chi tiết khi nào phương pháp này có hiệu lực); hoặc
- phương pháp lấy số đọc trực tiếp trên đồng hồ đo: trong trường hợp giá trị công suất là ổn định
và chế độ ổn định, bằng cách ghi lại số đọc công suất trên thiết bị đo (xem 5.3.4 để có mô tả chi
tiết khi nào phương pháp này có hiệu lực)
CHÚ THÍCH: Việc xác định công suất trung bình từ năng lượng tích lũy trong một khoảng thời
gian là tương đương Bộ tích lũy năng lượng được sử dụng phổ biến hơn các chức năng lấy
trung bình công suất trong một khoảng thời gian do người vận hành xác định
5.3.2 Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp luận này phải được sử dụng trong trường hợp công suất không ổn định (chu kỳ
hoặc không ổn định) hoặc chế độ có thời gian giới hạn Phương pháp này cũng đưa ra phương pháp thử nghiệm nhanh nhất khi chế độ là ổn định Tuy nhiên, cũng có thể sử dụng phương pháp luận này cho tất cả các chế độ và là phương pháp tiếp cận được khuyến cáo cho tất cả
các phép đo trong tiêu chuẩn này Nên sử dụng phương pháp này nếu có nghi ngờ liên quan đến
đáp ứng của sản phẩm hoặc độ ổn định của chế độ.
Nối sản phẩm vào nguồn công suất và thiết bị đo công suất Chọn chế độ sản phẩm cần đo (việc này có thể đòi hỏi một chuỗi các thao tác, kể cả việc chờ cho sản phẩm tự động vào chế độ
mong muốn) và bắt đầu ghi công suất Số đọc công suất cùng với các tham số then chốt khác như điện áp, dòng điện phải được ghi lại ở các khoảng thời gian bằng nhau và không quá 1 s với giai đoạn nhỏ nhất quy định
CHÚ THÍCH 1: Thu thập dữ liệu ở các khoảng thời gian bằng nhau bằng 0,25 s hoặc nhanh hơn được khuyến cáo cho các tải không ổn định hoặc trong trường hợp có thăng giáng công suất đều hoặc không đều
Trong trường hợp công suất tiêu thụ trong một chế độ là không chu kỳ thì công suất trung bình
được đánh giá như sau:
- sản phẩm phải được đóng điện trong ít nhất 15 min; giá trị này là thời gian tổng;
- dữ liệu bất kỳ từ một phần ba đầu tiên của thời gian tổng luôn được bỏ qua Dữ liệu ghi được ở hai phần ba còn lại của thời gian tổng được sử dụng để đánh giá độ ổn định;
- thiết lập độ ổn định phụ thuộc vào công suất trung bình ghi được trong hai phần ba còn lại của thời gian tổng Đối với các công suất đầu vào nhỏ hơn hoặc bằng 1 W, độ ổn định được thiết lập khi đường hồi quy tuyến tính đi qua tất cả các số đọc công suất đối với hai phần ba còn lại của
Trang 9thời gian tổng có độ dốc nhỏ hơn 10 mW/h Đối với công suất vào lớn hơn 1 W, độ ổn định được thiết lập khi đường hồi quy tuyến tính đi qua tất cả các số đọc công suất đối với hai phần ba còn lại của thời gian tổng có độ dốc nhỏ hơn 1 % của công suất đầu vào đo được trong một giờ.
- trong trường hợp thời gian tổng bằng 15 min không thỏa mãn các tiêu chí ổn định ở trên thì thời gian tổng được kéo dài liên tục cho đến khi đạt được các tiêu chí liên quan ở trên (trong hai phần
ba còn lại của thời gian tổng)
- khi đạt được ổn định thì kết quả được lấy là công suất trung bình tiêu thụ trong hai phần ba còn lại của thời gian tổng
CHÚ THÍCH 2: Nếu không thể đạt được ổn định trong thời gian tổng bằng 3 h thì dữ liệu thô cần được đánh giá để xem có xuất hiện dạng chu kỳ hoặc tuần hoàn hay không
Các chế độ được biết đến là không chu kỳ và có công suất tiêu thụ biến đổi (dựa vào hướng dẫn sử dụng, yêu cầu kỹ thuật hoặc phép đo) phải được ghi lại trong thời gian đủ dài để trung
bình tích lũy của tất cả các điểm dữ liệu lấy được trong hai phần ba còn lại của thời gian tổng
nằm trong phạm vi bằng ±0,2 % Khi thử nghiệm các chế độ này, thời gian tổng không được nhỏ
hơn 60 min
Trong trường hợp công suất tiêu thụ trong một chế độ là chu kỳ (tức là một trình tự đều đặn các
trạng thái công suất xuất hiện trong vài phút hoặc vài giờ), công suất trung bình trong tối thiểu bốn chu kỳ hoàn chỉnh được đánh giá như sau:
- sản phẩm phải được đóng điện trong thời gian vận hành ban đầu không nhỏ hơn 10 min Dữ liệu trong thời gian này không được sử dụng để đánh giá công suất tiêu thụ của sản phẩm;
- sau đó, đóng điện cho sản phẩm trong thời gian đủ để bao trùm hai giai đoạn so sánh, mỗi giai đoạn phải bao gồm không ít hơn hai chu kỳ và có thời gian không nhỏ hơn 10 min (các giai đoạn
so sánh phải có số chu kỳ bằng nhau);
- tính công suất trung bình cho từng giai đoạn so sánh;
- tính điểm giữa trong thời gian của từng giai đoạn so sánh, tính bằng giờ;
- độ ổn định được thiết lập khi chênh lệch công suất giữa hai giai đoạn so sánh chia cho chênh lệch thời gian của các điểm giữa của các giai đoạn so sánh có độ dốc nhỏ hơn:
● 10 mW/h, đối với các sản phẩm có công suất vào nhỏ hơn hoặc bằng 1 W; hoặc
● 1 % công suất vào đo được trong một giờ đối với các sản phẩm có công suất vào lớn hơn 1 W
- trong trường hợp tiêu chí ổn định nêu trên không được thỏa mãn thì thêm số lượng bằng nhau các chu kỳ bổ sung vào từng giai đoạn so sánh cho đến khi đạt được tiêu chí liên quan nêu trên;
- khi đạt được ổn định, công suất được xác định là giá trị trung bình của tất cả các số đọc từ cả hai giai đoạn so sánh
Trong trường hợp các chu kỳ không ổn định hoặc không đều, phải đo đủ dữ liệu để định rõ đủ
đặc điểm công suất tiêu thụ của chế độ (nên sử dụng tối thiểu 10 chu kỳ).
CHÚ THÍCH 3: Trong mọi trường hợp, công suất trong giai đoạn ghi dữ liệu cần được thể hiện ở dạng đồ thị để hỗ trợ thiết lập giai đoạn khởi động, giai đoạn có dạng chu kỳ, giai đoạn không ổn định và giai đoạn ổn định
Các chế độ được biết đến là có thời gian giới hạn (dựa vào hướng dẫn sử dụng, yêu cầu kỹ thuật hoặc phép đo) phải được ghi lại trong toàn bộ thời gian của chúng Kết quả cho các chế độ
này phải được ghi vào báo cáo là năng lượng tiêu thụ (Wh) và thời gian cùng với công bố rằng
chế độ có thời gian giới hạn.
CHÚ THÍCH 4: Không yêu cầu sản phẩm hoạt động trong một khoảng thời gian ban đầu nhỏ nhất trước khi các số đo dữ liệu được ghi lại khi thực hiện thử nghiệm nêu trên
Đối với các sản phẩm trong đó một chuỗi các chế độ sản phẩm riêng rẽ xuất hiện ở dạng đều đặn thì mức công suất cho từng chế độ phải được xác định theo điều này và lập tài liệu trình tự
Trang 10và thời gian đã biết của từng chế độ theo dạng này Xem Phụ lục B để có hướng dẫn thêm 5.3.3 Phương pháp số đọc trung bình
Phương pháp này không cho phép đối với các tài chu kỳ hoặc các chế độ thời gian giới hạn.CHÚ THÍCH 1: Có thể rút ngắn khoảng thời gian đo bằng cách sử dụng phương pháp lấy mẫu - xem 5.3.2
Nối sản phẩm vào nguồn công suất và thiết bị đo công suất Chọn chế độ sản phẩm cần đo (việc này có thể đòi hỏi một chuỗi các thao tác và có thể cần chờ cho sản phẩm tự động vào chế
độ mong muốn) và theo dõi công suất Sau khi sản phẩm được ổn định trong ít nhất 30 min,
đánh giá độ ổn định của hai giai đoạn đo liền kề Công suất trung bình trong các giai đoạn đo
được xác định bằng cách sử dụng phương pháp công suất trung bình hoặc phương pháp năng lượng tích lũy như sau:
- chọn hai giai đoạn so sánh, từng giai đoạn không nhỏ hơn 10 min (các giai đoạn phải có thời gian xấp xỉ nhau), ghi lại thời gian bắt đầu và khoảng thời gian của từng giai đoạn;
- xác định công suất trung bình của từng giai đoạn so sánh;
- độ ổn định được thiết lập khi chênh lệch công suất giữa hai giai đoạn so sánh chia cho chênh lệch thời gian của các điểm giữa của các giai đoạn so sánh có độ dốc nhỏ hơn:
● 10 mW/h, đối với các sản phẩm có công suất vào nhỏ hơn hoặc bằng 1 W; hoặc
● 1 % công suất vào đo được trong một giờ đối với các sản phẩm có công suất vào lớn hơn 1 W
- trong trường hợp các tiêu chí ổn định nêu trên không được thỏa mãn thì thêm các giai đoạn dài hơn có thời gian xấp xỉ nhau cho đến khi đạt được các tiêu chí liên quan nêu trên;
- khi đạt được ổn định, công suất được xác định là trung bình của tất cả các số đọc từ cả hai giai đoạn so sánh;
- trong trường hợp không thể đạt được ổn định với các giai đoạn so sánh có thời gian 30 min cho từng giai đoạn thì phải sử dụng phương pháp lấy mẫu ở 5.3.2
Cách tiếp cận công suất trung bình: trong trường hợp thiết bị đo công suất có thể ghi lại công
suất trung bình thực trong giai đoạn do người sử dụng chọn, giai đoạn được chọn không được nhỏ hơn 10 min
Cách tiếp cận năng lượng tích lũy: trong trường hợp thiết bị đo công suất có thể đo năng
lượng trong giai đoạn được chọn thì giai đoạn được chọn đó không được nhỏ hơn 10 min Giai đoạn tích phân phải sao cho tổng giá trị ghi được về năng lượng và thời gian lớn hơn 200 lần độ phân giải của đồng hồ đo năng lượng và thời gian Xác định công suất trung bình bằng cách chia năng lượng tích lũy cho thời gian trong khoảng thời gian quan sát
CHÚ THÍCH 2: Để đảm bảo các đơn vị là nhất quán, nên sử dụng oát-giờ và giờ để cho kết quả
5.3.4 Phương pháp số đọc trực tiếp từ đồng hồ đo
Phương pháp số đọc trực tiếp từ đồng hồ đo chỉ có thể được sử dụng trong trường hợp chế độ không thay đổi và số đọc công suất hiển thị trên thiết bị đo là ổn định Phương pháp này không được sử dụng cho mục đích chứng nhận Trong trường hợp có nghi ngờ, bất kỳ kết quả nào sử dụng các phương pháp ở 5.3.2 hoặc 5.3.3 đều được ưu tiên hơn các kết quả sử dụng phương
Trang 11pháp này.
CHÚ THÍCH 1: Có thể rút ngắn khoảng thời gian đo bằng cách sử dụng phương pháp lấy mẫu - xem 5.3.2
Công suất tiêu thụ sử dụng phương pháp số đọc trực tiếp được đánh giá như sau:
- nối sản phẩm cần thử nghiệm vào nguồn công suất và thiết bị đo công suất rồi chọn chế độ sản phẩm cần đo;
- cho sản phẩm hoạt động trong ít nhất 30 min Nếu công suất được xem là ổn định thì lấy số đọc trong phép đo công suất từ thiết bị đo Nếu số đọc vẫn biến đổi thì kéo dài giai đoạn 30 min cho đến khi được xem là ổn định;
- sau một khoảng thời gian không nhỏ hơn 10 min, lấy số đọc bổ sung trong phép đo công suất
và ghi lại thời gian giữa các số đọc trong phép đo công suất, tính bằng giờ;
- kết quả là trung bình của hai số đọc với điều kiện là chênh lệch công suất giữa hai số đọc chia cho khoảng thời gian giữa hai lần đọc nhỏ hơn:
● 10 mW/h, đối với các sản phẩm có công suất vào nhỏ hơn hoặc bằng 1 W; hoặc
● 1 % công suất vào đo được trong một giờ đối với các sản phẩm có công suất vào lớn hơn 1 W
- trong trường hợp tiêu chí liên quan nêu trên không đáp ứng thì không được sử dụng phương pháp số đọc trực tiếp trên đồng hồ đo
6 Báo cáo thử nghiệm
6.1 Mô tả chi tiết sản phẩm
Các thông tin dưới đây phải được ghi lại trong báo cáo thử nghiệm:
● Nhãn hiệu, model, kiểu và số seri
● Mô tả sản phẩm, nếu thích hợp
● (Các) điện áp danh định và (các) tần số danh định
● Thông tin chi tiết về nhà chế tạo được ghi nhãn trên sản phẩm (nếu có)
● Nguồn thông tin được sử dụng để thiết lập các chế độ sản phẩm (hướng dẫn sử dụng) và luận chứng kỹ thuật, nếu thuộc đối tượng áp dụng, liên quan đến việc chọn các chế độ được đo
và chế độ bị loại trừ bất kỳ.
Trong trường hợp sản phẩm có nhiều chức năng hoặc có các tùy chọn để đưa thêm vào các mô
đun bổ sung hoặc phụ kiện bổ sung thì cấu hình của thiết bị khi thử nghiệm phải được ghi vào báo cáo
6.2 Tham số thử nghiệm
Các giá trị dưới đây phải đạt được và được ghi lại trong khi thử nghiệm Nếu các giá trị này thay đổi trong khi thử nghiệm thì phải ghi các giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất
● Nhiệt độ môi trường xung quanh (°C)
● (Các) điện áp thử nghiệm (V) và (các) tần số thử nghiệm (Hz)
● Méo hài tổng của hệ thống cung cấp điện
● Thông tin và tài liệu về thiết bị đo, bố trí thiết bị và mạch điện được dùng cho thử nghiệm về điện
6.3 Dữ liệu đo được, đối với từng chế độ sản phẩm khi áp dụng
Các thông tin dưới đây phải được ghi lại trong báo cáo thử nghiệm:
● mô tả chế độ sản phẩm và lập tài liệu về các chức năng do người sử dụng định hướng và các chức năng hoạt động khác và mô tả cách kích hoạt chế độ;
Trang 12● trình tự các sự kiện để đạt được chế độ đó trong trường hợp thiết bị tự động thay đổi chế độ.
● công suất trung bình tính bằng oát được làm tròn đến số thập phân thứ hai Đối với tải lớn hơn hoặc bằng 10 W, phải ghi vào báo cáo tối thiểu là đến ba chữ số có nghĩa
● độ không đảm bảo đo tính được của kết quả do thiết bị đo (Ue) (xem Phụ lục D) và kết quả có phù hợp với 4.4.1 hay không;
● phương pháp đo được sử dụng (xem 5.3.2, 5.3.3 hoặc 5.3.4) Trong trường hợp 5.3.3, cần chỉ
ra xem sử dụng cách tiếp cận công suất trung bình hay năng lượng tích lũy;
● khoảng thời gian lấy mẫu, thời gian tổng của các phép đo và giai đoạn ổn định (5.3.2 nếu thuộc đối tượng áp dụng);
● năng lượng tích lũy và khoảng thời gian đo (giây/phút/giờ) (5.3.3 nếu thuộc đối tượng áp dụng);
● năng lượng và thời gian của bất kỳ chế độ có thời gian giới hạn nào Lập tài liệu mô tả dạng
đồ thị (hoặc các dạng đồ thị) đối với chế độ tự động lặp lại theo trình tự;
● lưu ý bất kỳ liên quan đến hoạt động của sản phẩm;
● ghi lại các điều kiện môi trường xung quanh như mức độ chói trong khi đo trong trường hợp các mức độ chói này ảnh hưởng đến số đọc công suất;
● phân loại chế độ sản phẩm đo được thành một trong các loại chế độ liên quan trong Điều 3, hoặc chế độ khác nếu thuộc đối tượng áp dụng.
CHÚ THÍCH 1: Công suất biểu kiến (VA), hệ số công suất thực và hệ số đỉnh đều là các tham số hữu ích và nên đưa vào báo cáo thử nghiệm Nên thể hiện các dữ liệu thu thập được bằng cách lấy mẫu ở dạng đồ thị
CHÚ THÍCH 2: Khuyến cáo rằng độ không đảm bảo đo tổng của kết quả (Utotal) cũng cần tính toán và ghi vào báo cáo (xem Phụ lục D)
6.4 Mô tả chi tiết thử nghiệm và phòng thử nghiệm
Các thông tin dưới đây phải được ghi lại trong báo cáo thử nghiệm:
● số hiệu/tham chiếu của báo cáo thử nghiệm
CHỌN
A.1 Yêu cầu chung
Khi các tiểu ban kỹ thuật hoặc các nhóm làm việc tham khảo tiêu chuẩn này thì điều quan trọng
là đặt ra các tên gọi cho các chế độ sản phẩm trong phạm vi các loại được xác định để phản ánh các chức năng liên quan hiện có và đang vận hành.
Tiêu chuẩn này là một qui trình đo cho các chế độ công suất thấp và không đủ để đưa ra một
sự ước lượng cho tổng năng lượng tiêu thụ Các vấn đề như thói quen của người sử dụng, cũng
như các lưu ý liên quan đến tần số và thời gian của từng chế độ công suất thấp có thể có cùng với chế độ hoạt động và chế độ ngắt điện là cần thiết để xác định năng lượng tiêu thụ nhưng
không phải là đối tượng của tiêu chuẩn này
Trang 13A.2 Chế độ sản phẩm
Sản phẩm có thể có hoặc không có từng chế độ được xác định và có thể có nhiều hơn một trong các chế độ liên quan Thông tin về các chức năng được đề cập ở A.3.
Chế độ ngắt điện được đưa vào định nghĩa vì nhiều sản phẩm được người sử dụng ngắt ra khỏi
nguồn lưới trong một khoảng thời gian đáng kể Năng lượng tiêu thụ (từ lưới) ở trạng thái này tất
nhiên là bằng zero và tiêu chuẩn này không qui định các phép đo Tuy nhiên, thông thường chế
độ này phụ thuộc vào người sử dụng (thói quen và thực tế) và chỉ được tính đến khi nó có tác
động nào đó đến năng lượng tiêu thụ tổng của sản phẩm trong các trường hợp khi quan tâm đến năng lượng tiêu thụ tổng này
Sản phẩm có thể có một số chế độ tắt hoặc có thể không có chế độ tắt Cơ cấu đóng cắt trên
sản phẩm được ghi nhãn là nguồn điện, bật/tắt hoặc chờ có thể không phản ánh sự phân loại
chế độ dựa trên các chức năng hoạt động thực tế ở chế độ đó.
Việc có cơ cấu đóng cắt (bằng công nghệ bất kỳ) đặt trên sản phẩm không được xem là chức năng (do người sử dụng định hướng) trong các chế độ chờ Cơ cấu đóng cắt từ xa (không nằm
trên sản phẩm) (ví dụ, cơ cấu điều khiển từ xa, cơ cấu đóng cắt từ xa có điện áp thấp) cần được
xem là chức năng hoạt động từ xa và vì vậy, thường là một phần của chế độ chờ Ngoại lệ là
khi cơ cấu đóng cắt từ xa tác động ở điện áp lưới bằng cách điều khiển nguồn lưới đến sản
phẩm; trong trường hợp này, đây được xem là chế độ ngắt điện Việc có mặt các thành phần để tạo điều kiện thuận lợi cho tương thích điện từ (EMC) không được xem là chức năng do người
sử dụng định hướng và không liên quan đến việc xác định chế độ sản phẩm.
Các chức năng liên quan đến lưu giữ bộ nhớ và lịch sử sử dụng, ưu tiên của người sử dụng, v.v không được xem là chức năng trong chế độ chờ vì các chức năng này cần được giữ lại trong chế độ tắt, trong thời gian ngừng cấp điện và trong chế độ ngắt điện (ví dụ lưu giữ trong
bộ nhớ không thay đổi được)
Các chức năng không phải là bảo vệ và/hoặc không thể kiểm chứng (ví dụ trong hướng dẫn sử dụng hoặc thông tin) không được xem là chức năng trong chế độ chờ.
Trong chế độ mạng, cần cẩn thận để đảm bảo rằng mạng có cấu hình đúng là sẵn có và được nối đến sản phẩm khi thử nghiệm để đạt được phép đo chính xác về công suất tiêu thụ trong chế
độ này Cần cẩn thận trong các chế độ này vì có thể có một số mức công suất (ví dụ công suất
có thể bị ảnh hưởng bởi tốc độ nối mạng hoặc số lượng và kiểu đấu nối mạng) Công suất tiêu
thụ cũng có thể thay đổi theo chu kỳ trong các chế độ này Đối với mạng không dây, có thể có
sự chênh lệch trong công suất tiêu thụ giữa cơ cấu không dây đang tìm kết nối (đang nghe) và trường hợp đấu nối mạng đã thực sự được thiết lập Trong môi trường mạng, điều quan trọng là cân nhắc xem năng lượng tiêu thụ của sản phẩm tiêu thụ năng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi thiết kế sản phẩm và tương tác của người sử dụng cũng như tương tác của mạng
Trong hầu hết các trường hợp, năng lượng tiêu thụ trong chế độ hoạt động là phức tạp và đòi
hỏi phân tích chi tiết chu kỳ làm việc của sản phẩm cùng với sự ảnh hưởng do tương tác bất kỳ của người sử dụng và dãy các nhiệm vụ chung Trong nhiều trường hợp có sẵn các tiêu chuẩn
sản phẩm cụ thể đề cập đến năng lượng tiêu thụ trong chế độ hoạt động và cần được viện dẫn
trong trường hợp sẵn có Tuy nhiên, ban kỹ thuật về sản phẩm có thể quyết định xem phương
pháp đo xác định trong Điều 5 của tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho chế độ hoạt động có công
suất tương đối thấp và công suất tiêu thụ ổn định
Đối với các sản phẩm xách tay có pin/acqui nạp lại được, các chế độ công suất thấp liên quan có thể:
● có bộ nạp hoặc trạm nối/trạm gốc nối vào nguồn lưới nhưng tách rời với sản phẩm (pin/acqui được tháo ra); và
● có bộ nạp hoặc trạm nối/trạm gốc nối vào nguồn lưới cùng với sản phẩm và được nạp đầy (còn được gọi là thả nổi hoặc duy trì)
Các chế độ trong đó pin/acqui được nạp (ngoài chế độ thả nổi hoặc duy trì) không được xác
định trong tiêu chuẩn này
Trang 14Chế độ công suất thấp có mức công suất nhỏ nhất (chế độ có công suất thấp nhất) đối với sản phẩm riêng rẽ có thể là chuẩn mực hữu ích cho các sản phẩm có chức năng so sánh.
Trong phiên bản 1 của tiêu chuẩn này, chế độ chờ được định nghĩa như sau:
Chế độ tiêu thụ công suất thấp nhất mà người sử dụng không thể ngắt (tác động) và có thể duy trì trong một khoảng thời gian không hạn định khi thiết bị được nối với nguồn điện lưới và sử dụng theo hướng dẫn của nhà chế tạo.
Trong phiên bản 2 hiện tại, định nghĩa này không còn được dùng là chế độ chờ Định nghĩa ở trên không có mức chức năng xác định và nếu được sử dụng thì cần áp dụng rất cẩn thận vì
các sản phẩm được so sánh có thể có các mức chức năng khác nhau Chế độ tiêu thụ công suất
nhỏ nhất không phải là một chế độ trong tiêu chuẩn này và không liên quan đến bất kỳ một trong các loại chế độ công suất thấp nào như xác định ở phiên bản 2.
A.3 Chức năng
Chức năng được định nghĩa ở 3.1.
Chức năng có thể được phân loại chung là chức năng chính hoặc chức năng phụ Chức năng phụ có thể bao gồm các chức năng đóng cắt từ xa, mạng, cảm biến và kiểu bảo vệ Chức năng chính liên quan đến mục đích chính của sản phẩm Đối với một số sản phẩm, chức năng mạng hoặc chức năng cảm biến có thể là chức năng chính Có thể có nhiều hơn một chức năng
chính
Tải làm việc (như minh họa ở Hình A.1) là chức năng chính của sản phẩm Bộ điều nhiệt hoặc
cơ cấu khống chế nhiệt độ điều khiển tải làm việc để duy trì các điều kiện không đổi thường
được xem là một phần của tải làm việc (chức năng chính) mà không phải là cơ cấu đóng cắt nguồn công suất hoặc chức năng phụ.
Ví dụ về chức năng phụ như sau:
● điều khiển từ xa công suất đến tải làm việc (cơ cấu đóng cắt công suất từ xa) - thường là không dây hoặc điện áp thấp (dành riêng cho một sản phẩm);
● điều khiển thứ cấp tải (tự động tắt, khởi động hoặc tắt có trễ);
● bộ cảm biến như cảm biến ánh sáng, có người, nhiệt, khói, nhiệt độ, lưu lượng nước (lưu ý rằng bộ điều nhiệt khống chế tải làm việc không được xem là một cảm biến trong trường hợp này);
● hiển thị (có thể là chế độ, trạng thái, chương trình, điều kiện hoặc đồng hồ, v.v );
● chức năng nhớ và định thời gian;
● bộ điều khiển điện tử, khóa và cơ cấu đóng cắt;
● chức năng mạng (có dây, không dây, hồng ngoại);
● nạp pin/acqui (trong trường hợp đây không phải chức năng chính của thiết bị);
● bộ lọc tương thích điện từ (EMC);
● cảm biến để bảo vệ sản phẩm và/hoặc người sử dụng
Một số ví dụ về chức năng và phân loại chế độ tương ứng được trình bày trong Bảng A.1 Việc xem xét (các) chức năng phụ như các mô đun riêng rẽ với tải chính (hoặc chức năng chính) là hữu ích để hiểu tại sao công suất tiêu thụ có thể xuất hiện trong một số chế độ công suất thấp Chức năng phụ sẽ tiêu thụ một lượng nhỏ công suất trong một số cấu hình thiết kế Một số chức năng phụ có thể có cơ cấu đóng cắt riêng rẽ để ngắt chúng khỏi nguồn lưới ở một
số chế độ sản phẩm Dãy các cấu hình có thể có đối với mô đun chức năng phụ được thể hiện
trên Hình A.1
A.4 Cơ cấu đóng cắt công suất
Trang 15Cơ cấu này cho phép người sử dụng kích hoạt và khử kích hoạt một chức năng chính Cơ cấu đóng cắt công suất thường được đặt trên sản phẩm Một số chức năng phụ có thể duy trì hoạt
động hoặc được kích hoạt khi chức năng chính bị khử kích hoạt Một số sản phẩm có thể có nhiều hơn một cơ cấu đóng cắt công suất (một số cơ cấu đóng cắt có thể chỉ tác động lên các chức năng phụ) Một số sản phẩm có thể không có cơ cấu đóng cắt Cơ cấu đóng cắt công suất
không được phân loại là một chức năng trong tiêu chuẩn này Cơ cấu đóng cắt công suất có
một số dạng như sau:
● cơ cấu đóng cắt công suất nguồn lưới: nguồn công suất cho chức năng chính được điều khiến bởi cơ cấu đóng cắt điện áp nguồn lưới do người sử dụng kích hoạt Một số chức năng phụ có thể duy trì hoạt động hoặc được kích hoạt khi chức năng chính bị khử kích hoạt;
● cơ cấu đóng cắt công suất điện áp thấp hoặc cơ cấu đóng cắt “mềm”: nguồn công suất cho
chức năng chính được điều khiển bởi cơ cấu đóng cắt điện áp thấp thứ cấp do người sử dụng kích hoạt Một số chức năng phụ có thể duy trì hoạt động hoặc được kích hoạt khi chức năng
chính bị khử kích hoạt;
● bộ định thời gian hoặc cơ cấu đóng cắt tự động: một biến thể của cơ cấu đóng cắt trong đó
chức năng chính được điều khiển bên trong sản phẩm chứ không phải do người sử dụng điều
khiển trực tiếp (có thể tự động (ví dụ khi hoàn thành một nhiệm vụ) hoặc do người sử dụng lập trình để bật hoặc tắt ở thời điểm xác định hoặc trong khoảng thời gian được chọn và có thể bao gồm cả quản lý công suất);
● cơ cấu đóng cắt điều khiển từ xa: một biến thể của cơ cấu đóng cắt trong đó chức năng chính
được điều khiển từ xa bởi người sử dụng hoặc cơ cấu khác;
● cơ cấu đóng cắt điều khiển công suất: cơ cấu đóng cắt công suất có kết hợp một số dạng cơ cấu điều khiển công suất như bộ điều chỉnh tắt dần hoặc thyristor
Bảng A.1 - Bảng các cơ cấu, chức năng và các chế độ kết hợp của chúng - chỉ để hướng
hiệu radio hoặc tín hiệu
hồng ngoại (không dây)
Người sử dụng định hướng
Chờ Chức năng từ xa phải hoạt động Không
bao gồm cơ cấu đóng cắt điện áp nguồn lưới có thể gắn ở xa sản phẩm Bao gồm các bộ điều khiển từ xa bình thường phổ biến trên các sản phẩm tiêu dùng và một
số thiết bị (ví dụ máy sưởi)
Khác Tắt Cơ cấu đóng cắt đặt trên sản phẩm Làm
mất hiệu lực các cơ cấu đóng cắt từ xa và
chức năng mạng Một số cơ cấu đóng cắt không khử kích hoạt tất cả các chức năng
Tắt (xem chú thích 1)
Thường là một khóa điện (cũng có thể là
khóa cơ) để đảm bảo sản phẩm ở chế độ tắt Thường kết hợp với LED Một dạng
tắt nhưng có thể đòi hỏi một ít công suất.LED báo
tín hiệu
chế độ
tắt
Đi ốt phát quang (LED)
báo cho người sử dụng
biết sản phẩm đã tắt
Khác Tắt Trường hợp đặc biệt cần được xem là chế
độ tắt (xem 3.5) Không bao gồm các
trường hợp trong đó cơ cấu đóng cắt từ
xa vẫn hoạt động (xem cơ cấu đóng cắt từ
xa ở trên)
Cơ cấu Cơ cấu dòng rò xuống Khác Xem Cơ cấu bảo vệ ngắt nguồn công suất trong
Trang 16đóng cắt
an toàn đất, cơ cấu dòng dư hoặc bộ ngắt sự cố
mạch điện với đất hoặc
bộ ngắt sự cố mạch điện
hồ quang
chú thích 3 trường hợp sự cố điện để bảo vệ người sử dụng hoặc sản phẩm - người sử dụng
không nhận biết được sự có mặt của cơ cấu này
Khi các cuộn hút đã hút thì chúng ít có khả năng nhả ra - Cần có bộ bảo vệ này để đảm bảo cuộn hút đã hút và không rò khi kết thúc chu kỳ (thiết kế thay đổi)
như máy giặt)
Khác Tắt Nhiều sản phẩm đòi hỏi bộ bảo vệ này và
hầu hết đây là cơ cấu cơ (không điện) Bảo vệ người sử dụng khác nối vào nguồn nước
động Tự động thay đổi chế độ từ hoạt động sang tắt hoặc chờ - không phải là trạng
thái hoạt động bình thường, bảo vệ tài sản trong trường hợp sử dụng sai (ngẫu nhiên) sản phẩm, không phổ biến khi sử
dụng bình thường Chức năng này theo
định nghĩa liên quan đến sử dụng trong
chế độ hoạt động Không liên quan đến
tiêu thụ năng lượng Cơ cấu bảo vệ tài sản
Chờ Khi công suất chuyển sang trạng thái thấp
hơn, chế độ thu được sẽ phụ thuộc vào chức năng đang hoạt động (ví dụ cơ cấu
đóng cắt điều khiển từ xa hoạt động hoặc không hoạt động) Có liên quan đến tiêu thụ năng lượng
Chế độ sản phẩm cuối cùng sẽ phụ thuộc vào sự kết hợp các chức năng (cơ cấu) có mặt và
được kích hoạt
CHÚ THÍCH 1: Nên là chế độ tắt vì sản phẩm được tắt hoàn toàn và được xem là được người
sử dụng tắt Tuy nhiên, có thể yêu cầu công suất để giữ khóa điện tử hoạt động do đó có thể cần
được xem là loại chế độ tắt đặc biệt Một số tùy chọn cho chức năng này là dạng cơ và có thể
không yêu cầu tiêu thụ công suất
CHÚ THÍCH 2: Một số thiết kế cung cấp bảo vệ bổ sung bằng cách phát hiện rò phía trước cuộn
hút, ví dụ rò ống và mối nối Tuy nhiên, tất cả các chức năng đó không hiển nhiên đối với người
sử dụng và có thể có tranh cãi rằng người sử dụng có thể không thấy sự khác nhau với chế độ tắt bình thường Tuy nhiên, chúng là các chức năng thực và có thể đòi hỏi một ít công suất Đây
là một vấn đề có các quan điểm khác nhau và ban kỹ thuật sản phẩm cần xem xét các trường hợp đặc biệt Cơ cấu này bảo vệ tài sản
CHÚ THÍCH 3: Cơ cấu đóng cắt an toàn cần được bỏ qua khi xác định loại chế độ nhưng nếu được ghi chú trong sổ tay hướng dẫn cho người sử dụng thì có thể cần phân loại là chế độ chờ
Cơ cấu này bảo vệ người sử dụng
A.5 Kiểu thiết bị
Điều này trình bày theo dạng sơ đồ một số cấu hình sản phẩm phổ biến và liệu chúng có tiêu thụ
Trang 17công suất hay không ở chế độ công suất thấp Các thành phần chính trong sản phẩm ảnh
hưởng đến công suất tiêu thụ được mô tả dưới đây cùng với một số ví dụ và mô tả cho từng kiểu (A đến G) (xem Hình A.1) Dưới đây cũng đưa ra mô tả tóm tắt từng kiểu và một số ví dụ Các sản phẩm ví dụ được liệt kê để minh họa các sản phẩm gia dụng điển hình có cấu hình theo cách riêng và việc đưa chúng vào ví dụ vào không nhất thiết đã là một sự phân loại chính xác đối với các biến thể sản phẩm có thể có
CHÚ THÍCH: Các chữ cái ấn định cho từng kiểu thiết bị là tùy chọn
Kiểu A: Sản phẩm không có tải chức năng phụ và không có cơ cấu đóng cắt công suất Sản
phẩm hoạt động khi cắm phích cắm vào Có thể có một số điều chỉnh bên trong tải (ví dụ bộ điều
nhiệt hoặc cơ cấu điều khiển nhiệt độ) Không có chế độ công suất thấp.
Vi dụ về sản phẩm kiểu A là: ấm điện (không có cơ cấu cắt tự động), một số thiết bị cỡ nhỏ dùng cho nhà bếp, bình đun nước nóng có giữ nhiệt dùng điện và máy sưởi phòng, tủ lạnh và tủ kết đông
Kiểu B: Sản phẩm có cơ cấu đóng cắt công suất Chức năng chính của sản phẩm hoạt động khi
được bật cơ cấu đóng cắt công suất bằng tay và ngừng khi tắt Cơ cấu đóng cắt công suất có
thể là loại tự động tắt (tự động tắt khi hoàn thành công việc) Vì không có chức năng phụ nên chế độ công suất thấp thường tiêu thụ ít công suất hoặc không tiêu thụ công suất.
Ví dụ về sản phẩm kiểu B: máy sưởi điện (không có bộ điều nhiệt), máy sấy tóc, lò nướng bánh,
ấm điện (ngắt khi sôi), một số thiết bị chính (một số máy rửa bát, máy giặt và máy sấy quần áo), nhiều thiết bị cỡ nhỏ dùng cho nhà bếp, bếp và một số lò
Kiểu C: Sản phẩm không có cơ cấu đóng cắt công suất nguồn lưới nhưng có chức năng phụ điều khiển chức năng chính hoặc thực hiện một số chức năng liên quan Có thể có bộ điều khiển từ xa hoặc cơ cấu đóng cắt công suất điện áp thấp Năng lượng ở chế độ công suất thấp
có thể kết hợp với chức năng phụ.
Ví dụ về sản phẩm kiểu C: máy làm bánh mỳ, một số thiết bị cỡ nhỏ dùng cho nhà bếp, một số thiết bị chính (một số máy rửa bát, máy giặt quần áo và máy sấy quần áo), một số lò vi sóng, sản phẩm có điều khiển từ xa và không có cơ cấu ngắt cứng, sản phẩm có cơ cấu đóng cắt công suất (bằng điện tử) “mềm”
Kiểu D: Sản phẩm có cơ cấu đóng cắt công suất ngắt chức năng chính và có chức năng phụ được nối cố định vào nguồn công suất Năng lượng ở chế độ công suất thấp có thể kết hợp với chức năng phụ.
Ví dụ về sản phẩm kiểu D: lò thông thường, một số loại máy sưởi, lò vi sóng, thiết bị đòi hỏi tiêu
thụ công suất cho chức năng phụ (đồng hồ, hiển thị, bộ định thời gian, v.v ).
Kiểu E: Sản phẩm có cơ cấu đóng cắt công suất ngắt chức năng chính Sẩn phẩm này có thể
có chức năng phụ được nối cố định vào nguồn công suất và/hoặc một chức năng được ngắt bằng cơ cấu đóng cắt công suất Năng lượng ở chế độ công suất thấp có thể kết hợp với chức năng phụ được nối cố định Các chế độ công suất thấp khác có thể kết hợp với chức năng phụ
được đóng cắt
Ví dụ về sản phẩm kiểu E: một số lò vi sóng, một số thiết bị chính (một số máy rửa bát, máy giặt
và máy sấy khô quần áo), một số loại máy sưởi, sản phẩm đòi hỏi tiêu thụ công suất cho chức năng phụ (đồng hồ, hiển thị, bộ định thời gian, v.v ), sản phẩm có thiết bị điện tử hoặc bộ lọc
EMC nối cố định, cơ cấu đóng cắt và cơ cấu điều khiển điện áp thấp hoặc cơ cấu điều khiển từ
xa có dây
Kiểu F: Sản phẩm có nguồn công suất bên ngoài cấp điện cho sản phẩm Nguồn cung cấp
thường là điện áp cực thấp (< 50 V), có thể là điện xoay chiều hoặc điện một chiều và có thể nối
qua một phích cắm Cấu hình sản phẩm có thể là kiểu A đến kiểu E ở trên Tất cả các chức năng đòi hỏi nguồn công suất bên ngoài được nối vào nguồn lưới Năng lượng tiêu thụ được kết
hợp với nguồn cung cấp và có thể có nhiều chế độ công suất thấp
Ví dụ về sản phẩm kiểu F: một số sản phẩm chăm sóc cá nhân cỡ nhỏ, một số thiết bị cỡ nhỏ