1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu hỏi phần giáo dục đại cương thi cao học

13 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là bộ câu hỏi phần giáo dục đại cương dành cho thi Cao học. Đây là gói tài liệu rất hay và bổ ích; hệ thống câu hỏi được trình bày rất chi tiết, cụ thể và rõ ràng, câu hỏi được thiết kế rất tiện lợi để sử dụng trong quá trình thi giúp cán bộ làm bài thi tốt.

Trang 1

BỘ CÂU HỎI Phần giáo dục đại cương - Thi Cao học

, tháng 5 năm 2019

Trang 2

Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH

ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH

GIAI CẤP CỦA GD:

Các câu hỏi:

1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách

GD, đổi mới và chỉnh lý GD?

2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy

phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD

3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản

mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD

Việt nam là việc làm sai lầm?

Trả lời

- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các

chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển

của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của

XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển

kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ

văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị

XH

- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy

định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu,

nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức

GD

+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu

cầu mới đối với GD về nhân cách người lao

động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới

thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương

trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để

đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào

tạo

+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về

phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển

+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp

ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi

yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị

trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần

phải được đào tạo thường xuyên

- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát

triển KT làm cho con người tham gia vào quy

trình SX không chỉ với tư cách là người lao

động mà còn là nhà quản lý, người điều hành

Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao

động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,

đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu

về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao

tiếp

- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự

phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có

những động lực, mục tiêu mới để phát triển,

nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT

những nguy cơ và thách thức

+ Nguy cơ thương mại hóa về GD

+ Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong

khu vực

Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát

chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội

nhập quốc tế, khu vực

* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT

* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với

GD:

- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy

định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình

GD phù hợp

- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên

tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển

* Tính lịch sử của GD:

GD nảy sinh cùng XH loài người nên

GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của

XH loài người

- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính

chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng

với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một

GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có

tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra

các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương

hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác

nhau)

- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một

nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản

sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu

tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho

lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó

(Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:

chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)

- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch

sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở

nước ta

+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích

GD của nước ta là xóa mù chữ

+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng

chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )

Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:

Các câu hỏi:

1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách

GD, đổi mới và chỉnh lý GD?

2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD

3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản

mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?

Trả lời

- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH

- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GD

+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo

+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển

+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên

- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát

triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành

Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,

đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu

về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp

- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức

+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực

Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực

* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT

* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:

- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình

GD phù hợp

- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển

* Tính lịch sử của GD:

GD nảy sinh cùng XH loài người nên

GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của

XH loài người

- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một

GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)

- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:

chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)

- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch

sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước ta

+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích

GD của nước ta là xóa mù chữ

+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )

Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:

Các câu hỏi:

1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách

GD, đổi mới và chỉnh lý GD?

2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD

3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản

mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?

Trả lời

- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH

- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, p`hương pháp và hình thức tổ chức GD

+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo

+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển

+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên

- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát

triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành

Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,

đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu

về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp

- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức

+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực

Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực

* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT

* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:

- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình

GD phù hợp

- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển

* Tính lịch sử của GD:

GD nảy sinh cùng XH loài người nên

GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của

XH loài người

- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một

GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)

- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:

chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)

- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch

sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước ta

+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích

GD của nước ta là xóa mù chữ

+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )

Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:

Các câu hỏi:

1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách

GD, đổi mới và chỉnh lý GD?

2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD

3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản

mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?

Trả lời

- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH

- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GD

+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo

+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển

+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên

- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát

triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành

Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,

đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu

về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp

- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức

+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực

Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực

* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT

* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:

- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình

GD phù hợp

- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển

* Tính lịch sử của GD:

GD nảy sinh cùng XH loài người nên

GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của

XH loài người

- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một

GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)

- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:

chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)

- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch

sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước ta

+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích

GD của nước ta là xóa mù chữ

+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )

Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:

Các câu hỏi:

1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách

GD, đổi mới và chỉnh lý GD?

2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD

3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?

Trả lời

- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của

XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH

- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GD

+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo

+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển + KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên

- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát

triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành

Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới, đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp

- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức

+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực

Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực

* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT

* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:

- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình

GD phù hợp

- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển

* Tính lịch sử của GD:

GD nảy sinh cùng XH loài người nên

GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của

XH loài người

- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một

GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)

- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam: chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)

- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước

ta + Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích

GD của nước ta là xóa mù chữ

+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ ) + Năm 1954: hòa bình lập lại ở Miền Bắc, mục

Trang 3

Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI

CỦA GIÁO DỤC:

- Phân tích các chức năng xã hội của GD?

+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?

+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?

- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân

tích 1trong 3 chức năng?

- GD Có những chức năng nào? Phân tích

chức năng kinh tế?

Trả lời:

- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH

loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh

nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ

sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa

có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người

mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân

cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp

cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn,

hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động

lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng

với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát

triển thông qua việc thực hiện các chức năng

XH, đó là các chức năng:

+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng

+ Chính trị xã hội

1 Chức năng kinh tế sản xuất:

- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ

mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ

tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối

với sự phát triển của XH và con người, nó thúc

đẩy kinh tế sản xuất phát triển:

- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc

đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp

phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy

kinh tế SX phát triển):

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng

con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ

KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp

và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu

cầu của sự phát triển sản xuất

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng

con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị

lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức

mới, những năng lực mới để đáp ứng được với

những biến đổi không ngừng của KTSX

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng

con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,

GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích

cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ

thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến

đổi của XH, của KTSX

- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp,

giúp cho con người có khả năng thích ứng cao

với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp

trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát

triển

- GD tham gia vào chương trình dân số

KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính

sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số,

thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất

lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy

kinh tế sản xuất phát triển

- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm

nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho

người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT

gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất

phát triển

- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn

luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực

có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất

phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD

thì không có cán bộ và không nói gì đến phát

triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu

nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng

trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng

trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn

không thắng ”

- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển,

chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng

GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng

nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX

Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX

phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với

GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:

+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải

đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT

trong các nhà trường

+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư

tưởng, nâng cao năng lực quản lý

+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá,

văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,

Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:

- Phân tích các chức năng xã hội của GD?

+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?

+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?

- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?

- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?

Trả lời:

- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa

có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng

XH, đó là các chức năng:

+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội

1 Chức năng kinh tế sản xuất:

- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ

mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:

- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh tế SX phát triển):

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp

và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,

GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích

cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX

- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển

- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực

có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”

- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX

Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:

+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường

+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý

+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,

Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:

- Phân tích các chức năng xã hội của GD?

+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?

+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?

- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?

- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?

Trả lời:

- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa

có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng

XH, đó là các chức năng:

+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội

1 Chức năng kinh tế sản xuất:

- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ

mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:

- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh tế SX phát triển):

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp

và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,

GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích

cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX

- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển

- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực

có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”

- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX

Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:

+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường

+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý

+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,

Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:

- Phân tích các chức năng xã hội của GD?

+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?

+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?

- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?

- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?

Trả lời:

- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa

có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng

XH, đó là các chức năng:

+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội

1 Chức năng kinh tế sản xuất:

- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ

mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:

- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh tế SX phát triển):

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp

và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,

GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích

cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX

- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển

- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực

có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”

- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX

Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:

+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường

+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý

+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,

Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:

- Phân tích các chức năng xã hội của GD? + trong đó chức năng nào quan trọng nhất? + Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?

- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?

- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?

Trả lời:

- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa

có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng

XH, đó là các chức năng:

+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội

1 Chức năng kinh tế sản xuất:

- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ

mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:

- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh

tế SX phát triển):

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp

và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất

+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX + GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,

GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích

cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX

- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển

- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển

- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực

có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”

- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX

Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn: + Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường

+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý + Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,

Trang 4

Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC

TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM

TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ

TRÌNH GIÁO DỤC.

* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội

được tổ chức một cách có mục đích; trong đó

dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G),

người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo

dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những

phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như

vậy, trong QTGD:

- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được

thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều

chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người

được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện

đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục

tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn

những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều

đó được chi tiết hoá trong chương trình,

KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con

người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự

GD, tự rèn luyện

- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động

SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự

rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng

bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó

trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại,

thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những

tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo

dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động

qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa

của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự

tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai

mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục

* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa

rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT

- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với

các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính

trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách

chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và

giáo dục);

- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động

qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy

dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng

GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ

đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động

nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động

GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc

lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và

chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh

nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân

người học, biến quá trình GD thành quá trình tự

GD

* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể

(QTrGD theo nghĩa rộng)

- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình

thành phát triển nhân cách con người được tiến

hành một cách mục đích, có kế hoạch, được

thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và

đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay

tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh

nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân

- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình

bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo

nghĩa hẹp

+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr

học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH

là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển

năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được

tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH,

nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ

chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của

người học, kết quả của QTrDH giữa các thành

tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ

trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho

QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép

kín vận động và phát triển không ngừng

+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động

GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội

của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý

thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen

phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH

Hai quá trình trên đều có chung một mục

đích: hình thành và phát triển nhân cách con

người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển

XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn

nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở

h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói

quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của

XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin,

hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực

Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.

* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội

được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:

- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều

đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự

GD, tự rèn luyện

- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động

SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục

* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT

- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);

- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng

GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động

GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD

* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)

- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân

- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình

bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp

+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH

là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành

tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng

+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động

GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH

Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển

XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực

Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.

* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội

được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:

- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều

đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự GD, tự rèn luyện

- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động

SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục

* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT

- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);

- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng

GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động

GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD

* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)

- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân

- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình

bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp

+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH

là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành

tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng

+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động

GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH

Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển

XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực

Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.

* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội

được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:

- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều

đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự

GD, tự rèn luyện

- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động

SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục

* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT

- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);

- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng

GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động

GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD

* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)

- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân

- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình

bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp

+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH

là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành

tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng

+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động

GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH

Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển

XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực

Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.

* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội

được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:

- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều

đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự GD, tự rèn luyện

- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động

SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của

nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục

* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT

- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);

- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng

GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động

GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD

* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)

- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng

GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân

- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình

bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp

+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH

là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành

tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng + QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động

GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển

XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực

Trang 5

Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH

HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH

THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN

CÁCH CON NGƯỜI:

Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra

con người, trong chừng mực con người sáng

tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của

mình về vấn đề trên.

Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi

trường là mối quan hệ biện chứng: con người

chịu tác động của môi trường, con người cải tạo

được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều

Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới

sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó

tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với

con người

* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH

thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc

điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan

hệ hành động của từng người với thế giới tự

nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính

bản thân

* Khái niệm về sự hình thành và phát triển

nhân cách: nhân cách con người sinh ra không

phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển

bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến

đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã

hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó

thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các

nhân tố sau đây:

- Di truyền;

- Môi trường;

- Giáo dục;

- Tính tích cực hoạt động của cá nhân

Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân

tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố

môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD

giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của

cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình

thành và phát triển nhân cách

a Phân tích vai trò của di truyền:

* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền

lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất

nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là

hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính

sinh học có ở ông bà, cha mẹ

Trong hiện tượng di truyền thì có hiện

tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do

di truyền và có thể không phải do di truyền

* Vai trò của di truyền trong sự hình thành

và phát triển nhân cách: phân tích theo 2

quan điểm

a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di

truyền đối với sự hình thành và phát triển

nhân cách:

- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và

phát triển nhân cách con người Đây là quan

điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy

truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ

cho rằng con vua thì lại làm vua)

- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền

không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và

phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai

lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di

truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân

cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề

vật chất trong quá trình hình thành và phát triển

nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ

gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn

thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách

a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò

của di truyền đối với quá trình hình thành và

phát triển nhân cách:

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di

truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình

thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức

sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó

không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của

con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con

người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh

vực nhất định

- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân

cách, nhân cách con người được bắt đầu với con

số không và được hình thành và phát triển trong

những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người

đều được phát triển theo những sắc thái riêng,

giúp ta phân biệt người này với người khác

- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã

hội con người, những đặc điểm sinh học có sự

ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc

cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng

Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:

Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.

Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều

Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới

sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người

* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH

thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan

hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân

* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không

phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:

- Di truyền;

- Môi trường;

- Giáo dục;

- Tính tích cực hoạt động của cá nhân

Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân

tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của

cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

a Phân tích vai trò của di truyền:

* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ

Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do

di truyền và có thể không phải do di truyền

* Vai trò của di truyền trong sự hình thành

và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm

a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:

- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)

- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách

a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định

- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con

số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác

- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng

Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:

Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.

Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều

Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới

sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người

* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH

thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan

hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân

* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không

phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:

- Di truyền;

- Môi trường;

- Giáo dục;

- Tính tích cực hoạt động của cá nhân

Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân

tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của

cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

a Phân tích vai trò của di truyền:

* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ

Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do

di truyền và có thể không phải do di truyền

* Vai trò của di truyền trong sự hình thành

và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm

a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:

- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)

- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách

a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định

- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con

số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác

- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng

Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:

Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.

Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều

Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới

sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người

* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH

thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan

hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân

* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không

phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:

- Di truyền;

- Môi trường;

- Giáo dục;

- Tính tích cực hoạt động của cá nhân

Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân

tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của

cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

a Phân tích vai trò của di truyền:

* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ

Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do

di truyền và có thể không phải do di truyền

* Vai trò của di truyền trong sự hình thành

và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm

a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:

- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)

- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách

a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định

- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con

số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác

- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng

Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:

Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.

Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới

sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người

* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH

thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan

hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân

* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không

phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:

- Di truyền;

- Môi trường;

- Giáo dục;

- Tính tích cực hoạt động của cá nhân Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân

tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành

và phát triển nhân cách

a Phân tích vai trò của di truyền:

* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ

Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do

di truyền và có thể không phải do di truyền

* Vai trò của di truyền trong sự hình thành

và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm

a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:

- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)

- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách

a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định

- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con

số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác

- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng

Trang 6

Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là

một quá trình phát trình phát triển biện

chứng (hay quá trình DH là quá trình vận

động phát triển không ngừng) Hay: Chứng

minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn

vẹn.

Cấu trúc của QTDH và động lực của

QTDH?

Trả lời

1 Cấu trúc của QTDH

Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại

về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể

toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo

nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật,

hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất

định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất

định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp

xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng

QTDH là một bộ phận của quá trình sư

phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan

điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm

nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích,

nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương

pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ

chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết

quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và

chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc

luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với

nhau

+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng

đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV

-NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất

những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó

có vai trò định hướng cho sự vận động của các

thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống

Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự

thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,

Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự

thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học,

kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống

MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành

QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện

QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra,

đánh giá kết quả QTDH

+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ

thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và

phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành

tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G

và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản

ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có

tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối

hợp P- PtDH

+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới

động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy

H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH,

HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ

-NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó

lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH

PPDH là hệ thống cách thức hoạt động

phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH

nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm

vụ dạy học đề ra

PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P

dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều

khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học

là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển

hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P

học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy

nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính

chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)

Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù

hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần

phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp

với P học của H mới mang lại k/quả cao

PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể

chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng

trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực

hiện bởi một hay một số PtDH nhất định

P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và

NDDH Nó được xem là một thành tố để G

truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội

NDDH

+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách

thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt

động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm

cụ thể , một thời gian nhất định với phương

pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục

đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học

có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục

đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương

pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến

Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.

Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?

Trả lời

1 Cấu trúc của QTDH

Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại

về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng

QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau

+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó

có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống

Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,

Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống

MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH

+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành

tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G

và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH

+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy

H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH

PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm

vụ dạy học đề ra

PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P

dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều

khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học

là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển

hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)

Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao

PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH

+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách

thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm

cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học

có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến

Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.

Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?

Trả lời

1 Cấu trúc của QTDH

Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại

về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng

QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau

+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó

có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống

Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,

Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống

MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH

+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành

tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G

và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH

+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy

H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH

PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm

vụ dạy học đề ra

PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P

dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều

khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học

là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển

hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)

Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao

PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH

+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách

thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm

cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học

có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến

Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.

Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?

Trả lời

1 Cấu trúc của QTDH

Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại

về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng

QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau

+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó

có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống

Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,

Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống

MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH

+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành

tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G

và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH

+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy

H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH

PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm

vụ dạy học đề ra

PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P

dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều

khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học

là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển

hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)

Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao

PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH

+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách

thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm

cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học

có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến

Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.

Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?

Trả lời

1 Cấu trúc của QTDH

Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại

về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau

+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó

có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,

Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH

+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành

tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G

và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH

+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy

H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm

vụ dạy học đề ra

PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P

dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều

khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học

là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển

hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định) Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH

+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách

thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm

cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học

có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến

Trang 7

Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH

và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.

- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các

bước

+ Khái niệm QTrDH là gì

+ Kể tên 3 nhiệm vụ DH

+ Phân tích từng nhiệm vụ

+ Chỉ ra mối quan hệ

Trả lời

Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học

hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu

của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng

trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như

thế nào là quá trình dạy học?

Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:

Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm

lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư

phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa

học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ

thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội

của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản

thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm

thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí

dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình

dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và

giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm

vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có

tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ

đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên

kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự

điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ

là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển

lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi,

tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn,

trọng tài

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các

thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau

theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau,

quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất

biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Các nhiệm vụ dạy học:

- Cung cấp tri thức cho học sinh

- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí

tuệ

- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm

chất đúng

Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học

hình thành, phát triển hệ thống những tri

thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp

với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh

đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ

xảo tương ứng.

- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;

Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,

- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần

thiết cho mọi người

- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền

để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc

đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau

- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất

phản ánh được những thành tựu mới nhất của

văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện

thực khách quan

Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học

hình thành và phát triển năng lực hoạt động

trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ

- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân

thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự

tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành

thạo các thao tác trí tuệ

- Dạy học có nhiệm vụ:

+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí

tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt

động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát

triển ở học sinh những năng lực sau:

Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức

gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư

duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy

luận; Năng lực độc lập sáng tạo

Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh

ở học sinh

+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí

tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của

hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính

phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính

khái quát

* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan

hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển

Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH

và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.

- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước

+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời

Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?

Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:

Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm

vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên

kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ

là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Các nhiệm vụ dạy học:

- Cung cấp tri thức cho học sinh

- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ

- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng

Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.

- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;

Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,

- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người

- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền

để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc

đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau

- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan

Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ

- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ

- Dạy học có nhiệm vụ:

+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau:

Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo

Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh

ở học sinh

+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát

* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan

hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển

Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH

và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.

- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước

+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời

Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?

Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:

Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm

vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên

kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ

là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Các nhiệm vụ dạy học:

- Cung cấp tri thức cho học sinh

- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ

- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng

Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.

- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;

Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,

- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người

- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền

để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc

đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau

- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan

Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ

- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ

- Dạy học có nhiệm vụ:

+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau:

Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo

Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh

ở học sinh

+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát

* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan

hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển

Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH

và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.

- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước

+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời

Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?

Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:

Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm

vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên

kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ

là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Các nhiệm vụ dạy học:

- Cung cấp tri thức cho học sinh

- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ

- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng

Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.

- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;

Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,

- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người

- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền

để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc

đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau

- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan

Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ

- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ

- Dạy học có nhiệm vụ:

+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau:

Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo

Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh

ở học sinh

+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát

* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan

hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển

Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH

và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.

- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước

+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời

Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?

Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định: Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm

vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên

kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Các nhiệm vụ dạy học:

- Cung cấp tri thức cho học sinh

- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ

- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng

Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.

- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;

Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,

- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người

- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền

để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc

đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau

- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan

Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ

- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ

- Dạy học có nhiệm vụ:

+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau: Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo

Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh ở học sinh

+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát

* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan

hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển

Trang 8

Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình

dạy học Động lực QTrDH.

1 Bản chất QTDH

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các

thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau

theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau,

quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất

biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Những cơ sở để xác định bản chất của

QTDH:

- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt

động dạy học

- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và

hoạt động học của trò

+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng

dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học

sinh;

+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ

chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri

thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ

thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức

+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt

động nhận thức Nhận thức của loài người

khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm

ra cái mới cho bản thân)

- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là

hoạt động độc đáo

Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình

dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H

dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong

nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều

kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều

khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá

trình nhận thức của loài người…

* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình

nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài

người nói chung

+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của

con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến

và kết thúc theo thời gian, không gian…

+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm

hiểu thế giới khách quan

+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới

theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,

từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con

đường biện chứng của sự nhận thức chân lý,

nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H

cũng như loài người nh.thức TG bằng con

đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ

cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ

đơn giản đến phức tạp)

+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính

tích cực; tính sáng tạo

* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong

QTNT của H):

Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc

đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức

của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư

phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó

có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của

loài người…

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn

ra theo con đường “thử và sai” như quá trình

nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra

theo con đường đã được khám phá, có sự gia

công sư phạm của người giáo viên

+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải

tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri

thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận

thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình

- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở

trường PT nên học sinh không thể và không

phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài

người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức

phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn

của đất nước và tư duy của học sinh nên học

sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi

- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự

kiểm tra đánh giá của giáo viên

- Trong quá trình nhận thức của người học qua

việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận

thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so

sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk

tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ),

mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai

tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời

Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.

1 Bản chất QTDH

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:

- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học

- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò

+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh;

+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức

+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người

khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm

ra cái mới cho bản thân)

- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo

Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình

dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung

+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến

và kết thúc theo thời gian, không gian…

+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan

+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,

từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H

cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)

+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo

* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):

Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó

có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn

ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên

+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình

- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi

- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên

- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk

tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời

Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.

1 Bản chất QTDH

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:

- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học

- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò

+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh;

+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức

+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người

khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm

ra cái mới cho bản thân)

- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo

Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình

dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung

+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến

và kết thúc theo thời gian, không gian…

+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan

+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,

từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H

cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)

+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo

* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):

Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó

có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn

ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên

+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình

- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi

- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên

- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk

tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời

Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.

1 Bản chất QTDH

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:

- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học

- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò

+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh;

+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức

+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người

khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm

ra cái mới cho bản thân)

- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo

Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình

dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung

+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến

và kết thúc theo thời gian, không gian…

+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan

+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,

từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H

cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)

+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo

* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):

Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó

có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn

ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên

+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình

- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi

- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên

- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk

tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời

Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.

1 Bản chất QTDH

Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học

Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:

- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học

- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò

+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh; + Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức + Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người

khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm

ra cái mới cho bản thân)

- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo

Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình

dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung

+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến

và kết thúc theo thời gian, không gian… + Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan

+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,

từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H

cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái

cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)

+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo

* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):

Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó

có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn

ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên + Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình

- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi

- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên

- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk

tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời gian nhận thức(nhà KH là vô hạn, người học có

Trang 9

Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp

DH, các nhóm PPDH ở trường phổ

thông và trường chuyên nghiệp Nêu

quan điểm (phân tích) về đổi mới

PPDH hiện nay.

Trả lời

Phương pháp dạy học là tổ hợp

cách thức hoạt động của thầy và trò mà

thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy

học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ

dạy học và đạt được mục đích dạy học

đã đề ra

Hệ thống các phương pháp:

1) Phương pháp thuyết trình

2) Trực quan

3) Nêu vấn đề

4) Hỏi đáp

5) Giảng giải

6) Theo nhóm

7) Dạy học theo dự án

8) Thảo luận nhóm

9) Tình huống

10) Kiểm tra, đánh giá

Chia thành các nhóm:

- Nhóm phương pháp dùng lời

- Nhóm phương pháp thực hành

- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh

giá

- Các phương pháp dạy học khác

* Dựa vào các khâu của QTDH có thể

chia phương pháp dạy học thành các

nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức

thực hiện nhận thức; Các phương pháp

kiểm tra, đánh giá

* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận

thức chia thành: Nhóm các phương

pháp dạy học tái hiện; Nhóm các

phương pháp giải thích, minh hoạ;

Nhóm các phương pháp dạy học nêu

vấn đề

- Nhóm các phương pháp dạy học dùng

lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và

viết, nhóm phương pháp này gồm:

Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK

và các tài liệu tham khảo khác

- Nhóm phương pháp dạy học trực

quan:

+ Phương pháp trình bày trực quan:

+ Phương pháp quan sát: Sử dụng

phương háp quan sát phải có được mục

đích, kế hoạch cụ thể

- Nhóm phương pháp dạy học thực

hành:

+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp

lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến

nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập

nói, viết, thực hành)

+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá,

khái quát hoá lại những kiến thức đã

học

+ Phương pháp thí nghiệm

- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh

giá:

- Một số phương pháp dạy học tích cực

khác:

+ Phương pháp dạy học dự án:

+ Phương pháp dạy học bằng tình

huống

+ Phương pháp thảo luận nhóm:

+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:

Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh

những phương hướng sau đây:

- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của

giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã

hội mới của đất nước ta trong thời kì

CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và

việc làm của người lao động đã đặt ra

những yêu cầu mới đối với việc đào tạo

nguồn nhân lực và những chủ nhân mới

của đất nước trong tương lai, thể hiện

trong những yêu cầu về phẩm chất và

năng lực của mục tiêu giáo dục THPT

Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra

rằng, những phẩm chất và năng lực đó

chỉ được hình thành và phát triển thông

qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm

tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập ,

thông qua các hình thức tương tác giữa

giáo viên với học sinh, giữa học sinh

với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng

đầu của việc đổi mới chương trình GD

THPT là đổi mới phương pháp dạy học

trong nhà trường theo các định hướng

“Phương pháp GD phổ thông phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp

với đặc điểm của từng lớp học, môn

học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,

Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp

DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.

Trả lời

Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học

đã đề ra

Hệ thống các phương pháp:

1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan

3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá

Chia thành các nhóm:

- Nhóm phương pháp dùng lời

- Nhóm phương pháp thực hành

- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Các phương pháp dạy học khác

* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá

* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ;

Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm:

Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK

và các tài liệu tham khảo khác

- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:

+ Phương pháp trình bày trực quan:

+ Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể

- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:

+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến

nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)

+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học

+ Phương pháp thí nghiệm

- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:

- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:

+ Phương pháp dạy học dự án:

+ Phương pháp dạy học bằng tình huống

+ Phương pháp thảo luận nhóm:

+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:

Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:

- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT

Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng

“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,

Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp

DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.

Trả lời

Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học

đã đề ra

Hệ thống các phương pháp:

1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan

3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá

Chia thành các nhóm:

- Nhóm phương pháp dùng lời

- Nhóm phương pháp thực hành

- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Các phương pháp dạy học khác

* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá

* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ;

Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm:

Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK

và các tài liệu tham khảo khác

- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:

+ Phương pháp trình bày trực quan:

+ Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể

- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:

+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến

nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)

+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học

+ Phương pháp thí nghiệm

- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:

- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:

+ Phương pháp dạy học dự án:

+ Phương pháp dạy học bằng tình huống

+ Phương pháp thảo luận nhóm:

+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:

Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:

- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT

Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng

“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,

Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp

DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.

Trả lời

Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học

đã đề ra

Hệ thống các phương pháp:

1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan

3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá

Chia thành các nhóm:

- Nhóm phương pháp dùng lời

- Nhóm phương pháp thực hành

- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Các phương pháp dạy học khác

* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá

* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ;

Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm:

Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK

và các tài liệu tham khảo khác

- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:

+ Phương pháp trình bày trực quan:

+ Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể

- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:

+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến

nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)

+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học

+ Phương pháp thí nghiệm

- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:

- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:

+ Phương pháp dạy học dự án:

+ Phương pháp dạy học bằng tình huống

+ Phương pháp thảo luận nhóm:

+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:

Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:

- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT

Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng

“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,

Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp

DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.

Trả lời

Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học

đã đề ra

Hệ thống các phương pháp:

1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan

3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá

Chia thành các nhóm:

- Nhóm phương pháp dùng lời

- Nhóm phương pháp thực hành

- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá

- Các phương pháp dạy học khác

* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá

* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ; Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm: Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK

và các tài liệu tham khảo khác

- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:

+ Phương pháp trình bày trực quan: + Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể

- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:

+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến

nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)

+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học

+ Phương pháp thí nghiệm

- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:

- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:

+ Phương pháp dạy học dự án: + Phương pháp dạy học bằng tình huống

+ Phương pháp thảo luận nhóm: + Phương pháp dạy học nêu vấn đề:

Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:

- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng

“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,

Trang 10

Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của

QTGD

1 Bản chất QTGD

- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình

giáo dục

+ Tính hai mặt của QTGD

QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc

sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối

quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với

những người xung quanh, là một quá trình sư

phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác

động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua

các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức,

tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng

tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra

của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích

cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình

Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của

G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự

hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của

QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm

cả quá trình tự giáo dục của H

+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các

chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội

ở H

Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn

mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói

quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian

và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa

từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi

từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích

cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp

đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:

+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực

xã hội

+ Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với

các chuẩn mực xã hội

+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các

giá trị chuẩn mực xã hội

Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được

hình thành và phát triển thông qua hoạt động và

giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực

mà nhân cách con người được bộc lộ, được

hình thành và được phát triển

- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD

là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động

và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa

một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc

thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong

mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể

hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H

dưới vai trò chủ đạo của G

+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa

tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các

chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen tương ứng ở H

+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất

những tác động của G với những tác động tự

giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác

động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo

dục

+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ

chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,

tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là

quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối

tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được

phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở

đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích

cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển

hóa thành hành vi và thói quen tương ứng

Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản

chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại

hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và

lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với

môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ

chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu

của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động

xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v

Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ

thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể

được tác động Tính năng động của chủ thể còn

được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều

chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng

phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu,

hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H

được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng

chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận

lợi những tác động bên ngoài Và những tác

động của G cũng không còn đến thẳng H nữa

mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,

Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD

1 Bản chất QTGD

- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục

+ Tính hai mặt của QTGD

QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình

Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của

G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm

cả quá trình tự giáo dục của H

+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội

ở H

Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian

và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa

từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi

từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp

đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:

+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực

xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội

+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội

Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực

mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển

- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD

là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động

và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G

+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa

tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen tương ứng ở H

+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục

+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,

tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở

đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng

Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động

xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v

Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa

mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,

Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD

1 Bản chất QTGD

- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục

+ Tính hai mặt của QTGD

QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình

Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của

G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm

cả quá trình tự giáo dục của H

+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội

ở H

Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian

và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa

từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi

từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp

đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:

+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực

xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội

+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội

Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực

mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển

- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD

là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động

và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G

+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa

tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen tương ứng ở H

+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục

+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,

tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở

đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng

Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động

xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v

Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa

mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,

Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD

1 Bản chất QTGD

- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục

+ Tính hai mặt của QTGD

QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình

Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của

G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm

cả quá trình tự giáo dục của H

+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội

ở H

Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian

và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa

từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi

từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp

đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:

+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực

xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội

+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội

Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực

mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển

- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD

là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động

và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G

+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa

tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen tương ứng ở H

+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục

+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,

tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở

đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng

Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động

xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v

Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa

mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,

Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD

1 Bản chất QTGD

- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục

+ Tính hai mặt của QTGD

QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của

G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm cả quá trình tự giáo dục của H

+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội ở

H

Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian

và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa

từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi

từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp

đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:

+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực

xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội

+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội

Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực

mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển

- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD là

quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G

+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa

tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành

vi, thói quen tương ứng ở H

+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục

+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,

tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở

đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động

xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa

mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,

Ngày đăng: 05/02/2020, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w