1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Chính sách phát triển vùng ở Việt Nam

10 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 223,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Chính sách phát triển vùng ở Việt Nam trình bày: Trong những năm qua, việc tổ chức thực hiện quy hoạch vùng đã đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh của vùng và Quốc gia,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Nguyễn Danh Sơn1

1

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Email: danhson@gmail.com

Nhận ngày 3 tháng 7 năm 2017 Chấp nhận đăng ngày 30 tháng 7 năm 2017

Tóm tắt: Vùng là một thực thể được quy hoạch phát triển với tầm nhìn dài hạn ở Việt Nam Nhà

nước có chính sách phát triển vùng, trong đó có quy hoạch phát triển vùng Trong những năm qua, việc tổ chức thực hiện quy hoạch vùng đã đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển kinh

tế - xã hội, an ninh của vùng và quốc gia Tuy vậy, bên cạnh đó, cũng có không ít vấn đề đặt ra cho chính sách phát triển vùng, như có quá nhiều vùng quy hoạch, chồng lấn giữa các vùng kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm, thiếu sự liên kết vùng Quan điểm cơ bản trong đổi mới, hoàn thiện chính sách phát triển vùng là liên kết phát triển trên cơ sở đảm bảo lợi ích trong phát triển vùng

Từ khóa: Quy hoạch vùng, chính sách phát triển vùng, liên kết phát triển, Việt Nam

Phân loại ngành: Kinh tế học

Abstract: The region is an entity, the development of which is planned with a long-term vision, in

Vietnam The State has a policy for regional development, including regional development planning Over the past years, the implementation of regional planning has contributed positively to regional and national socio-economic development and security However, there are also several issues posed for the regional development policy, e.g there are too many areas of planning, the overlaps among economic regions and key economic areas, or the lack of regional connectivity The fundamental view in renovating and completing the policy is the linkage for development based on ensuring the interests in regional development

Keywords: Regional planning, regional development policy, linkage for development, Vietnam Subject classification: Economics

1 Mở đầu

Ở Việt Nam, vùng được xác định là một bộ

phận của lãnh thổ quốc gia có các hoạt

động kinh tế - xã hội tương đối độc lập,

thực hiện sự phân công lao động xã hội của

cả nước Về phương diện pháp lý, vùng không phải là đơn vị quản lý hành chính nhà nước, nhưng trên thực tế lại là đơn vị lãnh thổ phục vụ hoạch định chiến lược và

Trang 2

quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo

lãnh thổ, cũng như để quản lý các quá trình

phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng và

liên kết phát triển các đơn vị hành chính

trong và ngoài vùng Đã có nhiều chính

sách phát triển vùng được ban hành và tổ

chức thực hiện Văn bản chính sách cao

nhất hiện hành về phát triển vùng là Nghị

định của Chính phủ số 92/2006/NĐ-CP

ngày 07 tháng 9 năm 2006 về lập, phê

duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát

triển kinh tế - xã hội và Nghị định số

04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm

2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của

Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, trong đó xác

định có 2 loại vùng là vùng kinh tế - xã hội

và vùng kinh tế trọng điểm Bài viết này

phân tích chính sách phát triển vùng trên

hai khía cạnh: quy hoạch vùng kinh tế -

xã hội và quy hoạch vùng kinh tế trọng

điểm, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp thực

hiện hiệu quả chính sách phát triển vùng ở

Việt Nam

2 Quy hoạch vùng kinh tế - xã hội

2.1 Nội dung quy hoạch vùng kinh tế - xã hội

Hệ thống quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội hiện nay ở Việt Nam gồm: quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

vùng, vùng kinh tế trọng điểm; quy hoạch

tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh,

cấp huyện; quy hoạch phát triển các ngành,

lĩnh vực cấp quốc gia, cấp tỉnh; quy hoạch

phát triển các sản phẩm chủ yếu cấp quốc

gia, cấp tỉnh Các quy hoạch này được lập

cho thời kỳ 10 năm, có tầm nhìn từ 15 - 20

năm và thể hiện cho từng thời kỳ 5 năm và

có thể được rà soát, điều chỉnh, bổ sung phù

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội vùng được xác định “là luận chứng phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội hợp lý trên lãnh thổ nhất định trong một thời gian xác định”, trong đó vùng kinh tế - xã hội “là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, gồm một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các hoạt động kinh tế - xã hội tương đối độc lập, thực hiện sự phân công lao động xã hội của cả nước Đây là loại vùng phục vụ việc hoạch định chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nước” [2]

Lãnh thổ Việt Nam được phân chia thành 6 vùng quy hoạch, gồm: Vùng trung

du và miền núi phía Bắc, Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Vùng Tây Nguyên, Vùng Đông Nam Bộ và Vùng đồng bằng sông Cửu Long

Căn cứ xây dựng quy hoạch vùng gồm: chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia; các nghị quyết, quyết định về chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Quốc hội và Chính phủ có liên quan đến vùng; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (cấp quốc gia); các quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch sử dụng đất đã được cấp

có thẩm quyền phê duyệt; và hệ thống số liệu thống kê; các kết quả điều tra cơ bản Quy hoạch vùng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Nội dung chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng được quy định thống nhất, gồm 9 điểm sau [2]: (i) Phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu

tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác,

sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh

Trang 3

khai thác lãnh thổ; phân tích, đánh giá

những lợi thế so sánh về các yếu tố và điều

kiện phát triển của lãnh thổ trong tổng thể

vùng lớn hơn và cả nước, có tính tới mối

quan hệ khu vực và quốc tế; phân tích, đánh

giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và

thực trạng khai thác lãnh thổ vùng; đánh giá

tiềm năng đóng góp vào ngân sách của

vùng (ii) Luận chứng mục tiêu, quan điểm

và phương hướng phát triển kinh tế, xã hội

phù hợp với chiến lược và quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước

(iii) Xác định nhiệm vụ cụ thể để đạt các

mục tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển

kinh tế - xã hội; luận chứng phát triển cơ

cấu kinh tế; luận chứng các phương án phát

triển; xác định hướng phát triển ngành, lĩnh

vực then chốt và sản phẩm chủ lực, trong

đó xác định chức năng, nhiệm vụ và vai trò

đối với vùng của các trung tâm đô thị và

tiểu vùng trọng điểm (iv) Luận chứng

phương án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã

hội trên lãnh thổ vùng (lựa chọn phương án

tổng thể khai thác lãnh thổ) (v) Quy hoạch

phát triển kết cấu hạ tầng bảo đảm yêu cầu

trước mắt và lâu dài của các hoạt động kinh

tế, xã hội của vùng và gắn với vùng khác

trong cả nước (vi) Định hướng quy hoạch

sử dụng đất (dự báo các phương án sử dụng đất căn cứ vào định hướng phát triển ngành, lĩnh vực) (vii) Luận chứng Danh mục dự

án ưu tiên đầu tư (viii) Luận chứng bảo vệ môi trường; xác định những lãnh thổ đang

bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trường và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này (ix) Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch; đề xuất các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện và luận chứng các bước thực hiện quy hoạch;

đề xuất phương án tổ chức thực hiện quy hoạch

2.2 Kết quả quy hoạch vùng kinh tế - xã hội

Cho đến nay đã lập và thực hiện quy hoạch phát triển cho tất cả 6 vùng kinh tế - xã hội nói trên Các quy hoạch vùng, theo quy định, đều có xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch Hộp 1 nêu ví dụ về chính sách phát triển vùng được xác định trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020

Hộp 1 Chính sách phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng [8]

Hộp 1 Chính sách phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng [8]

- Chính sách hỗ trợ đối với vùng sản xuất lúa gạo nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (cấp tín dụng ưu đãi thu mua, trữ, bình ổn giá lúa, đầu tư kết cấu hạ tầng, hệ thống kho chứa theo hướng liên kết với các địa phương, tạo động lực phát triển); hỗ trợ phát triển sản phẩm nông nghiệp sạch, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, nhất là các sản phẩm xuất khẩu và xây dựng thương hiệu hàng hóa nông sản

- Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp sơ chế và chế biến nông, lâm, thủy sản ở vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn Chính sách đặc thù về đầu tư, tài chính và tín dụng đối với tiểu vùng có nhiều sông, rạch, bao gồm cả cơ chế về tỷ lệ đầu tư và suất đầu tư đối với các dự án phát triển sử dụng vốn từ nguồn ngân sách và tín dụng có nguồn vốn từ ngân sách

Trang 4

Tuy vậy, ngoài các quy hoạch 6 vùng

kinh tế - xã hội, còn có các quy hoạch do

cấp bộ ngành phê duyệt cũng hàm chứa

những nội dung liên quan đến phát triển

vùng Theo tổng kết của Ban soạn thảo Luật

Quy hoạch, trong mỗi thời kỳ quy hoạch,

2001-2010 và 2011-2020 có trên 300-400

quy hoạch đã được cấp trung ương phê

duyệt Trong đó, thời kỳ quy hoạch 2001 -

2010 có 419 quy hoạch và thời kỳ 2011 -

2020 có 344 quy hoạch

Tất nhiên, trong số 300-400 quy hoạch

nêu trên, không phải tất cả và hoàn toàn là

quy hoạch cho không gian vùng, nhưng đều

có nội dung liên quan tới vùng Thí dụ, quy

hoạch phát triển ngành công nghiệp có nội

dung quy hoạch phân bố phát triển công

nghiệp theo các vùng lãnh thổ (mục 5, Điều

1, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số

880/QĐ-TTg ngày 9 tháng 6 năm 2014 phê

duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành

công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm

nhìn đến năm 2030) Nếu bóc tách riêng

loại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội vùng, lãnh thổ đặc biệt, thì theo tổng

hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay

có tới 21 quy hoạch

Nhiều chính sách cụ thể phát triển vùng

thời gian qua đã được ban hành và tổ chức

thực hiện đem lại những kết quả tích cực

Cần khẳng định là, nhờ có quy hoạch vùng

với các chính sách phát triển vùng trong đó

mà trên cả nước đã định hình sự phân công

lao động xã hội giữa các vùng với các sản

phẩm chủ lực gắn với đặc điểm vùng (như

lúa, thủy sản, cây ăn trái ở vùng đồng bằng

sông Cửu Long; lúa, rau, cây ăn trái ở vùng

đồng bằng sông Hồng; cà phê, cao su, tiêu

ở vùng Tây Nguyên ) Về công nghiệp

cũng đã định hình một số sản phẩm tiêu

biểu ở các vùng (như sản phẩm công nghệ

cao tập trung ở một số tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ; sản phẩm công nghiệp nặng ở vùng ven biển miền Trung ) Các chính sách kinh tế đặc thù cụ thể đã hỗ trợ và giúp định hình và phát triển sự phân công lao động của các vùng, như các chính sách về thủy lợi, về tiêu thụ nông sản ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây Nguyên Các chính sách xã hội đặc thù cụ thể đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên, vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) đã giúp không chỉ xóa đói, giảm nghèo mà còn cải thiện đáng kể sinh kế, thu nhập và cuộc sống của họ

2.3 Hạn chế quy hoạch vùng kinh tế - xã hội

và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả, quy hoạch vùng cũng còn có những hạn chế Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào tập trung vào đánh giá toàn diện và chính thức về chính sách phát triển vùng, mặc dù vùng và phát triển vùng có vị trí quan trọng trong quản lý phát triển ở nước ta hiện nay Các bộ ngành quản

lý đều có những đánh giá định kỳ về chính sách phát triển của ngành mình nhưng đánh giá về chính sách phát triển vùng thì chưa

có, vì không có cơ quan quản lý phát triển vùng (Thủ tướng Chính phủ có Quyết định

số 2059/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm

2015 về việc thành lập Ban Chỉ đạo, Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn

2015 - 2020, còn các vùng kinh tế - xã hội thì chưa có)

Vấn đề chính sách nổi cộm nhất trong quy hoạch phát triển vùng nằm ngay chính

ở sự chồng lấn trong phân định các vùng quy hoạch Các điều chỉnh về vùng từ Nghị

Trang 5

định số 92/2006/NĐ-CP cho đến nay đã

định hình gồm 6 vùng kinh tế và 4 vùng kinh

tế trọng điểm Sau đó được bổ sung mới thêm

loại vùng đặc biệt để lập quy hoạch như vùng

Thủ đô, vùng thành phố Hồ Chí Minh Trong

phân vùng quy hoạch hiện tại, các nhà nghiên

cứu và quản lý chỉ ra nhiều bất cập, như có

quá nhiều vùng quy hoạch, chồng lấn giữa các

vùng kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm Ở nước

ta hiện “đang tồn tại một hệ thống quy

hoạch đa ngành, nhiều cấp và giữa các bản

quy hoạch đang có những sự khác biệt lớn,

tựa như những hố ngăn cách vô hình, không

kết nối được với nhau” [9]

Những bất cập trong phân định vùng cũng

là nguyên nhân làm cho việc lập quy hoạch

vùng thời gian qua trở nên không chỉ nặng nề

về số lượng quy hoạch vùng, mà quan trọng

hơn là sự chồng chéo, trùng lặp cũng như

phân tán trong quản lý và thực hiện các quy

hoạch vùng

Con số vài trăm quy hoạch liên quan đến

vùng đã ban hành nêu ở trên còn cho thấy,

bên cạnh những mặt được, đang tồn tại khá

nhiều bất cập, thậm chí còn mâu thuẫn nhau

trong các quy hoạch vùng Tại cuộc họp

Chính phủ tháng 7/2015 bàn chuyên đề về

xây dựng pháp luật cũng đã nhận định rằng

công tác quy hoạch hiện này còn “thiếu đồng

bộ, chồng chéo, cản trở lẫn nhau giữa các

loại quy hoạch” [10] Theo đánh giá tổng

kết của Ban soạn thảo Luật Quy hoạch thì

còn có nhiều bất cập, trong đó liên quan tới

lập quy hoạch phát triển vùng có những

điểm đáng chú ý sau:

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp

luật về lập quy hoạch đã có nhưng còn tản

mạn, có những quy định không thống nhất,

thiếu quy chuẩn

- Số lượng quy hoạch vùng được phê

duyệt nhiều nhưng chất lượng còn thấp và

trật tự ban hành cũng còn chưa thống nhất (quy hoạch địa phương có khi lại được phê duyệt trước khi ban hành quy hoạch vùng)

- Thiếu sự liên kết, phối hợp trong lập các quy hoạch liên quan tới vùng và giữa các vùng với nhau, thiếu sự liên kết, phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển vùng

- Phương pháp luận lập quy hoạch vùng còn những bất cập, chưa gắn với yêu cầu theo cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Sự tham gia, tham vấn của các bên liên quan, nhất là từ phía cộng đồng doanh nghiệp còn hạn chế

- Tầm nhìn quy hoạch còn hạn chế, chưa

đủ tính chiến lược, chất lượng của các dự báo còn thấp

- Nội dung các quy hoạch liên quan tới vùng có những chồng chéo, mâu thuẫn

- Chưa xác định rõ chủ thể quản lý cấp vùng

- Tình công khai, minh bạch về quy hoạch còn thấp

Đối với việc tổ chức thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt, có thể thấy rằng,

do những hạn chế lớn về nguồn lực, năng lực cho thực hiện quy hoạch, nên tính khả thi và hiệu quả thực hiện các quy hoạch vùng cũng như các chính sách cụ thể về vùng còn thấp

3 Quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm

3.1 Nội dung quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm

Vùng kinh tế trọng điểm, theo xác định chung, “là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai

Trang 6

trò động lực, đầu tàu thúc đẩy sự phát triển

chung của cả nước” [2] Các vùng kinh tế

trọng điểm đều chứa đựng trong mình các

trung tâm - hạt nhân kinh tế, xã hội, khoa

học công nghệ lớn của đất nước (Thủ đô Hà

Nội, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí

Minh, thành phố Cần Thơ) Nội dung quy

hoạch vùng kinh tế trọng điểm được quy

định giống như đối với quy hoạch vùng

kinh tế - xã hội, với trọng tâm là phát huy vai trò động lực, đầu tàu thúc đẩy sự phát triển đối với các địa phương xung quanh và

cả nước, trước hết là đối với vùng “bao bọc” nó (vì mỗi vùng kinh tế trọng điểm đều được hình thành từ một số tỉnh, thành phố của một vùng kinh tế - xã hội) Hộp 2 nêu minh họa vị trí, vai trò của Vùng kinh

tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long

Hộp 2 Vị trí, vai trò Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long [7]

Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của

cả nước Ngoài ra, Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long còn đóng vai trò quan

trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long

Xây dựng Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh, các mặt văn hoá, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc

3.2 Kết quả quy hoạch vùng kinh tế

trọng điểm

Hiện nay đã quy hoạch cho 4 vùng kinh tế

trọng điểm: a) Vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ, gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải

Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng

Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh; b) Vùng kinh tế

trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh, thành

phố: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng

Nam, Quảng Ngãi, Bình Định; c) Vùng

kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm 8 tỉnh,

thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà

Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh,

Bình Phước, Long An, Tiền Giang; d) Vùng

kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông

Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố: Cần

Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau

Nhìn chung, các quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm không chỉ là cơ sở và định hướng nền tảng cho phân công, hiệp tác sản xuất trong nội bộ vùng kinh tế trọng điểm,

mà còn phát huy, lan tỏa phân công, hiệp tác sản xuất ra bên ngoài vùng, trước hết và trực tiếp là vùng kinh tế - xã hội “bao bọc”

nó Các chính sách ưu đãi được xác định trong quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm đã tạo điều kiện thuận lợi để vùng thể hiện và đảm nhận được vai trò đầu tàu, động lực vùng Hộp 3 minh họa về chính sách ưu đãi đối với Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long Riêng đối với vùng kinh tế trọng điểm, Chính phủ mới thành lập Ban Chỉ đạo, Hội đồng vùng cho từng vùng kinh

tế trọng điểm (tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 2059/QĐ-TTg ngày 24

Trang 7

tháng 11 năm 2015) với chức năng “là tổ

chức phối hợp liên ngành giúp Thủ tướng

Chính phủ nghiên cứu chỉ đạo, đôn đốc,

phối hợp giải quyết các vấn đề quan trọng

có tính chất liên ngành, liên vùng liên quan

đến hoạt động điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm”

Nhìn chung, các vùng kinh tế trọng điểm được quy hoạch thực tế đã có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn so với mức chung của cả nước, khoảng 1,2-1,25 lần

Hộp 3 Chính sách ưu đãi đối với vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long [7]

- Nâng mức hỗ trợ cho các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long (theo tiêu chí các tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm tại Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2006) cao hơn so với các địa phương thuộc các vùng kinh tế trọng điểm khác

- Nâng mức hỗ trợ cho các khu công nghiệp, các khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu tại các địa phương trong Vùng cao hơn mức bình quân chung đối với các vùng khác

- Tạo điều kiện thuận lợi và định hướng thu hút ODA cao hơn cho các địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long

3.3 Hạn chế trong quy hoạch vùng kinh tế

trọng điểm và nguyên nhân

Các hạn chế trong quy hoạch vùng kinh tế -

xã hội và nguyên nhân nêu ở phần trên

cũng là của vùng kinh tế trọng điểm, bởi lẽ

đó là những hạn chế chung cho công tác

quy hoạch ở Việt Nam đã được đánh giá,

tổng kết phục vụ cho xây dựng Luật Quy

hoạch Riêng đối với quy hoạch vùng kinh

tế trọng điểm còn có một số hạn chế:

(i) Vùng trong vùng: vùng kinh tế trọng

điểm được hình thành từ một số tỉnh, thành

phố của vùng kinh tế - xã hội, nhưng lại bao

gồm phần lớn số tỉnh, thành phố của vùng

kinh tế - xã hội, cụ thể 7/11 tỉnh, thành phố

của vùng Đồng bằng sông Hồng, 5/14 tỉnh,

thành phố của Vùng Bắc Trung Bộ và

Duyên hải miền Trung, 6/8 tỉnh, thành phố

của Vùng Đông Nam Bộ (thêm 2 tỉnh của

vùng kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu

Long là Long An, Tiền Giang) và 4/13 của

vùng đồng bằng sông Cửu Long Thực tế

này phản ánh quy hoạch 2 loại vùng

(kinh tế - xã hội và kinh tế trọng điểm) không thật rõ ràng

(ii) Sức mạnh lan tỏa yếu: tác động lan tỏa và thúc đẩy phát triển ra xung quanh là yêu cầu, mục tiêu hàng đầu của các vùng kinh tế trọng điểm Tuy vậy, sức mạnh ảnh hưởng này cho đến nay còn chưa ngang tầm với yêu cầu Ba vùng kinh tế trọng điểm đầu tiên (gồm Bắc Bộ, miền Trung, phía Nam); được hình thành từ năm 1997 - 1998 với 13 tỉnh, thành phố, sau đó liên tục được

mở rộng với 20 tỉnh, thành phố và vùng kinh tế trọng điểm thứ tư (đồng bằng sông Cửu Long) được hình thành vào năm 2009 gồm 4 tỉnh, thành phố Tuy vậy, trải qua 2 thập kỷ hình thành và phát triển, tác động lan tỏa và thúc đẩy phát triển ra xung quanh của các vùng kinh tế trọng điểm vẫn còn hạn chế, đặc biệt là liên kết phát triển vùng (nội vùng và ngoại vùng) còn yếu Nguyên nhân chính yếu được chỉ ra là thiếu “chất kết dính” là lợi ích kinh tế và “nhạc trưởng” (cơ quan quản lý) [5], [6]

Trang 8

4 Giải pháp thực hiện hiệu quả chính

sách phát triển vùng

Thứ nhất, đổi mới chính sách phát triển

vùng phù hợp với đổi mới thể chế quản lý

phát triển và vai trò mới của Nhà nước,

trong đó lợi ích vùng cần được coi là một

nhân tố cơ bản

Thể chế quản lý phát triển ở nước ta

đang được đổi mới và hoàn thiện theo

hướng phù hợp với thể chế kinh tế thị

trường, hội nhập quốc tế, và cùng với đó,

vai trò của Nhà nước cũng được xác định

lại theo hướng tập trung vào kiến tạo, tạo

môi trường cho các nỗ lực phát triển Chính

sách phát triển vùng cũng cần được đổi mới

theo hướng như vậy, cụ thể là nguồn lực

của Nhà nước sẽ chỉ nên tập trung cho các

vấn đề phát triển cơ bản, cốt yếu của vùng

mà tư nhân không hoặc chưa quan tâm đầu

tư Ở đây muốn lưu ý để nhấn mạnh rằng để

tư nhân quan tâm đầu tư thì cần tạo lợi ích

cho hoạt động đầu tư Vùng được phân định

trên cơ sở những tiêu chí nhất định (vị trí

địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư ) và

chính sách phát triển vùng được nhằm vào

thực hiện sự phân công lao động xã hội

Tuy vậy, cho đến nay, trong quản lý phát

triển vùng chưa định hình rõ lợi ích vùng

làm cơ sở không chỉ cho thu hút đầu tư tư

nhân mà còn cả cho thiết kế chính sách

vùng Lợi ích, theo khoa học quản lý, là

“chất kết dính” các bên với nhau Không rõ

lợi ích sẽ không có mối quan tâm như là

khởi đầu cho các hoạt động đầu tư Các

nghiên cứu về phát triển vùng, nhất là liên

kết phát triển vùng, đều chỉ ra thiếu hụt

“chất kết dính” này Để thực hiện vai trò

kiến tạo, tạo môi trường cho các nỗ lực phát

triển vùng của Nhà nước thì lợi ích, nhất là

lợi ích kinh tế, cần được xác định và thể

hiện rõ trong các chính sách phát triển vùng

Thứ hai, định hướng rõ các chính sách

cơ bản chung trong quy hoạch vùng

Dự thảo Luật Quy hoạch đã được soạn thảo theo chủ trương và chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI số 13-NQ/TW ngày 16 tháng

01 năm 2012) và đã được Chính phủ trình Quốc hội Quốc hội đã thảo luận và dự kiến

sẽ ban hành cuối năm 2017 Theo đó quy hoạch vùng được xác định nằm trong hệ thống quy hoạch quốc gia, trong đó có yêu cầu xác định chính sách thực hiện quy hoạch vùng Các chính sách sẽ được xác định cụ thể phù hợp với đặc điểm vùng trong quy hoạch của từng vùng, nhưng tựu trung lại có 3 chính sách cơ bản chung cần định hướng rõ trong quy hoạch vùng là: chính sách liên kết vùng (nội vùng và ngoại vùng); chính sách về nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng; chính sách về các sản phẩm, dịch vụ chủ lực của vùng

Thứ ba, phối hợp các chính sách đặc thù đối với các vùng

Hiện đã có những chính sách đặc thù đối với các vùng và đang được đề nghị ban hành tiếp tục các chính sách đặc thù khác; các chính sách đó đã tạo nên những hệ lụy không chỉ cho các địa phương trong vùng

mà còn cả ngoài vùng Cần có nguyên tắc chung về ban hành các chính sách đặc thù nói chung và đối với vùng nói riêng để tránh cả yếu tố chủ quan và cả tác động ảnh hưởng của lợi ích nhóm trong ban hành chính sách Chính sách đặc thù đối với vùng chỉ nên ban hành theo 2 nhóm: (i) khu vực đặc thù chung, thí dụ như vùng sâu, xa, đông dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo cao ; và (ii) hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 9

vùng Cơ sở cho ban hành chính sách hỗ trợ

nâng cao năng lực cạnh tranh vùng là chỉ số

cạnh tranh cấp vùng (RCI) Chỉ số cạnh

tranh cấp tỉnh (PCI) hiện được công bố định

kỳ hàng năm có thể là cơ sở cho công bố

chỉ số cạnh tranh cấp vùng

Thứ tư, hình thành cơ quan quản lý

vùng có đủ thẩm quyền và nguồn lực để

điều phối, phối hợp các chính sách phát

triển vùng

Hiện tại, do quy định của Hiến pháp

không có cấp quản lý nhà nước về vùng nên

cho đến nay quản lý vùng vẫn chưa có một

cơ quan quản lý có đủ thẩm quyền và

nguồn lực để điều phối, phối hợp các chính

sách phát triển vùng Nhu cầu về một cơ

quan quản lý vùng là cấp bách Vùng cần

người “nhạc trưởng” để điều phối và phối

hợp thực hiện chính sách phát triển vùng

Đã có những phương án đề nghị về thành

lập cơ quan quản lý vùng [5], [6] và hy

vọng phương án về cơ quan quản lý vùng

đề xuất trong Luật Quy hoạch (dự thảo) sẽ

được Quốc hội phê chuẩn tới đây

5 Kết luận

Phát triển vùng nói chung và chính sách

phát triển vùng nói riêng ở Việt Nam hiện

vẫn đang là một lĩnh vực còn nhiều khoảng

trống Bên cạnh những thành tựu vẫn còn

những hạn chế trong chính sách phát triển

vùng, hạn chế nổi bật nhất là: sự chồng

chéo, chồng lấn trong quy hoạch; thiếu

“chất kết dính” (lợi ích) trong liên kết phát

triển vùng; và thiếu “nhạc trưởng” (cơ quan

quản lý vùng) Bối cảnh phát triển mới của

đất nước, đặc biệt là chuyển đổi mô hình

tăng trưởng sang chú trọng chiều sâu và bền

vững, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng,

ứng phó với biến đổi khí hậu đòi hỏi tất yếu

đổi mới chính sách phát triển nói chung, trong đó có chính sách phát triển vùng Để thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển vùng, Việt Nam cần phải đổi mới chính sách phát triển vùng; có các chính sách cơ bản chung trong quy hoạch vùng; phối hợp các chính sách đặc thù đối với các vùng và

cơ quan quản lý vùng

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Kỷ yếu Hội thảo về Luật Quy hoạch, Tp Thái Nguyên

[2] Chính phủ (2006), Nghị định số

92/2006/NĐ-CP ngày 7 tháng 9 năm 2006 về lập, phê duyệt

và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội, Hà Nội

[3] Chính phủ (2008), Nghị định số

04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, Hà Nội

[4] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam (2016), Luật Quy hoạch (Dự thảo),

Hà Nội

[5] Nguyễn Danh Sơn (2015), “Quy hoạch phát triển vùng trong bối cảnh mới ở nước ta”,

Tạp chí Phát triển bền vững vùng, số 3

[6] Nguyễn Danh Sơn (2017), “Chính sách phát triển vùng trong bối cảnh phát triển mới ở Việt Nam và những gợi ý chính sách”, Tạp chí

Phát triển bền vững vùng, số 1

[7] Thủ tướng Chính phủ (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 tại Quyết định

số 795/QĐ-TTg ngày 23 tháng 05 năm 2013,

Hà Nội

[8] Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội

[9] http://baochinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Khan-truong- hoan-thien-Du-an-Luat-quy-hoach/232403.vgp [10] http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/213-1372-danh- gia-lai-moi-quan-he-giua-cac-loai-quy-hoach-mang-tinh-chat-vung.html

Ngày đăng: 05/02/2020, 02:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w