Đây là bộ câu hỏi phần giáo dục đại cương dành cho thi Cao học. Đây là gói tài liệu rất hay và bổ ích; hệ thống câu hỏi được trình bày rất chi tiết, cụ thể và rõ ràng, câu hỏi được thiết kế rất tiện lợi để sử dụng trong quá trình thi giúp cán bộ làm bài thi tốt.
Trang 1BỘ CÂU HỎI Phần giáo dục đại cương - Thi Cao học
, tháng 5 năm 2019
Trang 2Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH
ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH
GIAI CẤP CỦA GD:
Các câu hỏi:
1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách
GD, đổi mới và chỉnh lý GD?
2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy
phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD
3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản
mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD
Việt nam là việc làm sai lầm?
Trả lời
- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các
chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển
của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của
XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển
kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ
văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị
XH
- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy
định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu,
nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
GD
+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu
cầu mới đối với GD về nhân cách người lao
động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới
thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương
trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để
đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào
tạo
+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về
phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển
+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp
ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi
yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị
trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần
phải được đào tạo thường xuyên
- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát
triển KT làm cho con người tham gia vào quy
trình SX không chỉ với tư cách là người lao
động mà còn là nhà quản lý, người điều hành
Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao
động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,
đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu
về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao
tiếp
- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự
phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có
những động lực, mục tiêu mới để phát triển,
nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT
những nguy cơ và thách thức
+ Nguy cơ thương mại hóa về GD
+ Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong
khu vực
Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát
chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội
nhập quốc tế, khu vực
* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT
* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với
GD:
- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy
định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình
GD phù hợp
- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên
tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển
* Tính lịch sử của GD:
GD nảy sinh cùng XH loài người nên
GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của
XH loài người
- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính
chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng
với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một
GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có
tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra
các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương
hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác
nhau)
- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một
nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản
sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu
tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho
lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó
(Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:
chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)
- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch
sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở
nước ta
+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích
GD của nước ta là xóa mù chữ
+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng
chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )
Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:
Các câu hỏi:
1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách
GD, đổi mới và chỉnh lý GD?
2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD
3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản
mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?
Trả lời
- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH
- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GD
+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo
+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển
+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên
- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát
triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành
Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,
đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu
về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp
- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức
+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực
Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực
* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT
* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:
- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình
GD phù hợp
- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển
* Tính lịch sử của GD:
GD nảy sinh cùng XH loài người nên
GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của
XH loài người
- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một
GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)
- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:
chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)
- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch
sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước ta
+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích
GD của nước ta là xóa mù chữ
+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )
Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:
Các câu hỏi:
1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách
GD, đổi mới và chỉnh lý GD?
2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD
3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản
mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?
Trả lời
- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH
- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, p`hương pháp và hình thức tổ chức GD
+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo
+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển
+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên
- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát
triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành
Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,
đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu
về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp
- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức
+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực
Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực
* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT
* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:
- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình
GD phù hợp
- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển
* Tính lịch sử của GD:
GD nảy sinh cùng XH loài người nên
GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của
XH loài người
- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một
GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)
- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:
chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)
- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch
sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước ta
+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích
GD của nước ta là xóa mù chữ
+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )
Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:
Các câu hỏi:
1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách
GD, đổi mới và chỉnh lý GD?
2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD
3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản
mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?
Trả lời
- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH
- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GD
+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo
+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển
+ KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên
- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát
triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành
Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới,
đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu
về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp
- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức
+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực
Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực
* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT
* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:
- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình
GD phù hợp
- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển
* Tính lịch sử của GD:
GD nảy sinh cùng XH loài người nên
GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của
XH loài người
- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một
GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)
- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam:
chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)
- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch
sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước ta
+ Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích
GD của nước ta là xóa mù chữ
+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ )
Chủ đề 1: TÍNH QUY ĐỊNH CỦA XH ĐỐI VỚI GD, TÍNH LỊCH SỬ, TÍNH GIAI CẤP CỦA GD:
Các câu hỏi:
1 Giải thích vì sao phải thường xuyên cải cách
GD, đổi mới và chỉnh lý GD?
2 Từ tính quy định của XH đối với GD hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp của GD
3 Hãy giải thích vì sao áp dụng nguyên bản mô hình GD của một nước tiên tiến vào GD Việt nam là việc làm sai lầm?
Trả lời
- GD là một hình thái ý thức XH, nó có các chức năng XH góp phần thúc đẩy sự phát triển của
XH, nhưng GD lại chịu sự quy định của XH: Chịu sự quy định của trình độ phát triển kinh tế sản xuất, chịu sự phát triển của trình độ văn hóa, chịu các yếu tố tác động của chính trị XH
- Trình độ phát triển của kinh tế sản xuất sẽ quy định tính chất của nền GD, quy định mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GD
+ KT sản xuất phát triển nó luôn luôn đặt ra yêu cầu mới đối với GD về nhân cách người lao động => buộc GD phải thường xuyên đổi mới thường xuyên về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD để đáp ứng với XH về nguồn nhân lực được đào tạo
+ KT SX phát triển nó sẽ hỗ trợ về CSVC, về phương tiện kỹ thuật hiện đại để GD phát triển + KT SX phát triển nhưng phải luôn luôn đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó đòi hỏi yếu tố công nghệ, chuyển giao công nghệ có vị trí quan trọng => đòi hỏi người lao động cần phải được đào tạo thường xuyên
- Trong XH CNH – HĐH, kinh tế và sự phát
triển KT làm cho con người tham gia vào quy trình SX không chỉ với tư cách là người lao động mà còn là nhà quản lý, người điều hành
Vì vậy trình độ được đào tạo của người lao động luôn luôn được đặt ra những yêu cầu mới, đó là yêu cầu về tri thức chuyên môn, yêu cầu về năng lực quản lý và yêu cầu về khả năng giao tiếp
- Cùng với sự phát triển của KT thị trường và sự phát triển của KHCN tạo cho GD-ĐT có những động lực, mục tiêu mới để phát triển, nhưng bên cạnh đó thì nó cũng tạo cho GD-ĐT những nguy cơ và thách thức
+ Nguy cơ thương mại hóa về GD + Nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực
Từ đó đặt ra vấn đề mới: phải kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng; vấn đề hội nhập quốc tế, khu vực
* Tính quy định của KTSX đối với GD-ĐT
* Tính quy định của VH, chính trị XH đối với GD:
- Các giá trị văn hóa XH, trình độ dân trí nó quy định tính chất, mục tiêu, nội dung, chương trình
GD phù hợp
- Chế độ chính trị XH ổn định, nền chính trị tiên tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GD phát triển
* Tính lịch sử của GD:
GD nảy sinh cùng XH loài người nên
GD b.đổi, p.triển cùng với sự b.đổi, p.triển của
XH loài người
- Trình độ phát triển của XH nó quy định tính chất và trình độ phát triển của GD, như vậy ứng với mỗi một giai đoạn lịch sử của XH thì có một
GD tương ứng (mỗi giai đoạn lịch sử XH có tình hình KT, CT, VH, XH khác nhau-> đặt ra các y/c khác nhau cho GD -> GD có phương hướng, n.vụ m.đích, hình thức tổ chức khác nhau)
- Trong mỗi quốc gia độc lập khác nhau có một nền GD khác nhau Nền Gd đó phản ánh bản sắc dân tộc của Q.gia đó, phục vụ cho yêu cầu tồn tại và phát triển của quốc gia đó, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị XH của QG đó (Phương Tây: chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam: chủ nghĩa nhân văn, cộng đồng)
- Trong cùng một quốc gia ở các gia đoạn lịch sử khác nhau thì GD cũng khác nhau: VD ở nước
ta + Năm 1945: 95% dân số mũ chữ => mục đích
GD của nước ta là xóa mù chữ
+ Năm 1946: mục đích GD là phục vụ kháng chiến: đào tạo các lớp ngắn hạn (y tế, bác sĩ ) + Năm 1954: hòa bình lập lại ở Miền Bắc, mục
Trang 3Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI
CỦA GIÁO DỤC:
- Phân tích các chức năng xã hội của GD?
+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?
+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?
- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân
tích 1trong 3 chức năng?
- GD Có những chức năng nào? Phân tích
chức năng kinh tế?
Trả lời:
- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH
loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh
nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ
sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa
có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người
mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân
cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp
cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn,
hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động
lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng
với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát
triển thông qua việc thực hiện các chức năng
XH, đó là các chức năng:
+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng
+ Chính trị xã hội
1 Chức năng kinh tế sản xuất:
- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ
mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ
tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối
với sự phát triển của XH và con người, nó thúc
đẩy kinh tế sản xuất phát triển:
- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc
đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp
phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy
kinh tế SX phát triển):
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng
con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ
KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp
và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu
cầu của sự phát triển sản xuất
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng
con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị
lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức
mới, những năng lực mới để đáp ứng được với
những biến đổi không ngừng của KTSX
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng
con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,
GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích
cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ
thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến
đổi của XH, của KTSX
- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp,
giúp cho con người có khả năng thích ứng cao
với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp
trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát
triển
- GD tham gia vào chương trình dân số
KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính
sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số,
thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất
lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy
kinh tế sản xuất phát triển
- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm
nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho
người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT
gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất
phát triển
- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn
luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất
phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD
thì không có cán bộ và không nói gì đến phát
triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu
nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng
trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng
trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn
không thắng ”
- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển,
chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng
GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng
nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX
Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX
phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với
GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:
+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải
đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT
trong các nhà trường
+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư
tưởng, nâng cao năng lực quản lý
+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá,
văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,
Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:
- Phân tích các chức năng xã hội của GD?
+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?
+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?
- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?
- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?
Trả lời:
- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa
có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng
XH, đó là các chức năng:
+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội
1 Chức năng kinh tế sản xuất:
- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ
mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:
- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh tế SX phát triển):
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp
và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,
GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích
cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX
- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển
- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”
- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX
Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:
+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường
+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý
+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,
Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:
- Phân tích các chức năng xã hội của GD?
+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?
+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?
- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?
- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?
Trả lời:
- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa
có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng
XH, đó là các chức năng:
+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội
1 Chức năng kinh tế sản xuất:
- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ
mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:
- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh tế SX phát triển):
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp
và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,
GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích
cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX
- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển
- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”
- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX
Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:
+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường
+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý
+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,
Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:
- Phân tích các chức năng xã hội của GD?
+ trong đó chức năng nào quan trọng nhất?
+ Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?
- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?
- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?
Trả lời:
- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa
có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng
XH, đó là các chức năng:
+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội
1 Chức năng kinh tế sản xuất:
- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ
mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:
- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh tế SX phát triển):
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp
và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,
GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích
cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX
- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển
- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”
- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX
Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn:
+ Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường
+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý
+ Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,
Chủ đề 2: CÁC CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC:
- Phân tích các chức năng xã hội của GD? + trong đó chức năng nào quan trọng nhất? + Mỗi quan hệ giữa các chức năng đó?
- GD thực hiện các chức năng XH nào? Phân tích 1trong 3 chức năng?
- GD Có những chức năng nào? Phân tích chức năng kinh tế?
Trả lời:
- GD là 1 hiện tượng XH đặc biệt, chỉ có ở XH loài người Về bản chất GD là sự truyền đạt kinh nghiệm XH lịch sử giữa thế hệ trước cho thế hệ sau, giữa người có kinh nghiệm cho người chưa
có kinh nghiệm Nhờ có GD mà cá thể người mới trở thành nhân cách Nhờ có GD mà nhân cách con người ko ngừng được hoàn thiện giúp cho con người ngày càng phát triển đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn để họ thực sự là nguồn lực, động lực của sự phát triển GD có mqh biện chứng với các quá trình XH GD thúc đẩy XH phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng
XH, đó là các chức năng:
+ Kinh tế sản xuất + Văn hóa tư tưởng + Chính trị xã hội
1 Chức năng kinh tế sản xuất:
- GD là một hình thái ý thức XH nó có quan hệ
mật thiết với các hình thái ý thức XH khác và hạ tầng cơ sở Nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của XH và con người, nó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển:
- GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH, thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH (thông qua đó góp phần làm cho LLSX phát triển => thúc đẩy kinh
tế SX phát triển):
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường tạo nguồn nhân lực có trình độ KHKT ngày càng cao, có kỹ năng nghề nghiệp
và khả năng thích ứng với yêu cầu của XH, yêu cầu của sự phát triển sản xuất
+ GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường đào tạo lại lực lượng lao động đã bị lỗi thời, giúp họ cập nhật, bổ sung những tri thức mới, những năng lực mới để đáp ứng được với những biến đổi không ngừng của KTSX + GD tái sản xuất ra sức lao động cho XH bằng con đường GD thường xuyên và GD xuất đời,
GD cộng đồng, bằng con đường khuyến khích
cá nhân tự học để nâng cao trình độ, giúp họ thích ứng với những yêu cầu không ngừng biến đổi của XH, của KTSX
- GD tham gia vào hoạt động hướng nghiệp, giúp cho con người có khả năng thích ứng cao với LĐ nghề nghiệp, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp trong XH, thông qua đó thúc đẩy nề KT phát triển
- GD tham gia vào chương trình dân số KHHGĐ để giúp người dân thực hiện tốt chính sách KHHGĐ, làm giảm tỷ lệ gia tăng dân số, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, nâng cao chất lượng nòi giống, chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- GD tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo bằng con đường phổ biến kiến thức cho người dân, giúp cho người dân phát triển hộ KT gia đình, thông qua đó thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển
- Với chức năng kinh tế sản xuất GD phải luôn luôn làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao để thúc đẩy kinh tế sản xuất phát triển, vì vậy Bác Hồ có nói “không có GD thì không có cán bộ và không nói gì đến phát triển kinh tế văn hóa xã hội” Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo VN: “các bạn thắng trong cuộc đua về GD, thì các bạn sẽ thắng trong cuộc đua phát triển kinh tế, nếu các bạn không thắng ”
- Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng SP hàng hóa gắn liến với chất lượng GD&ĐT Vì vậy đòi hỏi GD phải ko ngừng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu KTSX
Để GD thực sự là động lực thúc đẩy KTSX phát triển thì đỏi hỏi yêu cầu đặt ra đối với GD&ĐT là phải làm tốt 3 nguồn vốn: + Nguồn vốn nhân lực (con người): GD phải đổi mới, cải cách để nâng cao chất lượng ĐT trong các nhà trường
+ Nguồn vốn về tổ chức: Làm tốt công tác tư tưởng, nâng cao năng lực quản lý + Nguồn vốn về yếu tố XH (dân trí, văn hoá, văn minh ): phải phát triển GD thường xuyên,
Trang 4Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC
TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM
TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ
TRÌNH GIÁO DỤC.
* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội
được tổ chức một cách có mục đích; trong đó
dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G),
người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo
dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những
phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như
vậy, trong QTGD:
- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được
thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều
chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người
được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện
đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục
tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn
những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều
đó được chi tiết hoá trong chương trình,
KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con
người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự
GD, tự rèn luyện
- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động
SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự
rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng
bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó
trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại,
thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những
tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo
dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động
qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa
của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự
tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai
mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục
* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa
rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT
- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với
các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính
trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách
chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và
giáo dục);
- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động
qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy
dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng
GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ
đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động
nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động
GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc
lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và
chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh
nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân
người học, biến quá trình GD thành quá trình tự
GD
* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể
(QTrGD theo nghĩa rộng)
- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình
thành phát triển nhân cách con người được tiến
hành một cách mục đích, có kế hoạch, được
thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và
đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay
tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh
nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân
- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình
bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo
nghĩa hẹp
+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr
học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH
là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển
năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được
tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH,
nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ
chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của
người học, kết quả của QTrDH giữa các thành
tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ
trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho
QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép
kín vận động và phát triển không ngừng
+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động
GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội
của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý
thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen
phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH
Hai quá trình trên đều có chung một mục
đích: hình thành và phát triển nhân cách con
người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển
XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn
nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở
h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói
quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của
XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin,
hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực
Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.
* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội
được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:
- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều
đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự
GD, tự rèn luyện
- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động
SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục
* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT
- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);
- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng
GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động
GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD
* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)
- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân
- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình
bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp
+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH
là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành
tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng
+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động
GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH
Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển
XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực
Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.
* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội
được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:
- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều
đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự GD, tự rèn luyện
- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động
SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục
* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT
- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);
- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng
GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động
GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD
* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)
- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân
- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình
bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp
+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH
là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành
tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng
+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động
GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH
Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển
XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực
Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.
* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội
được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:
- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều
đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự
GD, tự rèn luyện
- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động
SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục
* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT
- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);
- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng
GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động
GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD
* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)
- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân
- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình
bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp
+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH
là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành
tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng
+ QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động
GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH
Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển
XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực
Chủ đề 3: CÁC ĐẶC ĐIỂM ( ĐẶC TRƯNG) CỦA QUÁ TRÌNH SƯ PHẠM TỔNG THỂ VÀ CẤU TRÚC CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC.
* Khái niệm: QTGD là một quá trình xã hội
được tổ chức một cách có mục đích; trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục(G), người được giáo dục (H) tự giác, tích cực tự giáo dục nhằm hình TGQ, NSQ khoa học và những phẩm chất của nhân cách mà XH đòi hỏi Như vậy, trong QTGD:
- G giữ vai trò chủ đạo Vai trò này của G được thể hiện trong việc tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình hình thành nhân cách của người được GD Vai trò chủ đạo của G được thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hoá mục đích, mục tiêu GD, xác định nội dung cần GD, lựa cọn những PP, PT và hình thức GD phù hợp Điều
đó được chi tiết hoá trong chương trình, KHGD, trong tổ chức hoạt động GD cho con người và giúp H tự tổ chức các hoạt động tự GD, tự rèn luyện
- H tồn tại với vai trò: là khách thể nhận tác động
SP của G, vừa là chủ thể của quá trình tự GD, tự rèn luyện, tích cực, chủ động rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách của mình Do đó trong QTGD luôn diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên tích cực giữa chủ thể của những tác động SP (G) và chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện (H) Nếu không có tác động qua lại này sẽ ko có QTGD theo đúng nghĩa của
nó Nói cách khác, trong QTGD diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất giữa hai mặt hoạt động: giáo dục và tự giáo dục
* Đặc điểm: QTSPTT (QTrGD theo nghĩa rộng) cũng là đặc trưng của QTrSPTT
- Là một quá trình XH có quan hệ mật thiết với các quá trình XH khác (quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa ) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo các quy luật của dạy học và giáo dục);
- Trong quá trình GD luôn luôn có sự tác động qua lại giữa các thành tố tham gia, đó người dạy dạy, người học hay nhà giáo dục – đối tượng
GD, trong đó nhà GD luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, đối tượng GD là chủ thể của hoạt động nhận thức, là đối tượng tác động của hoạt động
GD, nhà GD đóng vai trò tự giác tích cực, độc lập, sáng tạo tự tổ chức hoạt động nhận thức và chiếm lĩnh kinh nghiệm nhằm biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học, biến quá trình GD thành quá trình tự GD
* Cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể (QTrGD theo nghĩa rộng)
- QTrGD theo nghĩa rộng là quá trình hình thành phát triển nhân cách con người được tiến hành một cách mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giữa nhà GD và đối tượng
GD diễn ra trên bình diện cá nhân hay tập thể nhằm giúp đối tượng GD biến kinh nghiệm XH lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân
- QTrGD theo nghĩa rộng bao gồm 2 quá trình
bộ phận: đó là QTr dạy học và QTrGD theo nghĩa hẹp
+ QTDH bao gồm QTr dạy của GV và QTr học của HS, trong đó chức năng trội của QTDH
là hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ h/s QTrDH lại được tạo bởi các thành tố: mục đích, nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP, phương tiện DH, hình thức tổ chức DH, hoạt động của GV, hoạt động của người học, kết quả của QTrDH giữa các thành
tố đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó hỗ trợ và bổ sung kết quả cho nhau, giúp cho QTrDH và QTrGD trở thành 1 chu trình khép kín vận động và phát triển không ngừng + QTGD (theo nghĩa hẹp) bao gồm hoạt động
GD và h.động tự GD, trong đó chức năng trội của QTrGD theo nghĩa hẹp: là hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH Hai quá trình trên đều có chung một mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển
XH 2 quá trình này có mqh tác động qua lại lẫn nhau Thông qua QTrDH có thể hình thành ở h/s ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH; ngược lại nếu ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của h/s tốt sẽ tạo động lực
Trang 5Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN
CÁCH CON NGƯỜI:
Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra
con người, trong chừng mực con người sáng
tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của
mình về vấn đề trên.
Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi
trường là mối quan hệ biện chứng: con người
chịu tác động của môi trường, con người cải tạo
được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều
Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới
sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó
tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với
con người
* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH
thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc
điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan
hệ hành động của từng người với thế giới tự
nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính
bản thân
* Khái niệm về sự hình thành và phát triển
nhân cách: nhân cách con người sinh ra không
phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển
bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến
đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã
hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó
thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các
nhân tố sau đây:
- Di truyền;
- Môi trường;
- Giáo dục;
- Tính tích cực hoạt động của cá nhân
Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân
tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố
môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD
giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của
cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách
a Phân tích vai trò của di truyền:
* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền
lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất
nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là
hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính
sinh học có ở ông bà, cha mẹ
Trong hiện tượng di truyền thì có hiện
tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do
di truyền và có thể không phải do di truyền
* Vai trò của di truyền trong sự hình thành
và phát triển nhân cách: phân tích theo 2
quan điểm
a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di
truyền đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách:
- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và
phát triển nhân cách con người Đây là quan
điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy
truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ
cho rằng con vua thì lại làm vua)
- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền
không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và
phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai
lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di
truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề
vật chất trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ
gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn
thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách
a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò
của di truyền đối với quá trình hình thành và
phát triển nhân cách:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di
truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình
thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức
sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó
không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của
con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con
người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh
vực nhất định
- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân
cách, nhân cách con người được bắt đầu với con
số không và được hình thành và phát triển trong
những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người
đều được phát triển theo những sắc thái riêng,
giúp ta phân biệt người này với người khác
- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã
hội con người, những đặc điểm sinh học có sự
ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc
cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng
Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:
Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.
Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều
Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới
sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người
* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH
thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan
hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân
* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không
phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:
- Di truyền;
- Môi trường;
- Giáo dục;
- Tính tích cực hoạt động của cá nhân
Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân
tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của
cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
a Phân tích vai trò của di truyền:
* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ
Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do
di truyền và có thể không phải do di truyền
* Vai trò của di truyền trong sự hình thành
và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm
a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:
- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)
- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách
a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định
- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con
số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác
- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng
Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:
Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.
Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều
Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới
sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người
* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH
thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan
hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân
* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không
phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:
- Di truyền;
- Môi trường;
- Giáo dục;
- Tính tích cực hoạt động của cá nhân
Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân
tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của
cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
a Phân tích vai trò của di truyền:
* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ
Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do
di truyền và có thể không phải do di truyền
* Vai trò của di truyền trong sự hình thành
và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm
a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:
- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)
- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách
a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định
- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con
số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác
- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng
Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:
Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.
Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều
Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới
sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người
* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH
thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan
hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân
* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không
phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:
- Di truyền;
- Môi trường;
- Giáo dục;
- Tính tích cực hoạt động của cá nhân
Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân
tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của
cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
a Phân tích vai trò của di truyền:
* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ
Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do
di truyền và có thể không phải do di truyền
* Vai trò của di truyền trong sự hình thành
và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm
a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:
- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)
- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách
a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định
- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con
số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác
- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng
Chủ đề 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI:
Hay câu nói: Mác “hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh” Cho biết quan điểm của mình về vấn đề trên.
Vấn đề trên nói về quan hệ con người với môi trường là mối quan hệ biện chứng: con người chịu tác động của môi trường, con người cải tạo được môi trường Đó là mối quan hệ hai chiều Sau đó phân tích ảnh hưởng của môi trường tới
sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó tập trung nhấn mạnh quan hệ môi trường với con người
* Khái niệm nhân cách: Dưới góc độ GDH
thì nhân cách con người là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan
hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, với xã hội và với chính bản thân
* Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách: nhân cách con người sinh ra không
phải đã có, mà nó được hình thành và phát triển bao gồm: sự phát triển về mặt thể chất, sự biến đổi về mặt tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển đó thì nhân cách con người chịu sự chi phối của các nhân tố sau đây:
- Di truyền;
- Môi trường;
- Giáo dục;
- Tính tích cực hoạt động của cá nhân Trong tất cả các nhân tố nêu trên thì nhân
tố di truyền giữ vai trò tiền đề vật chất; nhân tố môi trường giữ vai trò điều kiện; nhân tố GD giữ vai trò chủ đạo; tính tích cực hoạt động của cá nhân giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách
a Phân tích vai trò của di truyền:
* Di truyền là hiện tượng ông bà, bố mẹ truyền lại cho cháu những đặc điểm, những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen, là hiện tượng tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở ông bà, cha mẹ
Trong hiện tượng di truyền thì có hiện tượng bẩm sinh: đó là sinh ra đã có: nó có thể do
di truyền và có thể không phải do di truyền
* Vai trò của di truyền trong sự hình thành
và phát triển nhân cách: phân tích theo 2 quan điểm
a.1 Quan điểm phi Mác Xít về vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:
- Di truyền là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là quan điểm sai lầm, nó ngụy biện cho việc duy trùy truyền thống thống trị của giai cấp thống trị (họ cho rằng con vua thì lại làm vua)
- Cũng ở trường phái này có cho rằng di truyền không giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Đây cũng là quan điểm sai lầm vì nó đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Trong thực tế, di truyền đóng vai trò tiền đề vật chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nếu con người thiếu hụt về tư chất sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thiện, rèn luyện để phát triển nhân cách
a.2 Quan điểm của GDH Mác Xít về vai trò của di truyền đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách, nó tạo tạo ra sức sống cho bản chất tự nhiên của con người, nó không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của con người, mà chỉ chỉ tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định
- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách con người được bắt đầu với con
số không và được hình thành và phát triển trong những điều kiện độc đáo, trong đó mỗi người đều được phát triển theo những sắc thái riêng, giúp ta phân biệt người này với người khác
- Di truyền không quyết định giới hạn tiến bộ xã hội con người, những đặc điểm sinh học có sự ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tài năng, tới xúc cảm, sức khỏe và thể lực của con người Nhưng
Trang 6Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là
một quá trình phát trình phát triển biện
chứng (hay quá trình DH là quá trình vận
động phát triển không ngừng) Hay: Chứng
minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn
vẹn.
Cấu trúc của QTDH và động lực của
QTDH?
Trả lời
1 Cấu trúc của QTDH
Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại
về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể
toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo
nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật,
hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất
định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất
định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp
xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng
QTDH là một bộ phận của quá trình sư
phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan
điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm
nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích,
nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương
pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ
chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết
quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và
chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc
luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với
nhau
+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng
đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV
-NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất
những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó
có vai trò định hướng cho sự vận động của các
thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống
Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự
thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,
Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự
thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học,
kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống
MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành
QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện
QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra,
đánh giá kết quả QTDH
+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ
thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và
phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành
tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G
và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản
ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có
tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối
hợp P- PtDH
+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới
động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy
H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH,
HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ
-NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó
lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH
PPDH là hệ thống cách thức hoạt động
phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH
nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm
vụ dạy học đề ra
PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P
dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều
khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học
là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển
hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P
học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy
nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính
chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)
Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù
hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần
phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp
với P học của H mới mang lại k/quả cao
PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể
chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng
trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực
hiện bởi một hay một số PtDH nhất định
P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và
NDDH Nó được xem là một thành tố để G
truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội
NDDH
+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách
thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt
động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm
cụ thể , một thời gian nhất định với phương
pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục
đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học
có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục
đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương
pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến
Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.
Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?
Trả lời
1 Cấu trúc của QTDH
Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại
về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng
QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau
+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó
có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống
Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,
Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống
MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH
+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành
tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G
và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH
+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy
H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH
PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm
vụ dạy học đề ra
PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P
dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều
khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học
là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển
hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)
Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao
PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH
+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách
thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm
cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học
có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến
Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.
Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?
Trả lời
1 Cấu trúc của QTDH
Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại
về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng
QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau
+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó
có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống
Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,
Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống
MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH
+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành
tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G
và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH
+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy
H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH
PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm
vụ dạy học đề ra
PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P
dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều
khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học
là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển
hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)
Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao
PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH
+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách
thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm
cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học
có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến
Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.
Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?
Trả lời
1 Cấu trúc của QTDH
Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại
về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng
QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau
+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó
có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống
Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,
Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống
MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH
+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành
tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G
và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH
+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy
H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH
PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm
vụ dạy học đề ra
PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P
dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều
khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học
là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển
hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định)
Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao
PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH
+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách
thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm
cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học
có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến
Chủ đề 6: Chứng minh quá trình dạy học là một quá trình phát trình phát triển biện chứng (hay quá trình DH là quá trình vận động phát triển không ngừng) Hay: Chứng minh rằng QTrDH là một hệ thống toàn vẹn.
Cấu trúc của QTDH và động lực của QTDH?
Trả lời
1 Cấu trúc của QTDH
Xét theo quan điểm hệ thống, mỗi tồn tại
về mặt tự nhiên hay xã hội đều là một chỉnh thể toàn vẹn bao gồm các yếu tố cấu thành Theo nghĩa chung nhất, cấu trúc của bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một cấu tạo nhất định, được đặc trưng bởi một sự tổ chức nhất định, trong đó quy định chức năng và trật tự sắp xếp các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng QTDH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, một quá trình xã hội Theo quan điểm hệ thống, QTDH là một hệ thống gồm nhiều thành tố cấu trúc ( 7 thành tố: Mục đích, nhiệm vụ-MĐNV; nội dung-ND; Phương pháp, phương tiện-P,Pt ; hình thức tổ chức-HTTC; thầy với HĐ dạy; trò với HĐ học; kết quả DH), mỗi thành tố có vị trí, có vai trò và chức năng đặc thù, giữa các thành tố cấu trúc luôn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau
+ MĐNV - NVDH là thành tố có vị trí hàng đầu trong cấu trúc của QTDH, MĐNV -NVDH phản ánh tập trung và sinh động nhất những yêu cầu của xã hội đối với QTDH Nó
có vai trò định hướng cho sự vận động của các thành tố cấu trúc khác và cho toàn bộ hệ thống Khi MĐNV - NVDH thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của NDDH, kéo theo sự thay đổi của P,
Pt, HTTCDH v.v Và như vậy, nó kéo theo sự thay đổi của hoạt động dạy và hoạt động học, kéo theo sự thay đổi của toàn bộ hệ thống MĐNVDH được xây dựng trước khi tiến hành QTDH, được điều chỉnh trong khi thực hiện QTDH, MĐNVDH là cơ sở để để kiểm tra, đánh giá kết quả QTDH
+ NDDH là thành tố cơ bản của QTDH, là hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành và phát triển cho H trong QTDH NDDH là thành
tố tạo nên nội dung hoạt động thống nhất của G
và H, giữa dạy và học trong QTDH, nó phản ánh MĐ - NVDH do xã hội đặt ra NDDH có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn, vận dụng phối hợp P- PtDH
+ P - PtDH, HTTCDH là thành tố tác động tới động cơ, hứng thú, tính tích cực của H, thúc đẩy
H tiến hành hoạt động học tập P - PtDH, HTTCDH chịu sự định hướng của MĐ -NVDH, chịu sự chỉ đạo của NDDH nhưng nó lại ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của QTDH PPDH là hệ thống cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa G và H trong QTDH nhằm giúp H hoàn thành có hiệu quả các nhiệm
vụ dạy học đề ra
PPDH gồm P dạy và P học Trong đó P
dạy là cách thức truyền đạt tri thức và điều
khiển hoạt động nhận thức cho H của G, P học
là cách thức lĩnh hội tri thức và tự điều khiển
hoạt động nhận thức của H P dạy quy định P học, P học chịu sự t/ động, chi phối của P dạy nhưng luôn giữ tính độc lập tương đối (do tính chủ thể trong h.động nhận thức của H quy định) Trong thực tiễn DH, khi P dạy của G không phù hợp với P nhận thức của H thì đòi hỏi G cần phải thay đổi P giảng dạy của mình để phù hợp với P học của H mới mang lại k/quả cao PtDH là hệ thống vật thể và phi vật thể chứa đựng ND và PPDH mà G và H sử dụng trong QTDH PPDH bao giờ cũng được thực hiện bởi một hay một số PtDH nhất định P-PtDH luôn chịu sự quy định của MĐ-NV và NDDH Nó được xem là một thành tố để G truyền NDDH đến H và H dùng nó để lĩnh hội NDDH
+ Hình thức tổ chức dạy học: Là toàn bộ cách
thức tổ chức hoạt động dạy của thày, và hoạt động học của trò, được diễn ra ở một địa điểm
cụ thể , một thời gian nhất định với phương pháp, phương tiện cụ thể nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ đề ra Hình thức tổ chức dạy học
có vị trí vai trò: Chịu sự định hướng của mục đích dạy học, sự chỉ đạo của nội dung, phương pháp dạy học đồng thời nó có ảnh hưởng đến
Trang 7Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH
và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.
- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các
bước
+ Khái niệm QTrDH là gì
+ Kể tên 3 nhiệm vụ DH
+ Phân tích từng nhiệm vụ
+ Chỉ ra mối quan hệ
Trả lời
Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học
hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu
của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng
trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như
thế nào là quá trình dạy học?
Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm
lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư
phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa
học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ
thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội
của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản
thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm
thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí
dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình
dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và
giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có
tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ
đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên
kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự
điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ
là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển
lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi,
tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn,
trọng tài
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các
thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau
theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau,
quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất
biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Các nhiệm vụ dạy học:
- Cung cấp tri thức cho học sinh
- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí
tuệ
- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm
chất đúng
Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học
hình thành, phát triển hệ thống những tri
thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp
với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh
đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ
xảo tương ứng.
- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;
Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,
- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần
thiết cho mọi người
- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền
để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc
đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau
- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất
phản ánh được những thành tựu mới nhất của
văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện
thực khách quan
Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học
hình thành và phát triển năng lực hoạt động
trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ
- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân
thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự
tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành
thạo các thao tác trí tuệ
- Dạy học có nhiệm vụ:
+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí
tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt
động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát
triển ở học sinh những năng lực sau:
Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức
gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư
duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy
luận; Năng lực độc lập sáng tạo
Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh
ở học sinh
+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí
tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của
hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính
phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính
khái quát
* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan
hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển
Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH
và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.
- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước
+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời
Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?
Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên
kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ
là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Các nhiệm vụ dạy học:
- Cung cấp tri thức cho học sinh
- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ
- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng
Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;
Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,
- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người
- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền
để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc
đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau
- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan
Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ
- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ
- Dạy học có nhiệm vụ:
+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau:
Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo
Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh
ở học sinh
+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát
* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan
hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển
Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH
và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.
- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước
+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời
Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?
Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên
kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ
là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Các nhiệm vụ dạy học:
- Cung cấp tri thức cho học sinh
- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ
- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng
Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;
Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,
- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người
- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền
để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc
đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau
- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan
Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ
- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ
- Dạy học có nhiệm vụ:
+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau:
Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo
Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh
ở học sinh
+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát
* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan
hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển
Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH
và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.
- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước
+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời
Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?
Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định:
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên
kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ
là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Các nhiệm vụ dạy học:
- Cung cấp tri thức cho học sinh
- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ
- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng
Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;
Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,
- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người
- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền
để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc
đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau
- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan
Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ
- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ
- Dạy học có nhiệm vụ:
+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau:
Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo
Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh
ở học sinh
+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát
* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan
hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển
Chủ đề 7: Phân tích các nhiệm vụ của DH
và mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó.
- Trình bày cả 3 nhiệm vụ DH: theo các bước
+ Khái niệm QTrDH là gì + Kể tên 3 nhiệm vụ DH + Phân tích từng nhiệm vụ + Chỉ ra mối quan hệ Trả lời
Quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học hoá học nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Nhưng trước tiên chúng ta hãy cùng nhau xem xét như thế nào là quá trình dạy học?
Như GS.Nguyễn Ngọc Quang đã xác định: Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3 mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục Vậy quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa học sinh và giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ của dạy học Trong đó học sinh cần phải có tính tự giác, tích cực trong học tập, không chờ đợi ở giáo viên mà cần phải biết tự tổ chức, lên
kế hoạch học tập cho mình Học sinh cần tự điều khiển quá trình nhận thức và giáo viên chỉ là người chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển lớp học, học sinh Khi có vấn đề gì cần trao đổi, tranh luận thì giáo viên sẽ đóng vai trò là cố vấn, trọng tài
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Các nhiệm vụ dạy học:
- Cung cấp tri thức cho học sinh
- Giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động trí tuệ
- Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đúng
Nhiệm vụ 1: T/chức điều khiển người học hình thành, phát triển hệ thống những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và tư duy của học sinh đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
- Tri thức: Những kinh nghiệm đã tích luỹ được;
Là kết quả phản ánh hiện thực khách quan,
- Tri thức phổ thông: Là tri thức tối thiểu, cần thiết cho mọi người
- Tri thức cơ bản: Là tri thức tạo nền tảng lâu bền
để người học có thể tiếp tục học nâng cao hoặc
đi vào các chuyên ngành sâu khác nhau
- Tri thức hiện đại: Là những tri thức mới nhất phản ánh được những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học … và phải phù hợp với hiện thực khách quan
Nhiệm vụ 2: Tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và những phẩm chất trí tuệ
- Năng lực hoạt động trí tuệ của một cá nhân thường được biểu hiện thông qua 2 chỉ số: Sự tích luỹ vốn tri thức và khả năng sử dụng thành thạo các thao tác trí tuệ
- Dạy học có nhiệm vụ:
+ Hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh Muốn phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh thì giáo viên phải phát triển ở học sinh những năng lực sau: Năng lực nhận thức: Trong năng lực nhận thức gồm có 4 năng lực nhỏ: Nhận thức vấn đề; Tư duy tưởng tượng; Nhận thức phán đoán và suy luận; Năng lực độc lập sáng tạo
Năng lực thực hành: Phát triển trí thông minh ở học sinh
+ H/thành và p/ triển ở HS những phẩm chất trí tuệ: Tính định hướng; Bề rộng và chiều sâu của hoạt động trí tuệ; Tính linh hoạt, mềm dẻo; Tính phê phán; Tính nhất quán; Tính độc lập; Tính khái quát
* Giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan
hệ qua lại với nhau Dạy học góp phần phát triển
Trang 8Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình
dạy học Động lực QTrDH.
1 Bản chất QTDH
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các
thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau
theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau,
quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất
biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Những cơ sở để xác định bản chất của
QTDH:
- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt
động dạy học
- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và
hoạt động học của trò
+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng
dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học
sinh;
+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ
chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo
+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ
thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức
+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt
động nhận thức Nhận thức của loài người
khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm
ra cái mới cho bản thân)
- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là
hoạt động độc đáo
Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình
dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H
dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong
nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều
kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều
khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá
trình nhận thức của loài người…
* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình
nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài
người nói chung
+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của
con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến
và kết thúc theo thời gian, không gian…
+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm
hiểu thế giới khách quan
+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới
theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con
đường biện chứng của sự nhận thức chân lý,
nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H
cũng như loài người nh.thức TG bằng con
đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ
cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ
đơn giản đến phức tạp)
+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính
tích cực; tính sáng tạo
* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong
QTNT của H):
Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc
đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức
của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư
phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó
có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của
loài người…
+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn
ra theo con đường “thử và sai” như quá trình
nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra
theo con đường đã được khám phá, có sự gia
công sư phạm của người giáo viên
+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải
tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri
thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận
thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình
- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở
trường PT nên học sinh không thể và không
phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài
người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức
phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn
của đất nước và tư duy của học sinh nên học
sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi
- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự
kiểm tra đánh giá của giáo viên
- Trong quá trình nhận thức của người học qua
việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận
thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so
sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk
tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ),
mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai
tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời
Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.
1 Bản chất QTDH
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:
- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học
- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh;
+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức
+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người
khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm
ra cái mới cho bản thân)
- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo
Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình
dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung
+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến
và kết thúc theo thời gian, không gian…
+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan
+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H
cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)
+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo
* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):
Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó
có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn
ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên
+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình
- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi
- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên
- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk
tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời
Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.
1 Bản chất QTDH
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:
- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học
- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh;
+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức
+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người
khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm
ra cái mới cho bản thân)
- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo
Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình
dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung
+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến
và kết thúc theo thời gian, không gian…
+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan
+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H
cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)
+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo
* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):
Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó
có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn
ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên
+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình
- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi
- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên
- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk
tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời
Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.
1 Bản chất QTDH
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:
- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học
- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh;
+ Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức
+ Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người
khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm
ra cái mới cho bản thân)
- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo
Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình
dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung
+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến
và kết thúc theo thời gian, không gian…
+ Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan
+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H
cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)
+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo
* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):
Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó
có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn
ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên
+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình
- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi
- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên
- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk
tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời
Chủ đề 8: Phân tích bản chất của Quá trình dạy học Động lực QTrDH.
1 Bản chất QTDH
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, ở đó các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên một sự thống nhất biện chứng
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học
Những cơ sở để xác định bản chất của QTDH:
- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học
- Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
+ Thầy: Giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh; + Dạy: Truyền đạt những kỹ năng, kỹ xảo; Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
+ Trò: Khách thể, chịu sự tác động của thầy, chủ thể của hoạt động học, hoạt động nhận thức + Học: Quá trình tiếp thu lĩnh hội tri thức - Hoạt động nhận thức Nhận thức của loài người
khác Hoạt động nhận thức của học sinh (Tìm
ra cái mới cho bản thân)
- Hoạt động nhận thức của học sinh được coi là hoạt động độc đáo
Bản chất của QTDH: Bản chất của quá trình
dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của H dưới vai trò chủ đạo của G Tính độc đáo trong nhận thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của G Nó có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
* Những điểm giống nhau: Thể hiện q/ trình nh.thức của H giống quá trình nh.thức của loài người nói chung
+ Là quá trình phản ánh TGKQ vào ý thức của con người Quá trình này có mở đầu, diễn biến
và kết thúc theo thời gian, không gian… + Mục đích nhận thức: Nhằm khám phá, tìm hiểu thế giới khách quan
+ Con đường nhận thức: Nhận thức thế giới theo công thức nhận thức mà Lênin đã chỉ ra:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, H
cũng như loài người nh.thức TG bằng con đường quy nạp (từ cái riêng đến cái chung, từ cái
cụ thể đến cái khái quát, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp)
+ Đặc điểm nhận thức: Mang tính chủ thể; tính tích cực; tính sáng tạo
* Những điểm khác nhau (tính độc đáo trong QTNT của H):
Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc đáo của người học Tính độc đáo trong nh thức của H vì nó được diễn ra trong điều kiện sư phạm, dưới sự h/dẫn, tổ chức đ/khiển của G Nó
có tính đặc biệt khác với quá trình nhận thức của loài người…
+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn
ra theo con đường “thử và sai” như quá trình nhận thức chung của loài người mà nó diễn ra theo con đường đã được khám phá, có sự gia công sư phạm của người giáo viên + Quá trình nhận thức của học sinh không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà chỉ tái tạo lại tri thức mà loài người đã tạo ra, nên học sinh nhận thức cái mới là chỉ đối với bản thân mình
- Quá trình nhận thức của H tương đối ngắn ở trường PT nên học sinh không thể và không phải nhận thức toàn bộ kho tàng tri thức của loài người mà chỉ có thể nhận thức những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thức tiễn của đất nước và tư duy của học sinh nên học sinh có thể nắm vững một cách thuận lợi
- Trong quá trình nhận thức của học sinh có sự kiểm tra đánh giá của giáo viên
- Trong quá trình nhận thức của người học qua việc so sánh nhận thức của học sinh với nhận thức của nhà khoa học (Lưu ý các tiêu chí so sánh: đối tượng, tính chất, điều kiện (nhà KH đk
tự thân, người học dưới môi trường sư phạm ), mục đích (nhà KH tìm ra cái mới mà chưa ai tìm ra, người học tìm cái mới so với mình), thời gian nhận thức(nhà KH là vô hạn, người học có
Trang 9Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp
DH, các nhóm PPDH ở trường phổ
thông và trường chuyên nghiệp Nêu
quan điểm (phân tích) về đổi mới
PPDH hiện nay.
Trả lời
Phương pháp dạy học là tổ hợp
cách thức hoạt động của thầy và trò mà
thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy
học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ
dạy học và đạt được mục đích dạy học
đã đề ra
Hệ thống các phương pháp:
1) Phương pháp thuyết trình
2) Trực quan
3) Nêu vấn đề
4) Hỏi đáp
5) Giảng giải
6) Theo nhóm
7) Dạy học theo dự án
8) Thảo luận nhóm
9) Tình huống
10) Kiểm tra, đánh giá
Chia thành các nhóm:
- Nhóm phương pháp dùng lời
- Nhóm phương pháp thực hành
- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh
giá
- Các phương pháp dạy học khác
* Dựa vào các khâu của QTDH có thể
chia phương pháp dạy học thành các
nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức
thực hiện nhận thức; Các phương pháp
kiểm tra, đánh giá
* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận
thức chia thành: Nhóm các phương
pháp dạy học tái hiện; Nhóm các
phương pháp giải thích, minh hoạ;
Nhóm các phương pháp dạy học nêu
vấn đề
- Nhóm các phương pháp dạy học dùng
lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và
viết, nhóm phương pháp này gồm:
Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK
và các tài liệu tham khảo khác
- Nhóm phương pháp dạy học trực
quan:
+ Phương pháp trình bày trực quan:
+ Phương pháp quan sát: Sử dụng
phương háp quan sát phải có được mục
đích, kế hoạch cụ thể
- Nhóm phương pháp dạy học thực
hành:
+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp
lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến
nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập
nói, viết, thực hành)
+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá,
khái quát hoá lại những kiến thức đã
học
+ Phương pháp thí nghiệm
- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh
giá:
- Một số phương pháp dạy học tích cực
khác:
+ Phương pháp dạy học dự án:
+ Phương pháp dạy học bằng tình
huống
+ Phương pháp thảo luận nhóm:
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh
những phương hướng sau đây:
- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của
giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã
hội mới của đất nước ta trong thời kì
CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và
việc làm của người lao động đã đặt ra
những yêu cầu mới đối với việc đào tạo
nguồn nhân lực và những chủ nhân mới
của đất nước trong tương lai, thể hiện
trong những yêu cầu về phẩm chất và
năng lực của mục tiêu giáo dục THPT
Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra
rằng, những phẩm chất và năng lực đó
chỉ được hình thành và phát triển thông
qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm
tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập ,
thông qua các hình thức tương tác giữa
giáo viên với học sinh, giữa học sinh
với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng
đầu của việc đổi mới chương trình GD
THPT là đổi mới phương pháp dạy học
trong nhà trường theo các định hướng
“Phương pháp GD phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn
học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,
Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp
DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.
Trả lời
Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học
đã đề ra
Hệ thống các phương pháp:
1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan
3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá
Chia thành các nhóm:
- Nhóm phương pháp dùng lời
- Nhóm phương pháp thực hành
- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Các phương pháp dạy học khác
* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá
* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ;
Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề
- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm:
Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK
và các tài liệu tham khảo khác
- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:
+ Phương pháp trình bày trực quan:
+ Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể
- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:
+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến
nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)
+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học
+ Phương pháp thí nghiệm
- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:
- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:
+ Phương pháp dạy học dự án:
+ Phương pháp dạy học bằng tình huống
+ Phương pháp thảo luận nhóm:
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:
- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT
Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng
“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,
Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp
DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.
Trả lời
Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học
đã đề ra
Hệ thống các phương pháp:
1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan
3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá
Chia thành các nhóm:
- Nhóm phương pháp dùng lời
- Nhóm phương pháp thực hành
- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Các phương pháp dạy học khác
* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá
* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ;
Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề
- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm:
Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK
và các tài liệu tham khảo khác
- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:
+ Phương pháp trình bày trực quan:
+ Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể
- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:
+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến
nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)
+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học
+ Phương pháp thí nghiệm
- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:
- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:
+ Phương pháp dạy học dự án:
+ Phương pháp dạy học bằng tình huống
+ Phương pháp thảo luận nhóm:
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:
- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT
Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng
“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,
Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp
DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.
Trả lời
Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học
đã đề ra
Hệ thống các phương pháp:
1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan
3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá
Chia thành các nhóm:
- Nhóm phương pháp dùng lời
- Nhóm phương pháp thực hành
- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Các phương pháp dạy học khác
* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá
* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ;
Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề
- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm:
Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK
và các tài liệu tham khảo khác
- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:
+ Phương pháp trình bày trực quan:
+ Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể
- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:
+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến
nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)
+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học
+ Phương pháp thí nghiệm
- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:
- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:
+ Phương pháp dạy học dự án:
+ Phương pháp dạy học bằng tình huống
+ Phương pháp thảo luận nhóm:
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:
- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT
Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng
“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,
Chủ đề 10: Kể tên các phương pháp
DH, các nhóm PPDH ở trường phổ thông và trường chuyên nghiệp Nêu quan điểm (phân tích) về đổi mới PPDH hiện nay.
Trả lời
Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò mà thầy và trò sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học và đạt được mục đích dạy học
đã đề ra
Hệ thống các phương pháp:
1) Phương pháp thuyết trình 2) Trực quan
3) Nêu vấn đề 4) Hỏi đáp 5) Giảng giải 6) Theo nhóm 7) Dạy học theo dự án 8) Thảo luận nhóm 9) Tình huống 10) Kiểm tra, đánh giá
Chia thành các nhóm:
- Nhóm phương pháp dùng lời
- Nhóm phương pháp thực hành
- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Các phương pháp dạy học khác
* Dựa vào các khâu của QTDH có thể chia phương pháp dạy học thành các nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức thực hiện nhận thức; Các phương pháp kiểm tra, đánh giá
* Dựa vào tính chất của hoạt động nhận thức chia thành: Nhóm các phương pháp dạy học tái hiện; Nhóm các phương pháp giải thích, minh hoạ; Nhóm các phương pháp dạy học nêu vấn đề
- Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời: Cơ sở xuất phát từ ngôn ngữ nói và viết, nhóm phương pháp này gồm: Thuyết trình; Vấn đáp; Sử dụng SGK
và các tài liệu tham khảo khác
- Nhóm phương pháp dạy học trực quan:
+ Phương pháp trình bày trực quan: + Phương pháp quan sát: Sử dụng phương háp quan sát phải có được mục đích, kế hoạch cụ thể
- Nhóm phương pháp dạy học thực hành:
+ Phương pháp luyện tập: Là lặp đi lặp lại 1 hoạt động nào đó nhiều lần, biến
nó thành ký năng, kỹ xảo (luyện tập nói, viết, thực hành)
+ Phương pháp ôn tập: Hệ thống hoá, khái quát hoá lại những kiến thức đã học
+ Phương pháp thí nghiệm
- Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá:
- Một số phương pháp dạy học tích cực khác:
+ Phương pháp dạy học dự án: + Phương pháp dạy học bằng tình huống
+ Phương pháp thảo luận nhóm: + Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Để đổi mới PPDH cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:
- Trong bối cảnh mới và xu thế mới của giáo dục hiện đại, tình hình kinh tế xã hội mới của đất nước ta trong thời kì CNH-HĐH, thực tiễn về đời sống và việc làm của người lao động đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực và những chủ nhân mới của đất nước trong tương lai, thể hiện trong những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mục tiêu giáo dục THPT Khoa học giáo dục hiện đại đã chỉ ra rằng, những phẩm chất và năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển thông qua và bằng các hoạt động tự lực, tìm tòi, khám phá, sáng tạo trong học tập , thông qua các hình thức tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh Vì vậy, trọng tâm hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD THPT là đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường theo các định hướng
“Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học,
Trang 10Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của
QTGD
1 Bản chất QTGD
- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình
giáo dục
+ Tính hai mặt của QTGD
QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc
sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối
quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với
những người xung quanh, là một quá trình sư
phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác
động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua
các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức,
tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng
tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra
của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích
cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình
Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự
hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của
QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm
cả quá trình tự giáo dục của H
+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các
chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội
ở H
Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn
mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói
quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian
và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa
từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi
từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích
cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp
đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:
+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực
xã hội
+ Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với
các chuẩn mực xã hội
+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các
giá trị chuẩn mực xã hội
Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được
hình thành và phát triển thông qua hoạt động và
giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực
mà nhân cách con người được bộc lộ, được
hình thành và được phát triển
- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD
là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động
và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa
một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc
thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong
mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể
hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H
dưới vai trò chủ đạo của G
+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa
tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các
chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen tương ứng ở H
+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất
những tác động của G với những tác động tự
giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác
động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo
dục
+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ
chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,
tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là
quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối
tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được
phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở
đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích
cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển
hóa thành hành vi và thói quen tương ứng
Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản
chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại
hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và
lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với
môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ
chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu
của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động
xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v
Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ
thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể
được tác động Tính năng động của chủ thể còn
được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều
chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng
phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu,
hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H
được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng
chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận
lợi những tác động bên ngoài Và những tác
động của G cũng không còn đến thẳng H nữa
mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,
Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD
1 Bản chất QTGD
- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục
+ Tính hai mặt của QTGD
QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình
Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm
cả quá trình tự giáo dục của H
+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội
ở H
Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian
và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa
từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi
từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp
đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:
+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực
xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội
+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội
Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực
mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển
- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD
là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động
và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G
+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa
tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen tương ứng ở H
+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục
+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,
tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở
đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng
Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động
xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v
Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa
mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,
Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD
1 Bản chất QTGD
- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục
+ Tính hai mặt của QTGD
QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình
Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm
cả quá trình tự giáo dục của H
+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội
ở H
Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian
và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa
từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi
từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp
đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:
+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực
xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội
+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội
Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực
mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển
- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD
là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động
và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G
+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa
tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen tương ứng ở H
+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục
+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,
tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở
đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng
Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động
xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v
Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa
mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,
Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD
1 Bản chất QTGD
- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục
+ Tính hai mặt của QTGD
QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình
Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm
cả quá trình tự giáo dục của H
+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội
ở H
Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian
và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa
từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi
từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp
đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:
+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực
xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội
+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội
Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực
mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển
- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD
là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động
và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G
+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa
tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen tương ứng ở H
+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục
+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,
tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở
đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng
Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động
xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v
Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa
mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,
Chủ đề 12: Bản chất-cấu trúc-động lực của QTGD
1 Bản chất QTGD
- Cơ sở để xác định bản chất của quá trình giáo dục
+ Tính hai mặt của QTGD
QTGD với tư cách là một quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu, tổ chức mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng giáo dục với những người xung quanh, là một quá trình sư phạm bao gồm hai mặt hoạt động đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của G thông qua các loại hình hoạt động để tác động tới nhận thức, tình cảm, ý chí, hành vi của H và sự hưởng ứng tích cực việc thực hiện những yêu cầu do G đề ra của Hục với một thái độ tự giác, chủ động, tích cực nhằm tự hoàn thiện nhân cách của mình Như vậy sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
G và sự tự giác, chủ động, tích cực tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của H là nét bản chất của QTGD Do đó bản chất QTGD phải bao hàm cả quá trình tự giáo dục của H
+ Cơ chế chuyển hóa yêu cầu thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen phù hợp với các chuẩn mực xã hội ở
H
Để những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành vi, thói quen tương ứng của H đòi hỏi phải có thời gian
và thực hiện từng bước theo cơ chế chuyển hóa
từ ngoài vào trong Việc chuyển hóa có thể cần đi
từ áp đặt, cưỡng chế đến tự nguyện, tự giác, tích cực theo nhiều giai đoạn khác nhau và được lặp
đi lặp lại nhiều lần nhằm giúp H:
+ Hình thành ý thức cá nhân về các chuẩn mực
xã hội + Hình thành niềm tin, tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội
+ Hình thành hành vi, thói quen phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội
Thực tế cho thấy hành vi, thói quen chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu, nhờ có môi trường hoạt động tích cực
mà nhân cách con người được bộc lộ, được hình thành và được phát triển
- Bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD là
quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu cho H của G; là quá trình chuyển hóa một cách tự giác, tích cực những yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực XH (thể hiện trong mục đích, nhiệm vụ giáo dục) thành nhu cầu thể hiện bằng hành vi và thói quen tương ứng của H dưới vai trò chủ đạo của G
+ Bản chất của QTGD là quá trình chuyển hóa
tự giác, tích cực yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành nhu cầu thể hiện hành
vi, thói quen tương ứng ở H
+ Bản chất của QTGD là quá trình thống nhất những tác động của G với những tác động tự giáo dục của H Kết quả của sự thống nhất tác động đó là biến QTGD thành quá trình tự giáo dục
+ QTGD chính là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các mối quan hệ nhiều mặt cho đối tượng,
tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng Là quá trình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để đối tượng chiếm lĩnh được nội dung tri thức được phản ánh trong các chuẩn mực xã hội, trên cơ sở
đó hình thành tình cảm, hình thành niềm tin tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đó và chuyển hóa thành hành vi và thói quen tương ứng Giáo dục H trong nhà trường phổ thông về bản chất là quá trình G tổ chức và lãnh đạo các loại hình hoạt động phong phú của H, là tổ chức và lãnh đạo các mối quan hệ nhiều mặt của H với môi trường xung quanh và với mọi người, là tổ chức và lãnh đạo các dạng hoạt động và giao lưu của H trong tập thể lớp học, trong các hoạt động
xã hội, với những mối quan hệ xã hội khác v.v Tuy vậy, hiệu quả của tác động bên ngoài phụ thuộc vào những điều kiện bên trong của chủ thể được tác động Tính năng động của chủ thể còn được chú ý thêm do sự phát hiện vai trò điều chỉnh của các mối liên hệ ngược trong các vòng phản xạ Nhờ đó mà các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, động cơ, thái độ, phương pháp của H được coi trọng hơn và được chăm lo bồi dưỡng chuyên biệt nhằm tạo điều kiện để tiếp thu thuận lợi những tác động bên ngoài Và những tác động của G cũng không còn đến thẳng H nữa
mà thông qua tập thể, thông qua nhóm nhỏ,