Tính cấp thiết của đề tài Về mặt lý luận Tài sản đối với công ty là yếu tố đầu vào rất quan trọng để công ty tiến hànhcác hoạt động kinh doanh như mua hàng hóa, đầu tư trang thiết bị,
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đãnhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên từ phía gia đình, các cá nhânđoàn thể trong và ngoài trường
Trước hết em xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS.Trần Thị Thu Trang, người đã chỉ bảo tận tình và hết sức tạo điều kiện giúp đỡ emtrong quá trình hoàn thành khóa luận này Cô đã truyền đạt kiến thức cũng như kinhnghiệm từ những ngày em bắt đầu chọn đề tài, duyệt đề tài rồi cho đến những lầnsửa nội dung một cách rất nghiêm túc, tỉ mỉ Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thànhtới các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Thương Mại, những người đã khôngquản ngại khó khăn, vất vả đã trang bị những kiến thức quý báu cho em suốt bốnnăm học Đại học vừa qua và các cán bộ thư viện trường Đại học Thương Mại đãxây dựng được một cơ sở dữ liệu đầy đủ và nhiệt tình giúp đỡ em lựa chọn tài liệutrong quá trình thu thập thông tin cho khóa luận Cuối cùng em xin lời gửi lời cảm
ơn chân thành nhất tới ban lãnh đạo Công ty cổ phần SSC Việt Nam, các anh chịphòng Tài chính- kế toán, cùng toàn thể các anh chị trong công ty đã tận tình giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em được tham gia tiếp cận thực tế hoạt động củacông ty nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn và trình độ người viết còn hạn chế nên chắcchắn khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được nhữngnhận xét, góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên khác để khóa luận đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 4Tư liệu lao động
Tư liệu sản xuấtThu nhập doanh nghiệpTài sản cố định
Tài sản cố định hữu hìnhTài sản dài hạn
Tài sản ngắn hạnSản xuất
Vốn cố địnhVốn chủ sở hữuVốn kinh doanhVốn lưu độngXây dựng căn bản
Trang 5VLĐ
XDCB
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Về mặt lý luận
Tài sản đối với công ty là yếu tố đầu vào rất quan trọng để công ty tiến hànhcác hoạt động kinh doanh như mua hàng hóa, đầu tư trang thiết bị, trả lương chongười lao động… Tuy nhiên vấn đề cốt yếu là doanh nghiệp cần sử dụng tài sảnnhư thế nào để đạt được hiệu quả như mong muốn Chính vì vậy, việc nâng caohiệu quả sử dụng tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.Việc sử dụng tài sản có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả nănghuy động các nguồn tài trợ dễ dàng hơn, khả năng thanh toán của doanh nghiệpđược đảm bảo, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp có đủ khảnăng để khắc phục khó khăn và rủi ro trong kinh doanh Do đó các nhà kinh tếphải coi trọng hoạt động phân tích hiệu quả sử dụng tài sản và hoạt động mangtính chất thường xuyên để giúp doanh nghiệp sử dụng tài sản hiệu quả hơn
Về mặt thực tiễn
Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần SSC Việt Nam, em thấy công tácnhằm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là vấn đề được ban lãnh đạo đặcbiệt quan tâm Song hoạt động phân tích kinh tế nói chung và hoạt động phân tíchhiệu quả sử dụng tài sản nói riêng chưa có bộ phận chuyên trách mà mới chỉ do kếtoán trưởng đảm nhiệm, các chỉ tiêu còn sơ sài
Vì vậy, với những kiến thức thu thập được trong quá trình học tập và thực tập
tại công ty em đã chọn cho mình đề tài:“Hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần SSC Việt Nam” Qua nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng tài sản tại
công ty, em đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tàisản đối với công ty Em hi vọng rằng nó sẽ phần nào giúp cho Công ty nâng caohiệu quả sử dụng tài sản hơn nữa trong thời gian tới
Trang 7Đề xuất các giải pháp nhằm hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cổ phần SSC Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản của công ty
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: Đề tài Tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản qua các số liệu phảnánh kết quả quá trình sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong 3 năm ( năm 2013,năm 2014, và năm 2015)
+ Không gian: Tại Công ty cổ phần SSC Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng các phiếu điều tratrong đó có sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm và các câu hỏi mang tính chất phỏngvấn để thu thập dữ liệu, với các câu hỏi liên quan như những vấn đề còn tồn tại vànguyên nhân của nó Bằng cách này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và kháchquan về vấn đề sử dụng tài sản của doanh nghiệp hiện nay để từ đó đưa ra nhữngbiện pháp giải quyết mang tính khả thi nhất giúp công ty hiệu quả sử dụng tài sảnhợp lí
• Phương pháp thu thập dữ liêu thứ cấp
Để có được dữ liệu thứ cấp em thu thập từ các báo cáo tài chính qua 3 năm2013- 2014- 2015
Dựa vào bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty làchủ yếu,dựa vào sổ sách kế toán liên quan để phục vụ cho quá trình phân tích thựctrạng hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trong 3 năm gần đây và nguyên nhân củanhững mặt hạn chế đó
• Phương pháp xử lý dữ liệu
Các dữ liệu thu được em xử lý qua phần mềm excel và phương pháp tính toánthủ công Em sử dụng các phương pháp so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối đểthấy rõ ràng sự thay đổi về các chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanhnghiệp, từ đó đưa ra những nhận xét và đánh giá cụ thể
5 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Trang 8Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Tài sản và Hiệu quả sử dụng tài sản trong
Trang 9CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Một số vấn đề về tài sản của doanh nghiệp và vai trò của tài sản trong doanh nghiệp
1.1.1 Một số vấn đề về tài sản của doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm tài sản của doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp là tất cả nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hìnhgồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó Do vây, việcquản lý tài sản có vai trò quan trọng trong hoạt động của Công ty Ở Việt Nam hiện
nay, theo hệ thống chuẩn mực kế toán, chuẩn mực số 21 về “trình bày báo cáo tài chính” Là những tài sản thỏa mãn một trong các điều kiện sau: Được dự tính để
bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ củachu kỳ kinh doanh bình thường của doanhnghiệp; Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích sửdụng và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán Là tiền hoặc tài sản tương đương tiền màviệc sử dụng không gặp một hạn chế nào
1.1.1.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp thường được chia thành hai loại: Tài sản ngắn hạn
có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyểnđổi thành tiền Để khắc phục những nhược điểm mà chỉ tiêu “Tiền và các khoảntương đương tiền” trên Bảng cân đối kế toán có thể đem lại do tính thời điểm củachỉ tiêu này, khi xem xét cần căn cứ vào nhu cầu thực tế về tiền của doanh nghiệptrong từng giai đoạn để nhận xét Khoản mục này có thể tăng hoặc giảm không phải
Trang 10do ứ đọng (hay thiếu tiền) mà có thể do doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trungtiền để chuẩn bị đầu tư mua sắm vật tư, tài sản,… hay do doanh nghiệp vừa đầu tưvào một số lĩnh vực kinh doanh.
- Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thờihạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu khoBạc, kỳ phiếu ngân hàng…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, tráiphiếu) để kiếm lời và các khoản đầu tư tài chính khác không quá một năm
- Tồn kho: Bao gồm vật tư, hàng hóa, sản phẩm, sản phẩm dở dang Để đảmbảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục, không bị gián đoạn, đòi hỏidoanh nghiệp phải xác định được lượng hàng tồn kho dự trữ hợp lý Lượng hàng tồnkho dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục,vừa không gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn Lượng dự trữ hợp lý phụ thuộcvào nhiều nhân tố, trong đó chủ yếu vào quy mô sản xuất, tiêu thụ (lượng vật tư tiêudùng hay hàng hóa tiêu thụ bình quân một ngày đêm), vào mức độ chuyên môn hóa,vào hệ thống cung cấp, vào tình hình tài chính của doanh nghiệp và vào các nguyênnhân khác (tính thời vụ, vào định mức tiêu hao vật tư, vào thuộc tính tự nhiên củavật tư hàng hóa, vào việc đảm bảo các phương tiện vận chuyển cũng như khả năngcung cấp của người bán) Khi xem xét tỷ trọng hàng tồn kho trong tổng tài sản, cầnliên hệ với ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, với chính sách dựtrữ, với tính thời vụ của kinh doanh và chu kỳ sống của sản phẩm hàng hóa Chẳnghạn, trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, tỷ trọng hàng tồn kho thườnglớn do đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp này là hàng hóa; ngược lại, trong cácdoanh nghiệp kinh doanh dịch vụ (khách sạn, du lịch, giải trí, …), tỷ trọng hàng tồnkho thường chiếm tỷ trọng thấp Đối với các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanhmang tính thời vụ, vào những thời điểm nhất định trong năm, tỷ trọng hàng tồn khothường rất cao do yêu cầu dự trữ thời vụ; ngược lại, vào những thời điểm khác,lượng hàng tồn kho lại quả thấp Tương tự, khi sản phẩm hàng hóa đang ở giai đoạntăng trưởng, lượng dự trữ hàng tồn kho thường cao để đáp ứng nhu cầu chiếm lĩnhthị trường; còn khi sản phẩm hàng hóa ở vào giai đoạn suy thoái, để tránh rủi ro,lượng hàng hóa tồn kho thường được giảm xuống ở mức thấp nhất
Trang 11Một doanh nghiệp có hệ thống cung cấp tốt sẽ giảm được lượng hàng tồn kho
mà không ảnh hưởng đến tính liên tục của quá trình kinh doanh Hệ thống cung cấpđược xem là tiên tiến hiện nay được áp dụng là hệ thống cung cấp kịp thời (Just intime) Theo hệ thống này, mọi nhu cầu về vật tư, hàng hóa phục vụ cho sản xuất –kinh doanh trong kỳ đều được doanh nghiệp lập kế hoạch và ký hợp đồng với cácnhà cung cấp hết sức chi tiết Vì thế, doanh nghiệp không cần phải dự trữ hàng tồnkho, khi sử dụng đến đâu, các nhà cung cấp sẽ phục vụ tới đó Nhờ vậy, doanhnghiệp không những tiết kiệm được vốn trong khâu dự trữ mà còn tiết kiệm đượccác chi phí liên quan đến kho tàng bảo quản, bảo vệ, góp phần nâng cao hiệu quả sửdụng vốn nói riêng và hiệu quả kinh doanh nói chung
- Các khoản phải thu: Các khoản phải thu là một loại tài sản của công ty tínhdựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụtiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty Các khoảnphải thu được kế toán của công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, baogồm tất cả các khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạnthanh toán Khoản phải thu này tăng hoặc giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau.Tuy nhiên, khi xem xét nội dung này cần liên hệ với phương thức tiêu thụ (bánbuôn, bán lẻ), với chính sách tín dụng bán hàng (tín dụng ngắn hạn, tín dụng dàihạn), với chính sách thanh toán tiền hàng (chiết khấu thanh toán), với khả năngquản lý nợ cũng như năng lực tài chính của khách hàng, … để nhận xét Chẳng hạn,
số nợ phải thu tăng hoặc giảm không phải do yếu kém của doanh nghiệp trong quản
lý nợ mà có thể do phương thức tiêu thụ áp dụng tại doanh nghiệp Nếu doanhnghiệp áp dụng phương thức bán lẻ là chủ yếu thì số nợ phải thu sẽ thấp do hàngbán ra được thu tiền ngay; ngược lại, với doanh nghiệp áp dụng phương thức bánbuôn là chủ yếu thì tỷ trọng nợ phải thu sẽ cao do đặc trưng phương thức tiêu thụnày là thanh toán chậm Hoặc với chính sách tín dụng bán hàng khác nhau trongthời kỳ doanh nghiệp áp dụng chính sách tín dụng bán hàng dài hạn, số nợ phải thuchắc chắn sẽ lớn hơn số nợ phải thu trong thời kỳ áp dụng chính sách bán hàng ngắnhạn Do chính sách tín dụng bán hàng có quan hệ chặt chẽ với lượng hàng hóa tiêuthụ và được coi như một biện pháp để kích thích tiêu thụ nên khi xem xét số nợ phảithu phát sinh, cần liên hệ với lượng hàng hóa tiêu thụ để đánh giá Việc áp dụng
Trang 12chính sách chiết khấu thanh toán cũng có quan hệ trực tiếp với số nợ phải thu Bởivậy, để thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn, doanh nghiệp cần xây dựng vàvận dụng chính sách chiết khấu thanh toán hợp lý, linh hoạt Trường hợp do khả năngquản lý khách hàng kém, khoản nợ phải thu sẽ tăng do phát sinh các khoản “nợ xấu”trong kỳ (nợ khó đòi, nợ quá hạn), để giảm bớt rủi ro có thể xảy ra, doanh nghiệp cần
có các biện pháp thích hợp như: bán các khoản nợ cho công ty mua bán nợ, ngừngcung cấp hàng hóa cho khách hàng này hay nhờ sự can thiệp của pháp luật để thu hội
nợ Đồng thời, để tránh tình trạng nợ đọng thêm, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ càngnăng lực tài chính của khách hàng và tình hình thanh toán của khách hàng trước khi đặtquan hệ làm ăn
Ngoài ra, còn có tài sản ngắn hạn khác
Tài sản dài hạn:
Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn được xếp vào loại tài sản dàihạn Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất độngsản đầu tư, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác
Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng,phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặcthanh toán trên một năm
Bất động sản đầu tư: Là những bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhàhoặc một phần của nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đithuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc chothuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hànghóa, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động sản xuấtkinh doanh thông thường
Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời 2điều kiện sau: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, nguyên giá củabất động sản đầu tư bao gồm giá mua, và các chi phí tài chính liên quan, thuế trước
bạ và các chi phí giao dịch khác Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giámua và các chi phí liên quan trực tiếp như: phí dịch vụ tư vấn pháp luật liên quan,thuế trước bạ và các chi phí giao dịch liên quan khác
Trang 13Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho
các hoạt động của doanh nghiệp Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của
Bộ Tài chính về việc hướng dẫnchế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cốđịnh (TSCĐ) thì nếu thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi làtài sản cố định:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên
Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định là một trong cácyếu tố quyết định tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vì:
- Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp
- Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản phẩm
và dịch vụ tốt, chi phí tạo ra sản phẩm, dịch vụ thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụsản phẩm, dịch làm tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh tranhtrên thị trường Xét trên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lýtrở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
- Xét trên góc độ đó tài chính doanh nghiệp, sự nhạy cảm trong đầu tư đổi mớitài sản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí như: Chi phí sửa chữa lớntài sản cố định, hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chi phí biến đổi để tạo ra sảnphẩm và là biện pháp rất quan trọng để hạn chế hao mòn vô hình trong điều kiệncách mạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, mạnh như hiện nay
Tài sản cố định được phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục vụcho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Thông thường có một số cách thứcphân loại chủ yếu sau:
- Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện: Theo phương pháp này,
toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm hai loại: Tài sản cố địnhhữu hình, tài sản cố định vô hình
Trang 14Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ
thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh như: Nhà cửa, vật kiến trúc,máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn….vv
Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể
nhưng xác định được giá trị do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt độngsản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp vớitiêu chuẩn tài sản cố định vô hình Thông thường, tài sản cố định vô hình bao gồm:Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, phần mềm máy
vi tính, bản quyền sáng chế…
Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tưvào tài sản cố định theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư tài sảndài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợpvới mỗi loại tài sản cố định
- Phân loại tài sản theo mục đích sử dụng: Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ
tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản cố định
đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinhdoanh phụ của doanh nghiệp
Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp
quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo
an ninh quốc phòng
Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu tàisản cố định theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý vàtính khấu hao tài sản cố định có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợpvới mỗi loại tài sản cố định
Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định có thể chia toàn bộ tài sản cốđịnh của doanh nghiệp thành các loại sau:
- Tài sản cố định đang dùng
- Tài sản cố định chưa cần dùng
Trang 15- Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sửdụng tài sản cố định trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụngtối đa các tài sản cố định hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các tài sản
cố định không cần dùng và chờ thanh lý để thu hồi vốn
Tài sản tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng
khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền bằnghiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trên một năm và các loại đầu tư khácvượt quá thời hạn trên một năm Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoảnvốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợitức lâu dài cho doanh nghiệp
Cụ thể, tài sản tài chính dài hạn bao gồm:
- Các chứng khoán dài hạn, phản ánh giá trị các khoản đầu tư cho việc muabán các cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên một năm và có thể bán ra bất cứ lúcnào với mục đích kiếm lợi nhuận
Tài sản dài hạn khác bao gồm: Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu
nhập hoàn lại, tài sản dài hạn khác
1.1.2 Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp
1.1.2.1 Vai trò của tài sản ngắn hạn
Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhàxưởng…vv doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hànghóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Như vậy, tài sản ngắn hạn làđiều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác tài sản ngắnhạn là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh
Ngoài ra, tài sản ngắn hạn còn đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanhnghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục Tài sản ngắn hạn còn là công cụ phảnánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp
1.1.2.2 Vai trò của tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn (TSCĐ) là những tư liệu lao động chủ yếu tham gia vào quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nó gắn liền với doanh nghiệp trong suốt
Trang 16quá trình tồn tại Doanh nghiệp có tài sản cố định có thể không lớn về mặt giá trịnhưng tầm quan trọng của nó lại không nhỏ chút nào.
TSCĐ phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, phản ánh quy môcủa doanh nghiệp có tương xứng hay không với đặc điểm loại hình kinh doanh mà
- TSCĐ không đủ tối tân để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác cả về chấtlượng và giá thành sản phẩm Điều này có thể dẫn đến các doanh nghiệp đến bờ vựcphá sản nếu lượng vốn của nó không đủ để cải tạo, đổi mới tài sản
- Sự thiếu hụt các khả năng sản xuất sẽ giúp các đối thủ cạnh tranh giành mấtmột phần thị trường của doanh nghiệp và điều này buộc doanh nghiệp khi muốngiành lại thị trường khách hàng đã mất phải tốn kém nhiều về chi phí tiếp thị hayphải hạ giá thành sản phẩm hoặc cả hai biện pháp
TSCĐ còn là một công cụ huy động vốn khá hữu hiệu:
- Đối với vốn vay ngân hàng thì tài sản cố định được coi là điều kiện khá quantrọng bởi nó đóng vai trò là vật thế chấp cho món tiền vay Trên cơ sở trị giá của tàisản thế chấp Ngân hàng mới có quyết định cho vay hay không và cho vay với sốlượng là bao nhiêu
- Theo Các Mác(Karl Max): Tài sản dài hạn là “xương sống và bắp thịt” của sảnxuất, tài sản cố định là nhận tố quan trọng để tăng năng suất lao động và phát triểnkinh tế Nó thể hiện một cách chính xác nhất năng lực và trình độ trang bị cơ sở vậtchất kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp tiên tiến hay lạc hậu
Trang 17- Tài sản cố định của doanh nghiệp được coi là lạc hậu, lỗi thời hay tiến tiến hiệnđại sẽ quyết định năng lực sản xuất yếu kém hay năng lực sản xuất cao Trình độtrang thiết bị TSCĐ cao hay thấp dẫn đến năng suất lao động cao hay thấp, nghĩa làTSCĐ có trình độ công nghệ hiện đại hơn thì trong một khoảng thời gian nhất địnhkhả năng sản xuất sẽ cao hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm, hoàn thiện hơn cả vềmẫu mã và chất lượng sản phẩm TSCĐ càng hiện đại thì tiêu hao nguyên vật liệuđầu vào sẽ ít hơn, khiến cho giá thành sản phẩm hạ thấp hơn, tạo điều kiện chodoanh nghiệp có lợi thế về khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- TSCĐ được coi là thứ vũ khí quan trọng đối với doanh nghiệp trong quá trìnhcạnh tranh Doanh nghiệp nào sở hữu được TSCĐ mới hơn, hiện đại hơn sẽ làdoanh nghiệp chiến thắng Do đó, người ta luôn vươn tới trình độ công nghệ, kỹthuật tiên tiến hơn, hiện đại hơn để không chỉ khỏi tụt hậu, thua thiệt với các doanhnghiệp khác
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng tài sản là xem xét hiệu quả sử dụng của các loại tài sản lưuđộng và tài sản lưu động của doanh nghiệp giữa kỳ này với kỳ trước Cụ thể phântích các vấn đề:
Phân tích tình hình sử dụng tài sản để đáp ứng đầy đủ, kịp thời khả năngthanh toán, tăng tốc độ luân chuyển tài sản Nếu doanh nghiệp dự trữ tài sản đápứng kịp thời khả năng thanh toán đến hạn hoặc sắp đến hạn, tài sản không sinh lờikhông dự trữ nhiều chứng tỏ việc sử dụng có hiệu quả và ngược lại
Phân tích tốc độ luân chuyển của toàn bộ tài sản dựa trên các chỉ tiêu doanh thutrên tổng tài sản và lợi nhuận trên tổng tài sản để có thể thấy được một đồng tài sản(vốn) doanh nghiệp bỏ ra trong một thời kỳ nhất định thì tạo ra được bao nhiêu đồngdoanh thu hoặc lợi nhuận
Phân tích khả năng sinh lời của một đồng tài sản lưu động và tài sản cố định vìhiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản cao hay thấp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng của từngloại tài sản cấu thành nên tổng tài sản Vì vậy, ta cần phân tích các chỉ tiêu hiệu suất sửdụng tài sản lưu động và hiệu suất sử dụng tài sản cố định để thấy được một đồng tàisản lưu động hay một đồng tài sản cố định doanh nghiệp bỏ ra trong một kỳ thì thuđược bao nhiêu đồng doanh thu.phải đảm bảo có tích lũy đáp ứng nhu cầu tái sản xuất
Trang 18mở rộng, phù hợp với quy luật khách quan và một lần nữa nâng cao hiệu quả kinhdoanh được nhấn mạnh
1.2.1 Một số nội dung lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sử dụng tài sản: khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mụctiêu của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng là nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ
sở hữu, do vậy mà việc sử dụng tài sản một cách có hiệu quả tức là kinh doanh đạt
tỷ lệ lợi nhuận cao
Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độkhai thác, sử dụng tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhằm mục tiêusinh lợi tối đa Các doanh nghiệp đều cố gắng sao cho tài sản được đưa bào sử dụnghợp lý để kiếm lợi cao nhất đồng thời luôn tìm các nguồn tài trợ, tăng tài sản cố địnhhiện có để mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chất và lượng, đảm bảo các mục tiêu màdoanh nghiệp đề ra
1.2.1.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng tài sản đóng vai trò quan trọng quyết định rất lớn tới hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sử dụng tài sản không hiệu quả gây lãngphí đối với doanh nghiệp Việc tổ chức quản lý tốt tài sản giúp cho doanh nghiệpkhai thác tốt nguồn vốn của mình, đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn sự tồn tạimới là yêu cầu mang tính đơn giản còn sự phát triển và mở rộng doanh nghiệp mới
là yêu cầu quan trọng Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn luôn phải đi kèm với
sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích lũy đảm bảo choquá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển Như vậy để phát triển
và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúc này không còn là bù đắp chi phí bỏ ra đểphát triển quá trình tái sản xuất đơn giản mà
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản
1.2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Trang 19- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Trong đó: Tổng tài sản bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng tài sản
có ở đầu kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thuthuần Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt, gópphần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp
-Hệ số sinh lời tổng tài sản:
Hệ số sinh lời tổng tài sản (ROA) = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản bình quân
Hệ số sinh lời tổng tài sản phản ánh một đơn vị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn vịlợi nhuận trước thuế và lãi vay Chỉ tiêu này được sử dụng để đo hiệu quả của việctài trợ cho nhu cầu về tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu và vốn vay.Nếu chỉ tiêu này lớn hơn chi phí nợ thì đầu tư bằng nợ có lợi cho doanh nghiệp hơnđầu tư bằng vốn chủ
- Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần:
Khả năng tạo ra doanh thu của tài sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để dự kiếnvốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến, chỉ tiêunày được xác định như sau:
Suất hao phí của tài
sản so với doanh thu
- Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản màdoanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này thường được xácđịnh như sau:
Trang 20Suất hao phí của tài sản so
với lợi nhuận sau thuế =
Tài sản bình quânLợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được 1 đồng lợinhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp thì cần bao nhiêu đồng tài sản, chỉ tiêu nàycàng thấp hiệu quả sử dụng các tài sản càng cao
1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
- Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn:
Hiệu suất sử dụng TSNH =
Doanh thu thuầnTSNH bình quân trong kỳTrong đó: TSNH bình quân trong kỳ là bình quân số học của TSNH có ở đầu
kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị TSNH sử dụng trong kỳ đem lại baonhiêu đơn vị doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tở hiệu quả sử dụng TSNHcàng cao
- Hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn:
Hệ số sinh lời TSNH = Lợi nhuận sau thuế
- Số ngày 1 vòng quay TSNH
Số ngày 1 vòng quay TSNH = 360
Vòng quay tài sản ngắn hạn
Trang 21Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để TSNH quay được một vòng Thờigian quay càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng nhanh.
Trang 22- Vòng quay hàng tồn kho:
Là số lần hàng hóa tồn kho bình quân trong kỳ được bán ra trong kỳ kế toán.Vòng luân chuyển này càng nhanh thì hiệu quả do mộ đồng tài sản mang lại càngcao, vòng quay hàng tồn kho cao thì doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động cóhiệu quả, đã giảm được vốn đầu tư cho hàng hóa dự trữ, rút ngắn được chu kỳchuyển đổi hàng dự trữ thành tiền mặt hoặc giảm bớt nguy cơ hàng hóa tồn khothành hàng ứ đọng Tuy nhiên, vòng quay hàng tồn kho quá cao có thể dẫn tới nguy
cơ doanh nghiệp không đủ hàng hóa cung cấp cho việc bán hàng dẫn đến tình trạngcạn kho, mất khách hàng gây ảnh hưởng tới tốc độ kinh doanh của doanh nghiệptrong lâu dài
Ngược lại, tỷ số quay vòng hàng tồn kho thấp thì cho thấy có sự tồn kho quámức hàng hóa làm tăng chi phí một cách lãng phí Sự quay vòng tồn kho chậm cóthể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương lai
Công thức:
Vòng quay hàng tồn kho =
Doanh thu thuầnHàng tồn kho bình quân
Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho:
Số ngày của một vòng quay =
hàng tồn kho
360
Số vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu này cho biết số ngày để số hàng tồn kho quay được một vòng Chỉtiêu vòng quay hàng tồn kho và số ngày của một vòng quay bằng hàng tồn kho tỷ lệnghịch với nhau Vòng quay tăng thì số ngày giảm và ngược lại
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thuthành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt
Trang 23động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dưbình quân các khoản phải thu trong kỳ Nó cho biết các khoản phải thu phải quaybao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó.
Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao Quan sát sốvòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanhnghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp
- Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân =
360
Vòng quay khoản phải thu
Tỷ số này cho biết doanh nghiệp mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồicác khoản phải thu của mình
- Suất hao phí tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế
Suất hao phí TSNH so với
Tài sản ngắn hạn bình quân
Lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồngtài sản ngắn hạn bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn càng cao Chỉ tiêu này còn là căn cứ để các doanh nghiệp xây dựng dựtoán về nhu cầu tài sản ngắn hạn khi muốn có mức lợi nhuận như mong muốn
1.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
- Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Trang 24Hiệu suất sử dụng TSDH = TSDH bình quân trong kỳDoanh thu thuầnTróng đó: TSDH bình quân trong kỳ là bình quân số học của TSDH có ở đầu
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồngdoanh thu Chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp ngàycàng lớn Hiệu suất TSCĐ được thể hiện qua công thức:
- Mối quan hệ giữa tài sản dài hạn và vốn dài hạn
+ Nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp bởivốn chủ sở hữu thì điều đó là hợp lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng mụcđích nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu hụt này được bù đắp bởi
nợ ngắn hạn thì điều này sẽ làm mất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.+ Nếu tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn, điều này chứng tỏ một phần nợ dàihạn đã chuyển vào tài trợ cho tài sản ngắn hạn Hiện tượng này vừa gây lãng phí chiphí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn Điều này cóthể dẫn tới lợi nhuận kinh doanh giảm và những rối loạn tài chính doanh nghiệp
- Suất hao phí tài sản dài hạn so với lợi nhuận:
Trang 25Suất hao phí tài sản
dài hạn so với lợi nhuận =
Tài sản dài hạn bình quân
Lợi nhuận sau thuế TNDN
- Hệ số hao mòn tài sản cố định:
Hệ số hao mòn tài sản =
cố định hữu hình
Số tiền khấu hao lũy kế đã trích
Nguyên giá TSCĐHH tại thời điểm đánh giá
1.2.2.4 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản thông qua mô hình tài chính
Mô hình Dupont: Mô hình tài chính Dupont là một trong những mô hìnhthường được vận dụng để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp trongmối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra Yếu tố đầu vào củadoanh nghiệp thể hiện bằng các tài sản đầu tư Kết quả đầu ra của doanh nghiệp đó
là chỉ tiêu doanh thu thuần, lợi nhuận Mục đích của mô hình tài chính Dupont làphân tích khả năng sinh lợi của một đồng tài sản mà doanh nghiệp sử dụng dưới sựảnh hưởng cụ thể của những bộ phận tài sản, chi phí, doanh thu nào Thông quaphân tích, giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định nhằm đạt được khả nănglợi nhuận mong muốn Trong phân tích theo mô hình Dupont, cụ thể như sau:
tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của tài sản (ROA)
Các nhân tố ảnh hưởng đến ROA theo mô hình Dupont
Ý nghĩa của mô hình Dupont như sau: Bên phải triển khai số vòng quay củatoàn bộ tài sản bình quân: phần này trình bày tài sản ngắn hạn bình quân cộng vớitài sản dài hạn bình quân bằng tổng số tài sản doanh nghiệp sử dụng Doanh thuthuần tiêu thụ chia cho toàn bộ tài sản bình quân cho biết số vòng quay của tài sảntrong kỳ phân tích
Trang 26Số vòng quay của tài sản bình quân càng cao chứng tỏ sức sản xuất của các tàisản đó càng nhanh, đó là nhân tố để tăng sức sinh lời của tài sản.
Nhìn vào bên phải ta thấy vòng quay của tài sản bình quân bị ảnh hưởng bởinhững nhân tố sau:
- Tổng doanh thu thuần càng lớn, số vòng quay càng nhiều
- Tài sản bình quân càng nhỏ, số vòng quay càng nhiều
Song tổng doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân có quan hệ mật thiết vớinhau, trong thực tế 2 chỉ tiêu này thường quan hệ cùng chiều, khi tổng tài sản bìnhquân tăng thì tổng doanh thu thuần cũng tăng
Trên cơ sở đó nếu doanh nghiệp muốn tăng vòng quay của tài sản thì cầnphân tích các nhân tố liên quan, phát hiện các mặt tích cực, tiêu cực của từng nhân
tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản bình quân, góp phần nâng caohiệu quả kinh doanh
Bên trái triển khai tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần: Phần này trình bàytổng chi phí bao gồm chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất Doanh thu thuầntrừ đi tổng chi phí bằng lợi nhuận thuần, lợi nhuận thuần chia cho doanh thu thuầnbằng tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần
Bên trái cho biết những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của doanh thuthuần Trên cơ sở đó, doanh nghiệp muốn tăng sức sinh lời của doanh thu thuần cần cócác biện pháp giảm chi phí bằng cách phân tích những nhân tố cấu thành đến tổng chiphí để có biện pháp phù hợp Đồng thời tìm mọi biện pháp để nâng cao doanh thu,giảm các khoản giảm trừ
Khi nghiên cứu khả năng sinh lời của tài sản cũng cần phải quan tâm đến mứctăng của vốn chủ sở hữu bởi số vòng quay của tài sản bình quân và sức sinh lời củadoanh thu thuần là hai nhân tố không phải lúc nào cũng tăng ổn định Mặt khác, đểtăng lợi nhuận trong tương lai cũng cần phải đầu tư thêm Việc tăng vốn chủ sở hữuphụ thuộc vào lợi nhuận thuần và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
Do vậy, cần phải kết hợp tăng vốn chủ sở hữu và tăng những nguồn tài trợ từ bênngoài Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp dựa vào mô hình tàichính Dupont giúp đánh giá đầy đủ hiệu quả trên mọi phương diện Đồng thời phát
Trang 27hiện ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản để từ đó có các biệnpháp nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉtiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụngtài sản Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợpvới từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúpcho doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đề ra
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân
Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào Tronghoạt động sản xuất- kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đếnhiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt là trình
độ của cán bộ quản lý và tay nghề của người công nhân
Trước hết, về trình độ cán bộ quản lý: Trình độ cán bộ quản lý thể hiện ở trình
độ chuyên môn nhất định, khả năng tổ chức, quản lý và ra quyết định
Nếu cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, khả năng tổchức, quản lý tốt đồng thời đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với tìnhhình của doanh nghiệp và tình hình thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản cao,mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Nếu khả năng tổ chức, quản lý kém, quyếtđịnh sai lầm thì tài sản sẽ không được sử dụng một cách hiệu quả dẫn đến doanhnghiệp có thể thua lỗ, thậm chí phá sản Như vậy, trình độ cán bộ quản lý đóng vaitrò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanhnghiệp Do đó, yêu cầu đối với bộ phận này là rất cao, họ cần có chuyên mônnghiệp vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo nhằm đưa
ra các quyết định đúng đắn, kịp thời cho doanh nghiệp
Thứ hai, về trình độ của công nhân: Bộ phận công nhân là bộ phận trực tiếptạo ra sản phẩm, dịch vụ, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên là nhân tố trực tiếp
sử dụng tài sản của doanh nghiệp Đối với công nhân sản xuất có tay nghề cao, cókhả năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo,tự chủ trong công
Trang 28việc, có ý thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vận hành thì tài sản sẽđược sử dụng hiệu quả hơn đồng thời sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, hạgiá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Ngược lại, nếutrình độ tay nghề của người công nhân thấp, không nắm bắt được các thao tác kỹthuật, ý thức bảo quản máy móc kém sẽ dẫn tới tình trạng sử dụng lãng phí nguyênvật liệu, giảm tuổi thọ của máy móc làm tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm.Điều đó có thể làm giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn tới hiệu quả
sử dụng tài sản giảm
1.3.1.2 Tổ chức sản xuất kinh doanh
Một quy trình sản xuất kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồngchéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năngsuất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sửdụng tài sản, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, một doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, có nhiều giảipháp thực hiện chiến lược phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của doanh nghiệp trongtừng thời kỳ và phù hợp với nhu cầu thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao.Ngoài ra, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọngtrong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệptiếp cận kịp thời với sự tiến bộ khoa học công nghệ để đổi mới trang thiết bị thì sẽgiảm được hao mòn vô hình của tài sản cố định, nâng cao chất lượng, đổi mới sảnphẩm, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
1.3.1.3 Đặc điểm sản xuất – kinh doanh
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản củadoanh nghiệp Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽđầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau Tỷ trọng tài sản ngắn hạn
và tài sqanr dài hạn khác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau Doanhnghiệp có đặc điểm hàng hóa khác nhau và đối tượng khách hàng khác nhau nênchính sách tín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thukhác nhau Như vậy, đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác động quantrọng đến hiệu quả sử dụng tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản, vòngquay và hệ số sinh lợi của tài sản
Trang 291.3.1.4 Năng lực quản lý tài sản của doanh nghiệp
Quản lý tài sản một cách khoa học chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sửdụng tài sản của doanh nghiệp
Quản lý tài sản của doanh nghiệp được thể hiện chủ yế trong các nội dung sau:Quản lý tiền mặt: Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể
là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chiphí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp.Quản lý tiền mặt hiệu quả góp phần năng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắnhạn nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp
Quản lý dự trữ, tồn kho: Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụcho sản xuất kinh doanh thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạtđộng của doanh nghiệp, nó như tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trongchu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do các hoạt động này diễn ra khôngđồng bộ Hơn nữa, hàng hóa dự trữ, tồn kho giúp cho doanh nghiệp giảm thiệt hạitrước những biến động của thị trường Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăngchi phí lưu kho, chi phí bảo quản và gây ứ đọng vốn Vì vậy, căn cứ vào kế hoạchsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng sẵn sang cung ứng của nhà cungcấp cùng với những dự đoán biến động của thị trường, doanh nghiệp cần xác địnhmột mức tồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiêu quả sử dụng tài sản ngắn hạn chodoanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, có tác độngtrực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng và hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp nói chung Đó là nhân tố như:
Trang 30hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động Do vậy, doanhnghiệp tính toán dự trữ một lượng hợp lý vật liệu, nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chiphí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bịgián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả như mất thị trường, giảm lợi nhuận củadoanh nghiệp…
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên vật liệu nằm ở các công đoạncủa dây chuyền sản xuất Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng có nhiều côngđoạn sản xuất thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn Đây là những bướcđệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục
Khi tiến hành sản xuất xong, do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu thụ,
do những chính sách thị trường của doanh nghiệp… đã hình thành nên bộ phậnthành phẩm tồn kho
Hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm 3 bộ phận như trên nhưngthông thường trong quản lý chúng ta tập trung vào bộ phận thức nhất, tức là nguyênvật liệu dự trữ cho sản xuất kinh doanh
Quản lý các khoản phải thu: Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịuhay còn gọi là tín dụng thương mại là một hoạt động khoogn thể thiếu đói với mọidoanh nghiệp
Quản lý tài sản cố định: Để đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản
cố định, doanh nghiệp phải xác định quy mô và chủng loại tài sản cần thiết cho quátrình sản xuất kinh doanh Đây là vấn đề thuộc đầu tư xây dựng cơ bản, đòi hỏidoanh nghiệp phải cân nhắc kỹ càng các quyết định về đầu tư dựa trên cơ sở cácnguyên tắc và quy trình phân tích dự án đầu tư Nếu mua nhiều tài sản cố định màkhông sử dụng hết sẽ gây ra sự lãng phí vốn, song nếu phương tiện không đủ so vớilực lượng lao động thì năng suất sẽ giảm Trên cơ sở lượng tài sản cố định đã muasắm, một mặt doanh nghiệp phải tận dụng tối đa thời gian và hiệu suất của máy,thực hiện an toàn, tiết kiệm trong vận hành máy, cố gắng khấu hao nhanh để sớmđổi mới, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Điều đó sẽ tạođiều kiện để cho doanh nghiệp luôn luôn được đổi mới theo hướng tích cực, hiện
Trang 31đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trường, mangtính cạnh tranh cao.
Việc xác định mức trích khấu hao là công việc tương đối phức tạp Trước tiên,doanh nghiệp phải xác định tốc độ hao mòn của tài sản Điều này rất khó khăn doxác định hao mòn hữu hình đã khó, xác định hao mòn vô hình càng khó hơn, nó đòihởi sự hiểu biết, khả năng dự đoán của doanh nghiệp Khi đã xác định được mức độhao mòn, doanh nghiệp cần phải cân nhắc tới các yếu tố sau:
Tình hình tiêu thụ sản phẩm doa TSCĐ đó chế tạo trên thị trường Do tìnhhình tiêu thụ tác động trực tiếp đến giá bán sản phẩm đồng thời sẽ cho biết lượngcầu sản phẩm của doanh nghiệp là bao nhiêu và hoạt động của TSCĐ sẽ ở mức côngsuất nào và kéo theo nó hao mòn ở mức độ nào
Quy định của nhà nước trong việc tính khấu hao: Nhà nước có quy định quản
lý trong việc trích khấu hao TSCĐ như phương pháp tính khấu hao, thời gian sửdụng định mức của TSCĐ, tác động trực tiếp đến mức trích khấu hao hàng kỳ củadoanh nghiệp
Việc lựa chọn được phương pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp là biện phápquan trọng để bảo toàn vốn cố định và cũng là một căn cứ quan trọng để xác địnhthời gian hoàn vốn đầu tư vào tài sản cố định từ các nguồn tài trợ dài hạn Thôngthường có các phương pháp khấu hao chủ yếu sau:
- Phương pháp khấu hao đường thẳng
- Phương phấp khấu hao theo số dư giảm dần
1.3.1.5 Công tác thẩm định dự án
Công tác thẩm định dự án và đặc biệt là thẩm định tài chính dự án có vai tròrất quan trọng đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tớihiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Nếu công tác thẩm định tài chính dự án được thực hiện theo một quy trình chặtchẽ với đội ngũ cán bộ thẩm định có trình độ chuyên môn vững vàng thì dự án sẽđược đánh giá một cách chính xác về mức độ cần thiết của dự án đối với doanhnghiệp, quy mô của dự án, chi phí, lợi ích của dự án mang lại và cả những rủi ro cóthể gặp phải trong tương lai Điều này giúp cho doanh nghiệp có những quyết địnhđầu tư đúng đắn góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu
Trang 32thụ, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận làm cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản và hệ
số sinh lợi tổng tài sản tăng Ngược lại, công tác thẩm định tài chính dự án khônghiệu quả sẽ dẫn đến những quyết định đầu tư sai lầm hoặc doanh nghiệp có thể bỏqua các cơ hội đầu tư do dự án bị đánh giá sai Quyết định đầu tư sai lầm sẽ dẫn tớihậu quả nghiêm trọng Nếu đầu tư quá nhiều, không đúng hướng hoặc đầu tư khôngđồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn làm giảm hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp Nếu đầu tư quá ít không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, từ đó có thể bị mấtthị trường, giảm khả năng cạnh tranh Tất cả các điều này đều dẫn đến tài sản khôngđược khai thác một cách triệt để và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản
1.3.1.6 Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập vàtiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh Vốn là nguồn hình thành nên tài sản
Vì vậy, khả năng huy động vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng lớnđến hiệu qủa sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng quy
mô sản xuất – kinh doanh, đa dạng hóa các hoạt động đầu tư làm tăng doanh thu chodoanh nghiệp và từ đó làm tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản Bên cạnh đó, nếudoanh nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm, góp phần làmgiảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận và do đó hệ số sinh lợi tổng tài sản sẽ tăng
1.3.2 Các nhân tố khách quan
1.3.2.1 Môi trường kinh tế
Nhân tố này thể hiện các đặc trưng của hệ thống kinh tế trong đó các doanhnghiệp tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh như : Chu kỳ phát triển kinh tế,tăng trưởng kinh tế, hệ thống tài chính tiền tệ, tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp,các chính sách tài chính tín dụng của nhà nước
Nền kinh tế nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởngkinh tế sẽ quyết định đến nhu cầu sản phẩm cũng như khả năng phát triển các hoạtđộng sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp
Hệ thống tài chính tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khóa củachính phủ có tác động lớn tới quá trình ra quyết định sản xuất kinh doanh và kết quảhoạt động của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu quả sử dụng tài sản
Trang 33thực của doanh nghiệp sẽ khó có thể cao được do sự mất giá của đồng tiền Ngoài
ra, chính sách tài chính – tiền tệ cũng tác động lớn tới hoạt động huy động vốn cũngnhư hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thịtrường quốc tế Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nềnkinh tế các nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp.Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnhđến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp nhữngthuận lợi đồng thời cả những khó khăn Do đó, doanh nghiệp phải luôn đánh giá và
dự báo những thay đổi đó đó để có thể đưa ra những biện pháp thích hợp nhằmtranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môitrường kinh tế
1.3.2.2 Chính trị - pháp luật
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng Sựcan thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vào hoạt động sản xuất – kinh doanh củadoanh nghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung như : duy trì ổn định kinh tế,kích thích phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, chính trị, định hướngphát triển kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Ảnh hưởng đến quản lítài sản :
+ Tốc độ phát triển của nền kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, sứcmua của thị trường sẽ bị giảm sút Điều này làm ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụcủa doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ khó tiêu thụ hơn, doanh thu sẽ ít
đi, lợi nhuận giảm sút và tất yếu làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nóichung và tài sản nói riêng
+ Rủi ro: Do những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh màcác doanh nghiệp thường gặp phải trong điều kiện kinh doanh của cơ chế thị trường
có nhiều thành phần kinh tế tham gia cùng cạnh tranh với nhau Ngoài ra doanhnghiệp còn gặp phải những rủi ro do thiên nhiên gây ra như động đất, lũ lụt, núilửa mà các doanh nghiệp khó có thể lường trước được
Trang 34+ Do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm giảm giá trị tàisản, vật tư vì vậy, nếu doanh nghiệp không bắt kịp điều này để điều chỉnh kịp thờigiá cả của sản phẩm thì hàng hoá bán ra sẽ thiếu tính cạnh tranh làm giảm hiệu quả
sử dụng vốn nói chung và tài sản nói riêng
+ Ngoài ra, do chính sách vĩ mô của Nhà nước có sự điều chỉnh, thay đổi vềchính sách chế độ, hệ thống pháp luật, thuế cũng tác động đến hiệu quả sử dụngtài sản của doanh nghiệp
1.3.2.3 Khoa học - công nghệ
Khoa học – công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suấtlao động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệpnói riêng Sự tiến bộ khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệpnâng cao năng lực sản xuất giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh Tuy nhiên,tiến bộ khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao nănglực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, tiến bộ khoahọc công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hìnhnhanh hơn Có những máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trêncác dự án, các dự thảo, phát minh đã trở nên lạc hậu ngay chính thời điểm đó
Như vậy, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa học – công nghệ là hếtsức cần thiết đối với doanh nghiệp khi lựa chọn phương án đầu tư để có thể đạtđược hiệu quả cao nhất trong hoạt động sử dụng cân đối tài sản của doanh nghiệp
1.3.2.4 Thị trường
Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường đầu vào, thị trường đầu ra và thịtrường tài chính
Khi thị trường đầu vào biến động, giá cả nguyên vật liệu tăng lên sẽ làm tăngchi phí đầu vào của doanh nghiệp và do đó làm tăng giá bán gây khó khăn cho việctiêu thụ sản phẩm Nếu giá bán không tăng lên theo một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệtăng của giá cả nguyên vật liệu đầu vào cùng với sự giảm sút về số lượng sản phẩmtiêu thụ sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 35Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanhnghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu thị trường thì
sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhucầu Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn Thị trường tiền
là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn được mua bán còn thị trườngvốn là thị trường cung cấp vốn trung hạn và dài hạn Thị trường chứng khoán baogồm cả thị trường tiền là nơi mua bán các chứng khoán ngắn hạn và thị trường vốn,nơi mua bán các chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, mởrộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu thị trường chứng khoánhoạt động hiệu quả sẽ là kênh huy động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp Tuynhiên, nếu các doanh nghiệp tập trung quá nhiều vào đầu tư chứng khoán sẽ dẫn đếntình trạng cơ cấu tài sản mất cân đối làm gián tiếp giảm hiệu quả sử dụng tài sản
1.3.2.5 Đối thủ cạnh tranh
Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại, phát triển của doanhnghiệp Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành sảnxuất có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưkhách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế Các yếu
tố này sẽ quyết định tính chất, mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợinhuận của doanh nghiệp
Tài sản là một trong những yếu tố quan trọng đóng vai trò to lớn trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh Vì vậy sử dụng hiệu quả tài sản là một vấn đề quan trọngtrong bất kỳ doanh nghiệp nào Để sử dụng hiệu quả tài sản và các nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả sử dụng của doanh nghiệp
Cơ sở lý luận trên cùng là tiền đề, là cơ sở để tiến hành nghiên cứu, phân tíchthực trạng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ Phần SSC Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
Ở CÔNG TY CỔ PHẦN SSC VIỆT NAM
2.1 Khái quát chung về công ty cổ phần SSc Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN SSc Việt Nam
- Trụ sở: Số 49, Tổ 47 Phường Dịch Vọng Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
- Loại hình: công ty cổ phần
- Vốn điều lệ: 40.000.000.000 đồng ( Bốn mươi tỷ đồng)
- Ngày thành lập: ngày 10 tháng 11 năm 2009 theo quyết định số0104246287,do phòng đăng ký kinh doanh- Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp
- Đôi nét về quá trình hình thành và phát triển:
Trong những năm vừa qua, nhờ chính sách mở cửa, diện mạo nền kinh tế nước
ta ngày một khởi sắc Cơ chế thị trường đã thực sự mở ra một bước ngoặt quantrọng đánh dấu sự đổi mới từ bên trong nền kinh tế đồng thời cũng tạo nhiều cơ hộithuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam trên mọi lĩnhvực của đời sống kinh tế
Nắm bắt được cơ hội kinh doanh và nhu cầu thị trường, công ty cổ phần SSc
Việt Nam được thành lập trên cơ sở các thành viên sáng lập là Ông Đoàn Thanh Hùng và Bà Nguyễn Thị Khánh
Ngay từ khi mới thành lập công ty ban hành quy chế quản lý điều hành sảnxuất kinh doanh, xây dựng nếp sống kỷ cương trong công ty và các mục tiêu,phương châm hoạt động của công ty
Tuy nhiên khi bắt đầu bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như cácdoanh nghiệp non trẻ khác, Công ty đã gặp không ít khó khăn khi thị trường pháttriển quá nhanh cùng với việc môi trường cạnh trnh gay gắt, các đối thủ cạnh tranhmạnh về tài chính, chuyên nghiệp về chuyên môn Nhưng với phương châm tiếnchậm nhưng chắc, lấy uy tín chất lượng làm thước đo hàng đầu, công ty SSc ViệtNam đã dần dần khắc phục khó khăn, vượt qua và từng bước khẳng định đượcmìnhtrên thị trường xây dựng Hà Nội và đng dần mở rộng phạm vi sản xuất kinhdoanh của mình ra các tỉnh thành khác trong cả nước
Trang 37Trong thời gian sắp tới,công ty sẽ tiến hành bổ sung thêm ngành nghề kinhdoanh và vốn điều lệ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển công ty thành một công
ty đa ngành nghề, phát triển vững mạnh, đem lại ngày càng nhiều lợi ích cho xãhội, bản thân và người lao động
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty SSC Việt Nam.
Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của công ty cổ phần SSC Việt Nam
• Chức năng của công ty
- Tổ chức sản xuất và kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký với các cơquan chức năng của nhà nước
- Thực hiện theo đúng quy định của Bộ Lao động- Thương binh xã hội về việc
ký kết các hợp đồng lao động, đồng thời ưu tiên sử dụng lao động của địa phương
- Tìm kiếm, ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế với các đối tác trong và ngoàinước
- Thực hiện các chế độ báo cáo thống kê định kỳ theo quy định của Nhà nước
• Nhiệm vụ của công ty
- Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty vớiphương châm năm sau cao hơn năm trước Làm tốt nghĩa vụ với nhà nước về việcnộp đầy đủ các khoản tiền cho ngân sách nhà nước dưới hình thức thu thuế thu nhậpdoanh nghiệp
- Thực hiện tốt chính sách cán bộ, tiền lương, làm tốt công tác quản lý laođộng, đảm bảo công bằng thu nhập, bồi dưỡng để không ngừng nâng cao nghiệp vụ,tay nghề cho cán bộ công nhân viên của công ty
- Thực hiện tốt những cam kết trong hợp đồng kinh tế với các đơn vị nhằmđảm bảo đúng tiến độ sản xuất Quan hệ tốt với khách hàng, tạo uy tín với kháchhàng
- Làm tốt công tác bảo vệ an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ môi trường
Trang 38Hội đồng quản trị
Phó giám đốc sản xuất phó giám đốc kinh doanh
Phòng kế hoạch kỹ thuậtphòng vật tư cơ giới
phòng kinh doanh phòng tài chính kế toánphòng ISO
đội thợ 1 đội thợ 2
giám đốc
Mô hình tổ chức
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty cổ phần SSC Việt Nam.
2.2 Phương pháp thu nhập và xử lý dữ liệu
2.2.1 Phương pháp thu nhập dữ liệu.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra: đây là phương pháp thuthập tài liệu ban đầu
được thực hiện bằng cách người được hỏi nhận phiếu điều tra, tự mình ghi câu trả
lời vào phiếu rồi trả cho người điều tra Bảng câu hỏi điều tra phỏng vấn sử dụng
trong thu thập thông tin của công ty cổ phần SSC Việt Nam được thiết kế gồm 10
câu hỏi, đi từ tổng quan đến cụ thể, bao gồm những câu hỏi liên quan đến việc sử
dụng tài sản trong công ty, nội dung công tác phân tích hiệu quả sử dụng tài sản mà
công ty đã thực hiện Bảng câu hỏi được dùng để phỏng vấn các nhân viên trong
phòng kế toán và một số thành viên ban giám đốc của công ty