1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường bán lẻ cộng đồng kinh tế ASEAN: Thời cơ và thách thức đối với Việt Nam

7 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 293,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27 đã mang lại nhiều thời cơ cũng như thách thức đối với lĩnh vực bán lẻ nói chung và cũng như Việt Nam nói riêng. Đối với Việt Nam. các rào cản về thuế quan, phi thuế quan và thuận lợi thương mại mang lại cho Việt Nam những thời cơ nhằm nâng cao chất lượng cũng như nền kinh tế nước nhà.

Trang 1

TÓM TẮT

Sau ḥi ngḥ thượng đ̉nh ASEAN l̀n th́

27 đã mang ḷi nhìu thời cơ cũng như th́ch

th́c đ́i với lĩnh ṿc b́n lẻ nói chung v̀ cũng

như Vịt Nam nói riêng Đ́i với Vịt Nam, ćc

r̀o c̉n v̀ thú quan, phi thú quan v̀ thụn

lợi thương ṃi mang ḷi cho Vịt Nam những

thời cơ nhằm nâng cao chất lượng cũng như

THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN: THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Nguyễn Minh Đạt *

ǹn kinh t́ nước nh̀ Tuy nhiên, Vịt Nam ḷi chưa tḥt ṣ ṭn dụng được những thời cơ cũng như ćc doanh nghịp b́n lẻ nước ngòi đang ồ ̣t đ̀u tư v̀o Vịt Nam đang đặt ra những th́ch th́c cho Nh̀ nước cũng như ćc doanh nghịp ṇi đ̣a

Từ khóa: ASEAN, thị trường bán lẻ.

KHXM Vịt Nam

THE ASEAN COMMERCIAL ECONOMIC COMMODITY MARKET:

TIMING AND CHALLENGES FOR VIETNAM

ABSTRACT

After the Summit 27 th ASEAN has brought

a lot of opportunities as well as challenges

for the retail sector in general and Vietnam

particular For Vietnam, barrier of tariff

tax, non-tariff tax and trade facilitation

gives Vietnam the opportunities to imporve

the quality and also the country’s economy However, Vietnam has not really take the advatanges and foreign retailers are massively investing in Vietnam are posing challenges for the State as well as local businesses.

Keyword: ASEAN, retail market

1 THỊ TRƯỜNG CHUNG CỦA CỘNG ĐỒNG

KINH TẾ ASEAN

Ngày 22/11/2015 tại Hội nghị thượng đ̉nh

ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh đạo ASEAN

đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc

thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

với 4 mục tiêu: hình thành một thị trường và

cơ sở sản xuất chung, hình thành một khu

ṿc kinh tế cạnh tranh, phát triển kinh tế cân

bằng và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Từ

31/12/2015, AEC chính thức hình thành AEC

được ḍ kiến như là một thị trường và cơ sở

sản xuất đơn nhất cho phép dòng chảy ṭ do

của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động của một cộng đồng kinh tế chung quy mô lớn và phát triển năng động

Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ tḥc hiện để xây ḍng một thị trường chung bao gồm dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu Để ṭ do hoá thương mại hàng hoá, cho đến nay ASEAN đã giảm thuế quan cho các mặt hàng trong danh sách giảm thuế

về mức từ 0 đến 5%, hình thành nên một thị

Trang 2

trường mở không còn các rào cản thuế quan

đối với hàng hóa ASEAN đưa vào hoạt động

Cơ chế hải quan một cửa ASEAN (ASEAN

Single Window-ASW) và các quy định về áp

dụng chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá có

nguồn gốc từ ASEAN để đủ điều kiện hưởng

các ưu đãi về thuế quan, trong đó ASEAN

đang nghiên cứu tiến tới việc cho phép các

doanh nghiệp ṭ chứng nhận xuất xứ

Triển vọng mở rộng của thị trường AEC

được ḍ báo là rất khả quan do các yếu tố sau:

- Về dân số, với trên 630 triệu dân (năm

2015), 10 nước ASEAN là một thị trường hàng

hóa và dịch vụ tiêu dùng lớn thứ ba ở Châu Á

(sau Trung Quốc với 1,37 tỷ dân và Ấn Độ

với 1,31 tỷ dân) 60% dân số của AEC trẻ,

dưới 35 tuổi, là nguồn nhân ḷc một mặt có

khả năng tạo nên tăng trưởng kinh tế nhanh,

tăng năng suất lao động và mặt khác cũng có

sức mua tăng nhanh Theo một ḍ báo từ nay

đến 2030, khoảng 1/3 lượng tăng tiêu dùng sẽ

do mức tăng dân số, 2/3 còn lại do ṣ tăng

mức chi tiêu của dân cư1

- Về kinh tế, các nước AEC có tốc độ tăng

trưởng GDP cao hơn mức bình quân thế giới

Đến 2020, GDP của AEC ḍ kiến sẽ đạt 4.700

tỷ USD Nhờ tăng trưởng kinh tế nhanh, nhóm

trung lưu trong dân số của AEC (quy ước là

có mức chi tiêu mỗi ngày từ 16 tới 100 USD)

sẽ tăng từ 120 triệu người (28% dân số) năm

2012 lên tới 400 triệu người (55% dân số) năm

2020 Trong cùng thời gian đó, nhóm này ở

Trung Quốc tăng từ 800 triệu người (61%)

lên 1 tỷ (71%), và ở Ấn Độ tăng từ 210 triệu (17%) lên 540 triệu (39%) Theo nghiên cứu của Công ty Nielson chuyên nghiên cứu thị trường toàn cầu, người tiêu dùng ASEAN là một trong số những khách tiêu dùng có Ch̉ số niềm tin người tiêu dùng toàn cầu (the Global Consumer Conidence Index) cao nhất trên thế giới, phản ánh ṣ lạc quan tiêu dùng ASEAN 2

- Bên trong AEC, giữa các nước có ṣ

đa dạng và khác biệt lớn về điều kiện sống, văn hóa tiêu dùng nên sức mua, loại nhu cầu

về hàng tiêu dùng cũng rất phong phú và đa dạng Bản thân ṣ đa dạng về tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán, nhiều nhóm sắc tộc trong dân cư của các nước trong AEC cũng đã tạo nên thói quen và hành vi tiêu dùng rất khác nhau Với mức thu nhập của người dân liên tục tăng, nhu cầu về các sản phẩm chất lượng tốt hơn cũng đang tăng lên Đối với tầng lớp trung lưu yếu tố chất lượng và mẫu mã hàng hóa ngày càng chiếm ưu thế hơn giá cả, trong khi phần đông người tiêu dùng bình dân vẫn

có xu hướng ḷa chọn hàng hóa có giá thấp hơn và chấp nhận chất lượng ở mức nhất định Bản thân nhu cầu tiêu dùng của tầng lớp trung lưu các nước có trình độ phát triển kinh

tế chênh lệch nhau cũng có ṣ khác biệt lớn

Cơ cấu tiêu dùng ở các nước có mức sống cao như Brunei, Singapore khác so với các nước

có mức sống trung bình loại cao như Malaixia, Thái Lan, và càng khác so với các nước có mức sống trung bình thấp như Inđônêxia, Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanma3 (Bảng 1)

1 McKinsey & Company (2016) Urban World: The Global Consumers to Watch McKinsey Global Institute

2 Nielson (2014) ASEAN 2015: Seeing around the corner in a new Asian landscape The Nielson Company

3 Theo phân loại của Ngân hàng thế giới, nước có mức sống cao là khi có GNI trên đầu người trên 12.476USD, mức thu nhập trung bình cao là từ 4036 USD đến 12.475 USD, mức thu nhập trung bình thấp là từ 1026 USD đến 4035 USD, mức thu nhập thấp là từ 1025 USD và thấp hơn

Trang 3

Bảng 1: Tổng thu nḥp qúc dân trên đ̀u người (GNI) c̉a ćc nước ASEAN năm 2015 (USD)

Nước Tính theo phương pháp Atlas Tính theo phương pháp sức mua tương đương (PPP)

(1) http://www.euromonitor.com/

2 SỰ PHÁT TRIỂN NHANH CHÓNG CỦA

THƯƠNG MẠI BÁN LẺ Ở AEC

Đối lập với ṣ trì trệ của ngành bán lẻ ở các

nước phát triển trong bối cảnh khủng hoảng

và suy thoái kinh tế toàn cầu mấy năm gần

đây, hoạt động của ngành bán lẻ ở các nước

ASEAN không ngừng mở rộng về quy mô và

nâng cấp cơ cấu chất lượng theo hướng tăng

các loại hình bán hàng hiện đại Số liệu của

Công ty Euromonitor International ước tính

giá trị hàng hóa tiêu dùng lưu thông trên các

thị trường bán lẻ 5 nước chiếm phần lớn dân

ASEAN năm 2016 vào khoảng 800 tỷ USD,

bằng khoảng ¼ thị trường Trung Quốc; trong đó: Inđônêxia 353,8 tỷ USD, Malaixia 95,5 tỷ USD, Thái Lan 117,3 tỷ USD, Philipin 142,1

tỷ USD và Việt Nam 88,4 tỷ USD(1)

Những nước có trình đ̣ ph́t trỉn cao hơn thì ḿc đ̣ mở ṛng doanh ś b́n lẻ đ̣t đ̣ bão hòa cao hơn v̀ vì ṿy t́c đ̣ tăng doanh ś cḥm hơn B̉ng 2 cho thấy sắp x́p t́c đ̣ tăng doanh ś b́n lẻ theo hình thức

cửa hàng (tức là chưa tính bán lẻ qua mạng Internet) theo thứ ṭ từ đến thấp đến cao là: Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Philipin và Việt Nam

Bảng 2: Ḍ t́nh t́c đ̣ tăng doanh ś b́n lẻ qua hình th́c cửa h̀ng

ở ṃt ś nước ASEAN trong thời gian 2016-2020 (%)

Nguồn: Euromonitor International http://www.euromonitor.com/

Trang 4

Trong khi ở Philipin, Inđônêxia và Việt

Nam hoạt động bán lẻ diễn ra chủ yếu ở khu

ṿc phi chính thức, với các chợ và cửa hàng

nhỏ, thì ở những nước có tỷ lệ đô thị hóa cao,

các hình thức bán lẻ hiện đại hơn như siêu thị,

các nhà hàng lớn, đại siêu thị ngày càng mở

rộng và chiếm tỷ lệ cao hơn

Các công ty thương mại nước ngoài lớn

như AEON (Nhật Bản), Tesco (Anh), Dairy

Farm (Hồng Công), Lotte, E-Mart (Hàn

Quốc), Auchan (Pháp) ồ ạt đầu tư các siêu thị

và cửa hàng lớn Trong khi đó cũng đồng thời

diễn ra các thương vụ mua bán, đầu tư của các

nhà kinh doanh thương mại lớn của Singapore,

Thái Lan, Philipin nhằm chiếm lĩnh thị phần

bán lẻ ở các nước láng giềng ASEAN như Việt

Nam, Campuchia, Lào, Myanma

Ở Thái Lan, mặc dù có các công ty thương

mại lớn trong nước phát triển, song các công

ty nước ngoài lớn, đặc biệt là Big C (Pháp),

Tesco Lotus (Anh) và Takashimaya (Nhật

Bản) có mặt ở tất cả các đô thị lớn

Ở Malaixia, chính phủ có chủ trương giới

hạn thành phần nước ngoài trong hệ thống

bán lẻ, bằng cách yêu cầu các công ty nước

ngoài phải giành 30% cổ phần của đại siêu thị (hypermarket có diện tích mặt bằng trên 5000m2) cho các nhà đầu tư người Mã Lai (Bumiputera) Người nước ngoài không được phép kinh doanh siêu thị tḥc phẩm (super-market); trong khi các hình thức khác như cửa hàng lớn (super-store từ 3000 đến 4999

m2, department store, cửa hàng chuyên doanh một loại nhóm mặt hàng – specialty store) thì cho phép đầu tư kinh doanh 100% vốn nước ngoài AEON và Tesco chiếm thị phần áp đảo trong hình thức hypermarket và superstore ở Malaixia

Philipin cũng có chính sách hạn chế các công ty bán lẻ lớn nước ngoài hoạt động bằng cách không cho phép chúng sở hữu đất đai Công ty bán lẻ nước ngoài cũng phải có quy

mô đầu tư ít nhất 2,5 triệu USD và trong vòng

8 năm hoạt động phải bán ít nhất 1/3 tổng số

cổ phần cho nhà đầu tư trong nước

Mặc dù hiện nay thương mại điện tử (qua mạng Internet) mới ch̉ chiếm khoảng 2% tổng doanh số bán lẻ của 5 nước, song hình thức thương mại này cũngđang và sẽ tăng trưởng với tốc độ cao (Bảng 3)

Bảng 3: Ḍ t́nh t́c đ̣ tăng doanh ś b́n lẻ qua hình th́c ṃng địn tử

ở ṃt ś nước ASEAN trong thời gian 2016-2020 (%)

Nguồn: Euromonitor International http://www.euromonitor.com/

Tuy nhiên, nếu so với các nước có nền kinh

tế phát triển như Mỹ và Trung Quốc thì các ch̉ số về thương mại điện tử của các nước ASEAN còn rất thấp (Bảng 4)

Trang 5

Bảng 4: So śnh thương ṃi địn tử năm 2015 ở 5 nước ASEAN với Mỹ v̀ Trung Qúc

mạng tính trên đầu người

(USD)

Tỷ lệ bán qua mạng trong tổng doanh số bán lẻ (%)

Nguồn: Euromonitor International http://www.euromonitor.com/

Mặc dù ở các nước ASEAN cũng đã có

những thương hiệu thương mại điện tử khá

phổ biến, như Lelong.my ở Malaixia, Matahari

Mall ở Inđônêxia, Vật giá.com ở Việt Nam,

v.v song các “đại gia” thương mại điện tử

như Amazon, Lazada, Alibaba vẫn chiếm

một thị phần không nhỏ và ngày càng bành

trướng Tương ṭ như ở hình thức bán lẻ qua cửa hàng, trong thương mại điện tử cũng đang diễn ra quyết liệt ṣ xâm chiếm thị phần của các thương nhân nước ngoài Lazada là trường hợp điển hình về việc một công ty bên ngoài AEC xâm nhập thị trường này bằng cách mua lại cổ phần kiểm soát (Hộp 1)

Hộp 1: Trường hợp Lazada

Trang web Lazada được “đại gia” thương mại điện tử Rocket Internet thành lập vào tháng 3/2012 và hoạt động tại Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Indonesia Khi mới thành lập, Lazada bày bán các sản phẩm điện tử tiêu dùng, song trang web này đã nhanh chóng mở rộng phạm vi sang đồ gia dụng, quần áo, vật dụng cho trẻ em, sách, voucher dịch vụ, v.v Lazada chấp nhận phương thức trả tiền bằng thẻ tín dụng và cả phương thức trả tiền khi giao hàng – một điểm mạnh đáng chú ý tại các quốc gia có t̉ lệ sử dụng thẻ tín dụng và tài khoản ngân hàng thấp Ch̉ sau

4 năm, Lazada đã được ví như “trang Amazon của Đông Nam Á” với mức định giá khoảng 1,55

tỷ USD Năm 2016, “ông trùm” Alibaba của Trung Quốc cho biết đã đầu tư 1 tỷ USD vào công ty Lazada, theo đó, Alibaba sẽ chi 500 triệu cho các cổ phiếu mới phát hành của Lazada, đồng thời mua cổ phần từ các cổ đông hiện nay để chiếm lĩnh thị phần bán lẻ qua mạng của Lazada vốn đang

có ưu thế ở tất cả các nước ASEAN

3 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

NGÀNH BÁN LẺ VIỆT NAM

Ṣ hình thành thị trường chung AEC và

việc ký kết hàng loạt hiệp định khu ṿc mậu

dịch ṭ do với các nước và khu ṿc tạo ra cơ

hội và cũng đặt ra nhiều thách thức đối với

ngành bán lẻ Việt Nam

Cơ hội là ở chỗ các nhà sản xuất và thương

mại Việt Nam có thể tiếp cận với điều kiện ưu đãi đối với thị trường rộng lớn không ch̉ của các nước ASEAN mà còn cả rất nhiều quốc gia trên thế giới Việc cắt giảm thuế, dỡ bỏ bớt các hàng rào thủ tục vận tải, giao nhận và buôn bán làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa

có khả năng tăng lên Tuy nhiên, cho đến nay Việt Nam hầu như chưa tận dụng được cơ hội

Trang 6

này vì chưa tham gia được vào các chuỗi sản

xuất – kinh doanh toàn cầu Các nhà sản xuất

và các công ty thương mại chưa kết hợp chặt

chẽ với nhau để đưa hàng hóa Việt Nam ra thị

trường thế giới Các công ty thương mại Việt

Nam hầu như chưa có các cửa hàng bán lẻ ở

nước ngoài Ngoài Trung tâm thương mại Hà

Nội – Mátxcơva khai trương tháng 12/2015 ở

Nga với tổng diện tích gần 40.000 m2 là quần

thể thương mại và dịch vụ đạt chuẩn quốc tế,

có xúc tiến bán hàng Việt, thì một số trung tâm

thương mại do người Việt sở hữu hoặc điều

hành ở nước ngoài vẫn hoạt động dưới hình

thức “chợ” cho thuê chỗ bán, ít có quan hệ kết

nối với sản xuất trong nước thành chuỗi

Nhìn từ góc độ chiếm giữ thị phần bán lẻ

trong nước và kích thích sản xuất, tiêu dùng

hàng Việt, thì thách thức đối với Việt Nam hiện

rất lớn Việt Nam có thị trường bán lẻ đầy hấp

dẫn đối với các nhà kinh doanh nước ngoài

Với nền kinh tế có triển vọng tăng trưởng khá,

dân số đông thứ hai trong ASEAN, nhu cầu

tiêu dùng trong những năm sắp tới sẽ mở rộng

và ngày càng đa dạng Các hình thức bán lẻ

hiện đại ở Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển

ban đầu, cộng với mức độ đô thị hóa cũng tăng

nhanh, tạo ra nhiều cơ hội để phát triển bùng

nổ bán lẻ hiện đại tại các thành phố Về mặt

thể chế, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị

trường bán lẻ kể từ 11/1/2015 Việt Nam cho

phép nước ngoài đầu tư 100% vốn trong lĩnh

ṿc bán lẻ (ngoại trừ một số rất ít mặt hàng

không cho phép nước ngoài kinh doanh) Hơn

thế nữa, chính quyền nhiều địa phương có chủ

trương ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài xây

ḍng và vận hành các cơ sở bán lẻ hiện đại lớn

(như dễ dàng cấp đất ở những địa điểm thuận

lợi, miễn giảm thuế, v.v) Công cụ ENT - Kiểm

tra nhu cầu kinh tế (Economic Need Test), tức

là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tình

hình tḥc tế để xem xét có cấp phép mở từng

cơ sở bán lẻ cho doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài hay không trừ cơ sở bán lẻ thứ nhất – đã hầu như chưa được sử dụng Đây chính là quy định dùng để kiểm soát và hạn chế ṣ xâm nhập của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh ṿc bán lẻ, mà Việt Nam xem như một điều kiện mở cửa thị trường bán lẻ của mình khi gia nhập WTO năm 2007

Những điều kiện thuận lợi đó đã thúc đẩy ṣ bùng nổ đầu tư của các thương gia nước ngoài trong lĩnh ṿc bán lẻ ở Việt Nam Nhiều tập đoàn bán lẻ quốc tế đã ồ ạt tham gia thị trường, đặc biệt là họ dùng phương thức xâm nhập một cách nhanh chóng bằng việc mua bán, sáp nhập của doanh nghiệp ngoại với các hệ thống bán lẻ trong nước Họ cũng đẩy mạnh phát triển mạng lưới riêng của mình trên

cả nước bằng cách mở mới hàng trăm điểm bán mới Các nhà bán lẻ ngoại xâm nhập thị trường Việt Nam đều là những doanh nghiệp mạnh về vốn và có kinh nghiệm quản trị dày dạn Họ cung cấp thêm nhiều ḷa chọn cho người tiêu dùng, nhưng đồng thời cũng khiến thị trường bán lẻ tăng thêm mức độ cạnh tranh, tạo áp ḷc lớn lên các nhà sản xuất và bán lẻ nội địa Tháng 3 - 4/2016, ngay sau khi chuỗi 19 siêu thị Metro và 32 siêu thị Big C ở Việt Nam được chuyển quyền sở hữu sang tay người Thái Lan, họ đòi tăng chiết khấu thêm 4,25% - 5,5%, lên mức 17% - 25%, gây khó khăn cho doanh nghiệp cung cấp hàng nội địa, khiến nhiều doanh nghiệp thủy sản buộc rút hàng ra khỏi hệ thống này

Các cơ sở bán lẻ ngoại cũng đóng vai trò

là nơi tṛc tiếp đưa hàng ngoại vào thị trường nội địa Hệ thống AEON của Nhật chủ trương

áp dụng tỷ lệ 1/3 – 1/3 hàng hóa từ Nhật, 1/3 của Việt Nam và còn lại 1/3 là nhập của các quốc gia khác Các nhà bán lẻ hàng đầu Hàn Quốc không hề giấu ý định xuất khẩu hàng hóa từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc vào Việt Nam thông qua hệ thống bán lẻ của

Trang 7

họ tại Việt Nam Trong chuỗi Big C và Metro,

hàng Thái Lan đa dạng về chủng loại và có giá

cả cạnh tranh được ưu tiên bày bán trên những

kệ hàng có vị trí đắc địa nhất

Trong khi doanh nghiệp ngoại tích c̣c

xâm nhập chiếm lĩnh thị phần, khối doanh

nghiệp bán lẻ nội dường như đang lúng túng

và ở vào thế yếu trong cuộc đua tranh chiếm

giữ thị phần ngày càng khốc liệt Điểm yếu

lớn nhất là khả năng liên kết thành chuỗi và

mạng còn kém và chưa có nhiều kinh nghiệm

quản trị theo kiểu hiện đại

Hiện tại, đứng trên ngưỡng cửa của AEC,

thị trường bán lẻ của Việt Nam còn ở giai đoạn

phát triển ban đầu, với kênh bán lẻ hiện đại

(các siêu thị, trung tâm thương mại) mới chiếm

20%, còn bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng

tạp hóa, cửa hàng tiện ích) chiếm 80% còn lại

Quá trình hiện đại hóa và cơ cấu lại ngành bán

lẻ đòi hỏi phải có tầm nhìn chiến lược dài hạn, ṣ can thiệp hữu hiệu của Chính phủ bằng các công cụ hành chính và kinh tế hợp pháp và hợp lý, ṣ cố gắng “vượt lên chính mình” của các doanh nghiệp nội để cạnh tranh giành thị phần lớn hơn./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Euromonitor International Market Research Reports

[2] McKinsey & Company (2016) Urban World: The Global Consumers to Watch

McKinsey Global Institute

[3] Nielson (2014) ASEAN 2015: Seeing around the corner in a new Asian landscape

The Nielson Company

[4] Các bài báo liên quan tới Thị trường bán

lẻ trên mạng Internet

Ngày đăng: 04/02/2020, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm