Chương 2: Dựa vào cơ sở lý luận đã phân tích tại chương 1, Chương 2 sử dụngphương pháp phân tích các quy định cụ thể của pháp luật về hợp đồng lao động, sửdụng phương pháp so sánh, đối c
Trang 1TÓM LƯỢC
Chương 1 khóa luận nghiên cứu một số khái niệm về hợp đồng lao động, và phápluật về hợp đồng lao động Bên cạnh đó, khóa luận còn khái quát cơ sở ban hành,nguyên tắc pháp luật và nội dung cơ bản pháp luật điều chỉnh về hợp đồng lao động.Trong chương 2, khóa luận tập trung đánh giá về thực trạng các quy định củapháp luật về hợp đồng lao động và thực trạng thực hiện các quy định đó tại đơn vị thựctập Việc đánh giá về thực trạng thực hiện pháp luật nhằm rút ra những thành tựu cũngnhư những bất cập còn tồn tại của hệ thống pháp luật về hợp đồng lao động hiện nay,làm cơ sở cho những giải pháp, kiến nghị ở chương 3
Sau khi đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật cũng như việc thực hiệncác quy định đó về hợp đồng lao động tại một doanh nghiệp cụ thể, chương 3 của khóaluận đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồnglao động
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện từphía Ban lãnh đạo và các anh chị em trong Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân Tôixin gửi lời cảm ơn đến Quý công ty vì những giúp đỡ đó
Trong quá trình hoàn thành bài khóa luận này, tôi có sử dụng rất nhiều kiến thức
đã được học trong suốt bốn năm vừa qua Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy,
Cô giáo đã dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức bổ ích trong suốt bốn năm tôitheo học tại trường Đại học Thương mại
Tôi cũng xin kính gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy giáo, ThS.Phạm Minh Quốc đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa luậnmột cách tốt nhất
Tuy nhiên, do kiến thức và khả năng nghiên cứu còn có hạn, vì vậy, bài khóa luậnchắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót.Tôi rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp quý báu từ phía Quý thầy cô và tôi sẽ tiếp thu sửa đổi để kiến thức đượchoàn thiện hơn
Sau cùng, tôi xin kính chúc thầy cô Khoa Kinh tế - Luật và Thầy giáo, ThS.Phạm Minh Quốc luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành côngtrong sự nghiệp “trồng người” của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Thảo
Trang 3MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu 2
3 Tuyên bố lý do vấn đề cần nghiên cứu 3
4 Kết cấu khóa luận 4
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 5
1.1 Khái quát chung về hợp đồng lao động 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng lao động 5
1.1.2 Ý nghĩa của hợp đồng lao động 8
1.2 Pháp luật về hợp đồng lao động ở nước ta hiện nay 9
1.2.1 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật về hợp đồng lao động 10
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng lao động 10
1.2.3 Hệ thống văn bản pháp luật quy định về hợp đồng lao động 11
1.3 Một só nội dung pháp luật cơ bản của pháp luật về hợp đồng lao động ở nước ta hiện nay 12
1.3.1 Các nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng lao động 12
1.3.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng lao động 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN 18
2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân 18
2.1.1 Tổng quan của công ty gắn liền với hợp đồng lao động 18
2.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại công ty 19
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty 23
2.2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật các quy định về chủ thể của hợp đồng lao động
23
2.2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật các quy định về hình thức hợp đồng lao động 23
2.2.3 Thực trạng thực hiện pháp luật các quy định về thời hạn của hợp đồng lao động
25
2.2.4 Thực trạng thực hiện pháp luật các quy định về nội dung của hợp đồng 25
Trang 42.2.5 Thực trạng thực hiện pháp luật các quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng
lao động 25
2.2.6 Thực trạng thực hiện pháp luật các quy định về chấm dứt hợp đồng lao động 30
2.2.7 Thực trạng thực hiện pháp luật các quy định về hợp đồng lao động bị vô hiệu 30
2.3 Một số đánh giá, nhận xét về thực trạng thực hiện pháp luật hợp đồng lao động tại công ty Vạn Xuân 31
2.3.1 Tích cực 31
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN 34
3.1 Một số kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề hợp đồng lao động 34
3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động 34
3.1.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề hợp đồng lao động 35
3.2 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Vạn Xuân 37
3.2.1 Định hướng phát triển của công ty Vạn Xuân 37
3.2.2 Đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại Công ty Vạn Xuân 38
3.3 Những vấn đề tồn tại đặt ra cần giải quyết 39
KẾT LUẬN 40 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trước sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, quan hệ lao động ngày càng đượcthiết lập theo nhiều cách thức khác nhau, và hiện nay hợp đồng lao động đã trở thànhcách thức cơ bản, phổ biến nhất, phù hợp nhất để thiết lập quan hệ lao động trong nềnkinh tế thị trường, là lựa chọn của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, chế định hợpđồng lao động cũng là tâm điểm của pháp luật lao động nước ta
Hợp đồng lao động là công cụ pháp lý quan trọng để xác lập mối quan hệ laođộng giữa người sử dụng lao động và người lao động Hợp đồng lao động được coi làvấn đề trung tâm trong mối quan hệ lao động Việc giao kết hợp đồng lao động khôngchỉ được thừa nhận bằng pháp luật trong nước, mà còn ghi nhận trong hệ thống phápluật của các nước trên thế giới Trong cơ chế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xãhội cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, quan hệ lao động ngày càng đòi hỏi sựhài hòa về lợi ích trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng laođộng Việc thực hiện đầy đủ những quy định của pháp luật về hợp đồng lao độngkhông những bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia mà còn xây dựng mối quan
hệ lao động ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp, góp phần giảm thiểu những tranhchấp lao động nhằm đảm bảo sự phát triển cho các doanh nghiệp nói riêng và cho nềnkinh tế quốc gia nói chung Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng laođộng tại các doanh nghiệp cho thấy việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động cònbộc lộ tính thiếu chặt chẽ, chưa đầy đủ Thực tế áp dụng hợp đồng lao động còn nhiềuvướng mắc, điều này dẫn đến tranh chấp về hợp đồng lao động tại các doanh nghiệpphát sinh ngày càng nhiều
Hơn nữa, sau quá trình thực tập tại Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân, cá nhântôi nhận thấy việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tuy không còn mới mẻ vớicác doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn khó tránh khỏi những sai phạm Thực tế tại công ty cổphần sản xuất Vạn Xuân vẫn tồn tại những hạn chế về hình thức hợp đồng hay trongkhi thực hiện giao kết hợp đồng và chấm dứt hợp đồng
Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi thực tế của hợp đồng lao động nói chung, đặc biệt
là việc thực hiện các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động nói riêng và thực
tiễn trong các doanh nghiệp, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Pháp luật về hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân” làm luận văn
tốt nghiệp
Trang 72.Tổng quan các công trình nghiên cứu
Pháp luật hợp đồng lao động nói chung, trong đó có nội dung liên quan đến giaokết hợp đồng lao động đã được đề cập ở nhiều mức độ khác nhau trong một số côngtrình nghiên cứu độc lập hoặc đăng tải dưới các bài viết trên các tạp chí pháp luật như:
Về hệ thống giáo trình: Giáo trình “Luật Lao động Việt Nam” của trường Đại họcLuật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân (2005, 2008, 2011); hay Giáo trình “LuậtLao động cơ bản”, khoa luật Đại học Cần Thơ (2012); hay Giáo trình luật Lao độngViệt Nam, 5 Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, nhà xuất bản Đại học quốc gia HàNội (1999)
2,PGS.TS Lê Thị Hoài Thu, Khoa Luật đại học quốc gia Hà Nội (2012), với đềtài “Thực trạng pháp luật về quan hệ lao động ở Việt Nam và phương hướng hoànthiện” Luận văn xây dựng cơ sở lý luận về quan hệ lao động và hoàn thiện pháp luật
về quan hệ lao động ở Việt Nam Ngoài ra, đề tài đánh giá thực trạng pháp luật vềquan hệ lao động ở Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thốngcác quy định của pháp luật về quan hệ lao động ở nước ta dưới hai hóc độ: điều chỉnhpháp luật và áp dụng pháp luật
Bên cạnh đó còn một số đề tài như Thạc sĩ Nguyễn Văn Bình với luận văn “Hợpđồng lao động theo pháp luật Việt Nam”, Thạc sỹ Phạm Thị Thúy Nga với luận văn
“Một số vấn đề lý luận và thực tiến về hợp đồng lao động”
Về bài viết có: tác giả Phạm Thị Chính (200), “Bàn về hiệu lực của hợp đồng laođộng và việc xử lý hợp đồng vô hiệu” số 8, Tạp chí Dân chủ và pháp luật; hay tác giảNguyễn Hữu Chí “ Giao kết hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động 2012 từ quyđịnh đến nhận thức và thực tiễn” tạp chí Luật số 3/2013; hay “Quá trình duy trì vàchấm dứt hợp đồng lao động” số 3 (1997), Tạp chí Luật học, của Lưu Bình Nhưỡng…Tất cả các công trình nêu trên đã nghiên cứu vấn đề trên các phương diện cụ thểcủa pháp luật về hợp đồng lao động Đây là các tài liệu tham khảo hết sức quý giá chủyếu tập trung về hợp đồng lao động nói chung và có đề cập về vấn đề giao kết hợpđồng lao động trong các doanh nghiệp Có thể thấy các công trình nghiên cứu cụ thểtrên đã đề cập một cách toàn diện về pháp luật hợp đồng lao động cả về mặt lý luận vàthực tiễn
Trang 83 Tuyên bố lý do vấn đề cần nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu có hai đối tượng nghiên cứu, cụ thể:
Thứ nhất, khóa luận nghiên cứu về những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng lao
động và pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động hiện hành ( Bộ luật lao động 2012)
Thứ hai, khóa luận còn nghiên cứu về thực hiện pháp luật điều chỉnh về hợp
đồng lao động tại Công ty cổ phân Sản xuất Vạn Xuân
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm một số mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, đề tài tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận cơ bản về hợp
đồng lao động và pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động hiện hành ( Bộ luật lao động2012) nhằm có cái nhìn cụ chi tiết về quy định của pháp luật về hợp đồng lao động
Thứ hai, đề tài nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng
lao động tại Công ty cổ phân Sản xuất Vạn Xuân nhằm làm sáng tỏ một số ưu điểm vàhạn chế của công ty trong việc thực hiện quy định về pháp luật hợp đồng lao động
Thứ ba, từ thực trạng đã nghiên cứu được, đề tài xin đưa ra một số kiến nghị
nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng laođộng tại chính công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung vào nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành về giaokết, thực hiện và chấm dứt HĐLĐ và thực tiễn áp dụng các quy định này trong tạiCông ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về hợp đồng lao động bao gồm rất
nhiều nội dung như: chủ thể hợp đồng, giao kết và thực hiện hợp đồng lao động, chấmdứt hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm,…Tuy nhiên, do khuôn khổ của một khóaluận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu những quy định pháp luật hiệnhành về giao kết, thực hiện và chấm dứt HĐLĐ ( Bộ luật Lao động 2012)
Phạm vi về không gian: Khóa luận nghiên cứu vấn đề trong phạm vi tại công ty
cổ phần sản xuất Vạn Xuân, Hà Nội
Phạm vi về thời gian: Khóa luận nghiên cứu trong khoảng thời gian 7 năm kể từ
khi công ty thành lập cho đến nay (2011-2018)
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn lấy phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về Nhà nước và pháp luật làm nền tảng, các quan điểm chủ đạo của Đảng, Nhànước trong lĩnh vực lao động làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu Ngoài ra,luận văn còn kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể khác nhau phùhợp với từng phần của đề tài như :
Trang 9- Phương pháp luận của triết học biện chứng duy vật Mác-Lênin
- Phương pháp lịch sử (Khảo cứu các tài liệu và các nguồn sử liệu khác nhau vềpháp luật về hợp đồng lao động)
- Phương pháp phân tích (các quy phạm pháp luật thực định quốc gia hiện hành
Chương 1: Dựa vào phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác Lenin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật nói chung và pháp luật lao động nóiriêng, đồng thời kết hợp với phương pháp tổng hợp, phân tích, qua đó đưa ra nhữngkhái niệm, quan điểm lý luận chung về pháp luật điều chỉnh hợp đồng lao động
Chương 2: Dựa vào cơ sở lý luận đã phân tích tại chương 1, Chương 2 sử dụngphương pháp phân tích các quy định cụ thể của pháp luật về hợp đồng lao động, sửdụng phương pháp so sánh, đối chiếu với một số quy định cũ, từ đó thấy được nhữngthay đổi của pháp luật hiện hành về vấn đề này, đồng thời sử dụng phương pháp dùng
số liệu thống kê, phân tích thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về hợp đồng laođộng tại Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Chương 3: Sử dụng chủ yếu là phương pháp tổng hợp, kết hợp nghiên cứu giữa
lý luận và thực tiễn để đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quyđịnh điều chỉnh về hợp đồng lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện những quy địnhnày tại Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
4 Kết cấu khóa luận
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng lao động và pháp luật điều
chỉnh hợp đồng lao động
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng lao động tại
Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động và
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại công ty cổ phần sảnxuất Vạn Xuân
Trang 10CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1.1 Khái quát chung về hợp đồng lao động
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng lao động
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng lao động
Nền kinh tế thị trường ra đời cùng với sự vận động không ngừng của các quan hệ
xã hội trong đó quan hệ lao động được xem là có tính đa dạng và phức tạp, gắn liền
với một loại hang hóa đặc biệt, đó chính lá “sức lao động” Sự vận hành của quy luật
cung cầu trong thị trường sức lao động đã dẫn tới các bên có nhu cầu mua và bán tìmđến nhau Đây chính là căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động, các bên trongquan hệ pháp luật lao động có quyền tự nguyện thỏa thuận với nhau về các quyền vànghĩa vụ của mình bởi vậu các quan hệ hợp đồng lao động màn tính chất tự do, tựnguyện và bình đẳng Hợp đồng lao động được xem như hình thức pháp lý linh hoạt,phù hợp với cơ chế của nền kinh tế thị trường, trong đó người lao động có quyền lựachọn công việc còn người sử dụng lao động có quyền lựa chọn nhân sự phù hợp làmviệc cho mình
Theo Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2012 (có hiệu lực thi hành từ ngày
01/05/2013), hợp đồng lao động được định nghĩa là “sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”
Cách định nghĩa trên về hợp đồng lao động căn cứ vào các yếu tố chủ thể, nghĩa
vụ pháp lý và điều kiện lao động của các bên tham gia quan hệ lao động Ở một sốquốc gia khác, người ta quan niệm pháp luật lao động thuộc hệ thống luật tư vậy nênhợp đồng lao động là loại hợp đồng dân sự, chịu sự điều chỉnh của chế địnhh về hợpđồng dân sự Điển hình như ở Đức, pháp luật lao động chưa có điều luật nào quy định
cụ thể riêng biệt về khái niệm hợp đồng lao động, mà coi nó là một loại hợp đồng dân
sự Còn ở Trung quốc, khi mà các văn bản pháp luật về lao dộng nói chung và hợpđồng lao động nói riêng dần được ban hành và hoàn thiện từ năm 1977, thì khái niệm
hợp đồng lao động được định nghĩa “là sự hiệp nghị (thỏa thuận) xác nhận quan hệ lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động Xây dựng quan hệ lao động cần phải lập hợp đồng lao động” Tuy nhiên, định nghĩa này
vẫn chưa làm rõ được nội dung của hợp đồng lao động
Ở Việt Nam, hợp đồng lao động được ghi nhận trong các văn bản pháp lý, quacác thời kỳ khác nhau Hợp đồng lao động lúc ban đầu có nhiều tên gọi khác nhau như
“giao kèo” hay “khế ước làm công”, tất cả những tên gọi đó điều mang một yếu tố nền
Trang 11tảng của hợp đồng lao động đó là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụnglao động về một việc làm nhất định.
Dưới góc độ kinh tế, hợp đồng lao động được xác định giữa người mua và người
bán mộ thứ hàng hóa đặc biệt được gọi tên là “sức lao động” Loại hàng hóa này tồn
tại ở mỗi con người cụ thể, nhưng không tồn tại ở dạng độc lập mà gắn liền với cácyếu tố khác như thể chất, trí tuệ, nhân cách mỗi con người, Nói một cách khác, hợpđồng lao động là bằng chứng cho mối quan hệ mua bán sức lao động
Như vậy, khái niệm về hợp đồng lao động trong thực tế có nhiều cách tiếp cận khácnhau, nhưng điểm chung duy nhất giữa các quan niệm đều là kết quả của sự thỏa thuậngiữa người lao động và người sử dụng lao động Đó là sự thống nhất ý chú của các bên vềnội dung của hợp đồng mà các bên muốn đạt được Đây là loại quan hệ lao động tiêu biểu
và cũng là hình thức sử dụng lao động phổ biến trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động
Khác với các loại hợp đồng dân sự khác, hợp đồng lao động là sự thỏa thuận muabán mặt hàng đặc biệt chính là sự lao động, bởi vậy nó mang những đặc trưng riêngbiệt như sau:
a Trong HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lí của NLĐ với NSDLĐ
Đây là đặc trưng được coi là tiêu biểu nhất của HĐLĐ Trong tất cả các quan hệkhế ước, duy nhất HĐLĐ lại tồn tại đặc trưng này
Yếu tố quản lý ở đây lại mang tính khách quan Bởi vì, khi tham gia quan hệHĐLĐ mỗi NLĐ thực hiện các nghĩa vụ có tính cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây
là lao động mang tính xã hội hóa, vì thế hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phốihợp của cả tập thể, của tất cả các quan hệ lao động Vì vậy, cần thiết phải có sự thốngnhất, liên kết, đồng bộ…các quan hệ đơn lẻ trong trật tự chung thông buộc, mệnhlệnh…của chủ sở hữu doanh nghiệp- bởi họ, tức chủ sở hứu trong điều kiện kinh tế thịtrường phải có quyền nhất định kinh doanh như thế nào, tổ chức, sử dụng lao động rasao…để đạt hiệu quả cao nhất Do đó, yếu tố quản lí trong quan hệ lao động là khácquan.Sự thừa nhận của pháp luật về vấn đề này và trao quyền quả lý cho NSDLĐ làphù hợp với sự tồn tại và vận động của quan hệ lao động.Tuy nhiên, trên thực tế do sẵn
có những ưu thế hơn hẳn so với NLĐ đồng thời lại có quyền quản lí được pháp luậtthừa nhận nên dễ dẫn đến sự lạm dụng, phân biệt đối xử bất bình đẳng của NSDLĐvới NLĐ Ở đây, vai trò của pháp luật HĐLĐ trở nên đặc biệt quan trọng Một mặtpháp luật đảm bảo và tôn trọng quyền quản lý của NSDLĐ Mặt khác phải có các quyđịnh nhằm ràng buộc, kiểm soát sự quản lí của NSDLĐ trong khuân khổ pháp luật vàtương quan với sự bình đẳng có tính bản chất của quan hệ HĐLĐ Đây thực sự là vấn
đề rất khó khắn trong công tác lập pháp, nhưng thách thức lớn hơn cả lại là sự hiện
Trang 12thực hóa các quy định này trong thực thế Song, cũng cần chú ý vì là người có quyền
tổ chức, quản lí lao động nên NSDLĐ phải có trách nhiệm với các hậu quả xảy ratrong quá trính lao động
Chính vì như vậy, đây là đặc trưng quan trọng để người ta phân biệt HĐLĐ vớicác hợp đồng khác có nội dung liên quan đến quan hệ lao động
b Đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả lương
Mặc dù HĐLĐ là một loại quan hệ mua bán đặc biệt Một trong những khía cạnhđặc biệt của quan hệ này thể hiện ở chỗ hàng hóa mang trao đổi – đó là sức lao động,luôn tồn tại gắn liền với cơ thể NLĐ Do đó, khi NSDLĐ mua hàng hóa là sức laođộng thì các mà họ được " sở hữu " đó là một quá trình lao động biểu thị thông quathời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ, ý thức… của NLĐ và đểthực hiện được những yêu cầu nói trên, NLĐ phải cung ứng sức lao động từ thể lực vàtrí lức của chính mình biểu thị qua những thời gian được xác định( ngày làm việc, tuầnlàm việc…) Như vậy lao động được mua bán trên thị trường không phải là lao độngtrừu tượng mà là lao động cụ thể, lao động thể hiện thành việc làm
Người ta có thể quan niệm việc làm theo nhiều cách khác nhau, nhưng với tư các
là đối tượng của HĐLĐ thì bào giờ nó cũng có một liên hệ xác định như liên hệ tạo ramột mối lơi Nói cách khác, cũng như mọi quan hệ mua bán khác, việc làm – như mộtthứ hàng hóa đem bán trên thị trường thì phải có íc, đem lại cái lợi cho người mua vàbán nó
Việc xác định đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công, không chỉ có ý nghĩatrong việc đưa ra một trong những căn cứ để phân biệt HĐLĐ với những hợp đồngkhác có nội dung tương tự mà còn có ý nghĩa với chính quan hệ HĐLĐ, chẳng hạn ởkhía cạnh xác định chủ thể trong quan hệ lao động
Ví dụ : một NLĐ kí kết HĐLĐ làm tiếp thị quảng bá sản phảm cho hãng mỹ
phẩm Oriflame và hàng ngày họ phải đến chi nhánh của công ty để làm việc Do đó,cũng một lúc họ phải chịu sự quản lí của 2 đơn vị : Hãng mỹ phẩm Oriflame và cửahàng chi nhánh nơi người đó đến làm việc
vụ đã cam kết, không được chuyển dịch vụ cho người thứ ba
Song, theo quy định tại khoản 4 điều 30 Bộ luật lao đông thì NLĐ có quyền dịchchuyển nghĩa vụ lao động của mình cho người khác, với điều kiện phải có sự đồng ý
Trang 13của NSDLĐ Quy định này là cần thiết nhằm đáp ứng các nhu cầu khác quan trongquan hệ HĐLĐ Nhưng cũng cần chú ý việc giải quyết hậu quả khi có sự kiện pháp línảy sinh trong trường hợp này.
d Trong HĐLĐ sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế bởi những giớihạn pháp lí nhất định :
Đặc trưng này của HĐLĐ xuất phát từ nhu cầu cần bảo vệ, duy trì và phát triểnsức lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường không chỉ với tư cách là các quyền
cơ bản của công dân mà còn có ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế, xã hội của đất nước Mặt khác, HĐLĐ có quan hệ tới nhân cách của NLĐ, do
đó quá trình thỏa thuận, thực hiện HĐLĐ không thể tách rời với việc bảo vệ và tôntrọng của nhân cách NLĐ
Ngoài ra, HĐLĐ còn có tính thực tế Chính vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa vụthông qua sự thỏa thuận của các bên với các thủ tục và hình thức theo quy định của phápluật, người ta còn thừa nhận tính thực tế của quan hệ HĐLĐ Trong trường hợp này, cácquy định của pháp luật được thừa nhận một cách mềm dẻo và linh hoạt Thừa nhận đặctrưng này của các HĐLĐ, sẽ giải quyết được về mặt lí luận rất nhiều vấn đề phát sinhtrong thực tế hiện nay như về chủ thể của HĐLĐ, hình thức, nội dung HĐLĐ
e HĐLĐ được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô hạn định:Hợp đồng lao động được các bên thực hiện liên tục từ khi hợp đồng lao động cóhiệu lực cho đến khi hợp đồng lao động chấm dứt Tính liên tục được thể hiện qua việcngười lao động và người sử dụng lao động thực hiện công việc đã giao kết một cách
ổn định, theo đúng thời giờ làm việc mà các bên đưa ra Tùy thuộc vào từng loại hợpđồng lao động mà tính liên tục được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định hoặckhông xác định thời hạn kết thúc Điều này đồng nghĩa với việc các bên không được tự
ý làm việc theo thời gian của mình mà phải tuân theo hợp đồng lao động đã giao kết
Sự thực hiện liên tục hợp đồng không chỉ thể hiện qua quá trình lao động của ngườilao động mà còn thể hiện qua sự quản lý của người sử dụng lao động đối với người laođộng và việc tuân thủ nội quy lao động
1.1.2 Ý nghĩa của hợp đồng lao động
Trong một bài viết đăng trên Tạp chí khoa học của Khoa Luật – ĐH Quốc Gia Hà
Nội, PGS.TS Lê Thị Hoài Thu từng nhấn mạnh: “Hợp đồng lao động là một chế định quan trọng vào bậc nhất của luật lao động, là xương sống của pháp luật lao động, là một chương không thể thiếu trong Bộ luật Lao động của bất kỳ nước nào trên thế giới” bởi
vậy hợp đồng lao động có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội
Thứ nhất, hợp đồng lao động là hình thức pháp lý chủ yếu làm phát sinh, thay
đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật lao động trong nền kinh tế thị trường Thông qua
Trang 14việc ký kết hợp đồng lao động người sử dụng lao động có quyền quản lý, điều hành,kiểm soát chặt chẽ người lao động và cũng trên cở sở của hợp đồng lao động, ngườilao động có nghĩa vụ thực hiện các cam kết của mình và được hưởng các quyền lợi.Khi có hộp đồng lao động quan hệ lao động mới thực sự được thiết lập, được các bêncông nhận và được pháp luật bảo vệ, phù hợp với xu hướng phát triển chung của cácnước có nền kinh tế thị trường Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng laođộng được điều chỉnh chủ yếu thông qua hợp đồng lao động Chế độ ký kết hợp đồnglao động được áp dụng rộng rãi trong mọi thành phần kinh tế Hình thức pháp lý chủyếu phát sinh quan hệ lao động ngày nay chính là hợp đồng lao động.
Thứ hai, hợp đồng lao động là hình thức pháp lý đáp ứng được nguyên tắc tự do
“khế ước” của nền kinh tế thị trường, trong đó có thị trường sức lao động Các quan hệhợp đồng mang tính tự di, tự nguyện, bình đẳng Trong đó các bên tham gia có quyềnthỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ của mình Hợp đồng lao động có nhiều loạikhác nhua, tương ứng với tính chất công việc (quy định tại Điều 22 Bộ luật Lao động2012) Pháp luật về hợp đồng lao động còn cho phép người lao động có thể giao kếtvới nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung
đã giao kết ( quy định tại Điều 21 Bộ luật Lao động 2012), Bộ luật Lao động 2012 đã
bổ sung nguyên tắc giao kết hợp đồng trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng, thiện chí,hợp tác và trung thực, tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái phápluật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
Thứ ba, nội dung của hợp đồng lao động liên quan hầu hết chế định của Bộ luật
Lao động và là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyể tranh chấp lao động Tuyđược xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình dẳng, thiện chí, nhưng do lợi ích giữangười lao động và người sử dụng lao động thường đối lập nên trong quá trình thựchiện hợp đồng khó tránh khỏi những tranh chấp lao động Và hợp đồng lao động là cơ
sở pháp lý minh bạch, rõ ràng nhất giúp giải quyết tranh chấp lao động
Thứ tư, hợp đồng lao động là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý lao
động Thông qua hợp đồng lao động Nhà nước nắm được nguồn nhân lực, phân bổ và
sử dụng lao động trong toàn xã hội giúp Nhà nươc quản lý về lao động dựa trên sựthừa nhận và tôn trọng quyền tự do lao động Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm traviệc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động, Nhà nước đánh giá được hiện trạng laođộng từ đó hoàn thiện công tác quản lý lao động của mình phù hợp với những yếu cầucủa cơ chế thị trường góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh và phát triển
1.2 Pháp luật về hợp đồng lao động ở nước ta hiện nay
Bởi vì hợp đồng lao động mang những nét đặc trưng so với các loại hợp đồngdân sự khác nên pháp luật về hợp đồng lao động cũng mang những nét riêng, cụ thểđược quy định tại Chương III của Bộ luật Lao động 2012
Trang 151.2.1 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật về hợp đồng lao động
Pháp luật về hợp đồng lao động có vai trò quan trọng trong việc thực hiện và bảo vệcác quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động, phát huy nhân tố con người, pháttriển kinh tế đất nước Bằng việc xác định đối tượng điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ laođộng làm công ăn lương, nên pháp luật về hợp đồng lao động đã thúc đẩy sự phát triểncủa loại quan hệ lao động tiêu biểu và phổ biến của nền kinh tế thị trường
Giữa mối quan hệ của người lao động và người sử dụng lao động được ràng buộcbởi hợp đồng lao động Với quan điểm trước hết bảo vệ người lao động nhưng khôngcoi nhẹ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, pháp luật về hợp đồnglao động tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động này phát triển hài hòa, ổn định; gópphần phát huy sang tạo, tài năng của cả người lao động và người sử dụng lao độngnhằm đạt được năng suất, chất lượng cao trong lao động, sản xuất
Hơn nữa, với quan điểm kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xãhội, pháp luật về hợp đồng lao động còn góp phần vào việc phát triển đất nước trong
sự ổn định và bền vững
Trong một chừng mực nào đó, pháp luật về hợp đồng lao động còn đống vai trònhư là một loại “ quy phạm mẫu” trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy phạm củamột số ngành luật khác có lien quan đến việc sử dụng lao động
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng lao động
So với các ngành luật khác, pháp luật lao động ra đời muộn hơn và trước đó quan
hệ lao động là loại quan hệ chịu sự điều chỉnh của luật dân sự Pháp luật lao động làmột ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Tại một số nước trên thế giới, pháp luật về hợp đồng lao động được xem là hệthống luật tư, nên chưa có sự tách bạch với hợp đồng dân sự Quan niệm về hợp đồng
lao động áp dụng theo Điều 611 Bộ luật Dân sự Đức 1896 “thông qua hợp đồng, bên
đã cam kết thực hiện một hoạt động thì phải thực hiện hoạt động đó, còn bên kia có nghĩa vụ trả thù lao theo như thỏa thuận”, hay như ở Pháp, quan điểm về hợp đồng lao động được ghi nhận trong án lệ “hợp đồng lao động là sự thỏa thuận, theo đó một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công”.
Ở Việt Nam hợp đồng lao động được ghi nhận trong các văn bản pháp lý trongcác thời kỳ khác nhau Trong Sắc lệnh số 29/SL (12/03/1947) quy định về việc tuyểnchọn, quyền và nghĩa vụ của giới chủ và người làm công Hợp đồng lao động được thểhiện dưới hình thức “khế ước”
Trong thông tư số 01/BLĐ-TB&XH ngày 09/01/1988 hướng dẫn thi hành Quyếtđịnh số 217 HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng ban hành các chính sách
Trang 16đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốcdoanh về việc chuyển dần từng bước chế độ tuyển dụng vào biên chế nhà nước sang
chế độ hợp đồng lao động có quy định “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa giám đốc xí nghiệp và người lao động về nghĩa vụ và quyền lợi, về trách nhiệm và quyền hạn của hai bên trong quá trình lao động do giám đốc ký kết theo mẫu đính kèm thông tư này” Ngày 30/08/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh hợp đồng lao động có quy định “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng, thuê mướn lao động về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.
Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/06/1994 có hiệu lực thi hành
từ 01/01/1995 (được sửa đổi, bổ sung ngày 02/04/2002, có hiệu lực thi hành ngày01/01/2003) là cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ lao động Sau 15 năm thi hành,
Bộ luật lao động về cơ bản đã được thực tiển cuộc sống chấp nhận Tuy nhiên xuấtphát từ thực tế về tình hình kinh tế xã hội của đất nước nói chung và của thị trường laođộng nói riêng, trước yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt sau khi nước ta gianhậpWTO đòi hỏi Bộ luật lao động cần được sửa đổi Xuất phát từ những vấn đề nêutrên, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Bộ luật lao động ngày 02/07/2012, có hiệu lực ngày 01/05/2013 bao gồm
17 chương và 242 điều
1.2.3 Hệ thống văn bản pháp luật quy định về hợp đồng lao động
Hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra hành lang pháp lí đểcác doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật về hợp đồng lao động Trước hết, việc điềuchỉnh hợp đồng lao động phải tuân theo Bộ Luật Lao động năm 2012 do Quốc hội banhành ngày 18 tháng 06 năm 2012, có hiệu lực từ ngày 1/5/2013
Bên cạnh đó, pháp luật về hợp đồng lao động còn dựa trên quy định về hợp đồngcủa Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản pháp luật như Nghị định số 44/2013/NĐ-CPHướng dẫn Bộ luật lao động vè hợp đồng lao động do Chính Phút ban hành ngày 10tháng 05 năm 2013, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2013 Nghị định số 45/2013/NĐ-CPHướng dẫn Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn laođộng, vệ sinh lao động Nghị định số 46/2013/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật lao động vềtranh chấp lao động và Nghị định số 49/2013/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật lao động vềtiền lương Ngoài ra còn có Thông tư số 30/2013/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn thi hànhmột số điều của Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10 thàng 5 năm 2013 của Chínhphủ quy định chi tiết thi hành một số điều cỉa Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động
Trang 171.3 Một só nội dung pháp luật cơ bản của pháp luật về hợp đồng lao động ở nước ta hiện nay
1.3.1 Các nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng lao động
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng lao động là những nguyên lý, tưtưởng chỉ đạo quán triệt và xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật laođộng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về sử dụng lao động
Nguyên tắc thứ hai là tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.Ngoài ra, còn có các nguyên tắc như: tự do giao kết hợp đồng lao động nhưngkhông được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
Các điều khoản của hợp đồng lao động không được trái pháp luật và thỏa ước laođộng tập thể, không xâm hại đến quyền và lợi ích của người thứ ba, lợi ích nhà nước.Tôn trọng quyền tự do liên kết và lập hội của người lao động và của người sử
dụng lao động Tôn trọng quyền đại diện của tập thể lao động Người lao động làm
việc trong các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp Nhànước, đều có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp theo nội quy, điều lệ của doanhnghiệp và quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định củapháp luật về sử dụng lao động Người lao động thực hiện các quyền này của mìnhthông qua đại diện của họ - đó là tổ chức Công đoàn.Nội dung của nguyên tắc nàyđược quy định trong Hiến pháp, Bộ luật lao động, và Luật Công đoàn.Quyền đượcthành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củamình là một trong các quyền quan trọng của người lao động được pháp luật lao độngghi nhận và đảm bảo thực hiện Các quyền này được quy định cụ thể trong Luật côngđoàn
1.3.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng lao động
1.3.2.1 Nội dung của pháp luật về vấn đề chủ thể của hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng laođộng về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bêntrong quan hệ lao động Tuy nhiên, không phải ai cũng có quyền giao kết hợp đồng Các bên giao kết hợp đồng phải có năng lực pháp lý và năng lực hành vi Độ tuổi củangười lao động theo quy định Bộ luật lao động là từ đủ 15 tuổi trở lên Người sử dụnglao động là cá nhân phải đủ 18 tuổi trở lên, người sử dụng lao động là doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức phải có đủ điều kiện về sử dụng lao động và trả công lao động Chủthể của hợp đồng lao động được quy định chi tiết tại khoản 1- Điều 18- Bộ luật Laođộng 2012
Trang 181.3.2.2 Nội dung của pháp luật về vấn đề hình thức hợp đồng lao động
Hình thức hợp đồng lao động được quy định cụ thể tại Điều 16 Bộ luật Lao động
2012 Hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản và phải được làm thành hai bản,mỗi bên giữ một bản Đặc biệt với hợp đồng lao động không xác định thời hạn ( là loạihợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hợpđồng ) và hợp đồng xác định thời hạn với thời điểm chấm dứt hiệu lực dài ( trongkhoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ) Khi kí kết hợp đồng lao động bằngvăn bản thì hợp đồng phải được làm hai bản, mỗi bên giữ một bản và mỗi bản đều cógiá trị pháp lý như nhau Tuy nhiên, trong trường hợp công việc có tính chất tạm thời( dưới ba tháng ) hoặc với lao động giúp việc gia đình thì hình thức giao kết hợp đồnggiữa các bên có thể là hình thức giao kết bằng miệng song phải đảm bảo tuân thủ theocác quy định của pháp luật lao động
1.3.2.3 Nội dung của pháp luật về vấn đề thời hạn hợp đồng lao động
Thời hạn hợp đồng lao động được xác định theo 3 loại hợp đồng : hợp đồng laođộng không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng laođộng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng Hợpđồng lao động có hiệu lực kể từ ngày các bên giao kết trừ trường hợp hai bên có thỏathuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Thời hạn của hợp đồng lao động đượcquy định rõ tại điều 22- Bộ luật Lao động 2012 Hợp đồng lao động không xác địnhthời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứthiệu lực của hợp đồng Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đóhai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảngthời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng Không được giao kết hợp đồng lao động theomùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm nhữngcông việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thờithay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tainạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác
1.3.2.4 Nội dung của pháp luật về vấn đề nội dung của hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động được quy định tại Điều 23 Bộ luật Lao động phải có nhữngnội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp;b) Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhândân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động;
c) Công việc và địa điểm làm việc;
d) Thời hạn của hợp đồng lao động;
đ) Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và cáckhoản bổ sung khác;
Trang 19e) Chế độ nâng bậc, nâng lương;
g) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
h) Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;
i) Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế;
1.3.2.5 Nội dung của pháp luật về vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng lao động
Giao kết hợp đồng lao động được quy định từ điều 15 đến điều 19 của Bộ luậtLao động năm 2012 gồm các nội dung như : hình thức của hợp đồng lao động,nguyêntắc khi giao kết hợp đồng lao động; nghĩa vụ giao kết hợp đồng, nghĩa vụ cung cấpthong tin trước khi giao kết hợp đồng và các hành vi người sử dụng lao động khôngđược làm khi giao kết và thực hiện hợp đồng lao động Ngoài ra luật cũng có quy định
về việc giao kết hợp đồng với nhiều người sử dụng lao động, Người lao động có thểgiao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảmthực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.Trong trường hợp giao kết hợp đồng laođộng với nhiều người sử dụng lao động, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tếcủa người lao động được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Thực hiện hợp đồng lao động
Công việc theo hợp đồng lao động phải do người lao động đã giao kết hợpđồng thực hiện Địa điểm làm việc được thực hiện theo hợp đồng lao động hoặc theothỏa thuận khác giữa hai bên
Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động
1 Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biệnpháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc
do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyểnngười lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá
60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của ngườilao động
2 Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng laođộng, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngàylàm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ,giới tính của người lao động
3 Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trảlương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương côngviệc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc Tiềnlương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưngkhông thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định
Trang 20Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
1 Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự
2 Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
3 Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trườnggiáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc
4 Lao động nữ mang thai theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này
5 Các trường hợp khác do hai bên thoả thuận
Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao độngTrong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng lao động đốivới các trường hợp quy định tại Điều 32 của Bộ luật này, người lao động phải có mặttại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc,trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác
Người lao động làm việc không trọn thời gian
1 Người lao động làm việc không trọn thời gian là người lao động có thời gianlàm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuầnđược quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp,thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc quy định của người sử dụng lao động
2 Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động làm việc khôngtrọn thời gian khi giao kết hợp đồng lao động
3 Người lao động làm việc không trọn thời gian được hưởng lương, các quyền
và nghĩa vụ như người lao động làm việc trọn thời gian, quyền bình đẳng về cơ hội,không bị phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động
1.3.2.6 Nội dung của pháp luật về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động
Theo quy định của Điều 36- Bộ luật Lao động 2012, hợp đồng lao động có thể bịchấm dứt trong các trường hợp sau: Hết hạn hợp đồng lao động; Đã hoàn thành côngviệc theo hợp đồng lao động; Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động; Ngườilao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu;NLĐ bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong HĐLĐ theo bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án; NLĐ chết, bị Tòa án tuyên bố mấtnăng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động là cá nhânchết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người
sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động; người lao động bị xử lý
kỷ luật sa thải; NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; NSDLĐ đơn phươngchấm dứt HĐLĐ; NSDLĐ cho NLĐ thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý
do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã
Theo quy định tại Điều 36 trích dẫn ở trên, có thể phân chia ra hai trường hợp
Trang 21chấm dứt HĐLĐ dựa trên các căn cứ mà nhà làm luật đã dự liệu Thứ nhất là các
trường hợp chấm dứt HĐLĐ một cách đương nhiên;Thứ hai là các trường hợp HĐLĐchấm dứt theo thỏa thuận của các bên
Ngoài các trường hợp nói trên, hợp đồng lao động có thể chấm dứt trong trườnghợp NLĐ và NSDLĐ đưa ra yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trướcthời hạn, nếu đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định tại Điều 37, 38, 39 của
Bộ luật Lao động 2012 Mỗi bên đều có quyền hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợpđồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước nhưng phải thong báo bằng văn bản vàphải được bên kia đồng ý Những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng khôngtheo đúng quy định tại Điều 37,38,39 của Bộ luật Lao động thì bị coi là hành vi đơnphương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Đi kèm theo đó luật cũng quy định rõ nghĩa vụ và trách nhiêm của cả người sử dụnglao động và người lao động trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.Hơn nữa luật cũng quy định tại điều 48 và điều 48 về trợ cấp thối việc và trợ cấp mất việcnhắm đảm bảo lợi ích cho người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng
1.3.2.7 Nội dung của pháp luật về vấn đề hợp đồng lao động bị vô hiệu
Điều 50 của bộ Luật lao động năm 2012 quy định rất cụ thể về việc hợp đồng laođộng vô hiệu, đây là cơ sở để các bên xem xét khi có xảy ra tranh chấp.Hợp đồng laođộng vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:Toàn bộ nội dungcủa hợp đồng lao động trái pháp luật; Người ký kết hợp đồng lao động không đúngthẩm quyền; Công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc bịpháp luật cấm; Nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cản quyền thànhlập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động
Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm phápluật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.Trong trường hợp mộtphần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người laođộng thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy lao động, thoả ước laođộng tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyềnkhác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó bị vô hiệu
Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thuộc về Thanh tra lao động,Toà án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu Chính phủ quy định vềtrình tự, thủ tục thanh tra lao động tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu:
“1 Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần thì xử lý như sau:
Trang 22a) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể hoặc theo quy định của pháp luật;
b) Các bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố
vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động.
2 Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì xử lý như sau:
a) Trong trường hợp do ký sai thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật này thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động hướng dẫn các bên ký lại; b) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật”
Trang 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO
ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN
2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
2.1.1 Tổng quan của công ty gắn liền với hợp đồng lao động
Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân (sau đây viết tắt là công ty Vạn Xuân) đượcthành lập 2011, với người đứng đầu là ông Trần Duy Quý Nhận thức được sự pháttriển của nền công nghiệp Việt Nam và hiểu rõ điểm hạn chế trong ngành đúc hiện nay,Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân ra đời với ngành nghề sản xuất chính là đúc sắt,thép Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân hoạt động với chức năng chủ yếu là sảnxuất, kinh doanh các sản phẩm đúc sắt, thép Bên cạnh đó, còn thực hiện một sốnghiệp vụ khác như gia công cơ ký, sản xuất và phân phối các thiết bị về điện, buônbán, sửa chữa các phụ tùng xe máy, ô tô,…Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân có trụ
sở kinh doanh chính tại: Số 28, ngõ 266, đường Lê Thanh Nghị, Phường Đồng Tâm,Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Việt Nam Tại trụ sở chính bao gồm cácphòng ban: Phòng giám đốc, Phòng phó giám đốc, Phòng kinh doanh, Phòng hànhchính - nhân sự, Phòng tài chính - kế toán, Phòng thiết kế Trụ sở chính được trang bịcác loại máy móc công nghệ cao, tiên tiến trong lĩnh vực đức sắt, thép; các đồ bảo hộcho công nhân viên trong qáu trình sản xuất, chế tạo sản phẩm,…Ngoài ra, công ty còn
có một nhà xưởng lớn, phục vụ cho hoạt động kinh doanh chính là sản xuất các sảnphẩm đúc sắt, thép Hằng năm, công ty luôn tiến hành kiểm tra định kỳ, tu sửa và thaymới các loại máy móc nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động Đồng thời luôn tiếnhành nhập khẩu các loại máy móc công nghệ cao để nâng cao hiệu quả sản xuất và giảiphóng sức lao động của công nhân Hoạt động của công ty được tập trung tại khu vựcchính tại Hà Nội
Công ty hiện có tổng số 50 nhân viên và công nhân, trong đó gồm có 13 thợlàm nghề chính ký hợp đồng không xác định thời hạn, 5 nhân viên Công ty và 1 kếtoán viên ký hợp đồng không xác định thời hạn, còn lại nhân viên cơ sở ký hợpđồng có xác định thời hạn Trong 7 năm hoạt động, công ty thực hiện khá tốt phápluật về hợp đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp với người lao động tuy nhiên vẫncòn một số sai phạm nhỏ do sự chủ quan, xem nhẹ tính pháp lý của hợp đồng laođộng Đa phần hợp đồng của công ty đều được ký kết bằng hình thức bằng lời nói,việc này gây khó khan cho bộ phận nhân sự khi nắm bắt số lượng lao động trongcông ty Bên cạnh đó những hợp đồng không thời hạn được ký kết bằng văn bảnvẫn còn một số sai phạm nhất định
Trang 242.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại công ty
Thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật về hợp đồng nói riêng là vấn đề phứctạp với sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội Bên cạnh đó việc thực thi pháp luật
về hợp đồng lao động còn bị tác động bởi các nhân tố khách quan khác như: điều kiệnkinh tế, chính trị, văn hóa; đạo đức, phong tục, tập quán,…Bài viết xin được phân tíchmột số nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tạiCông ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân như sau:
2.1.2.1 Những nhân tố chủ quan
a Nhu cầu của người sử dụng lao động và người lao động đối nghịch nhau
Đây và vấn đề chung và ảnh hưởng đến thực tiễn thực hiện pháp luật về lao độngnói chung và hợp đồng lao động nói riêng tại hầu hết các doanh nghiệp Người sửdụng lao động là những người làm chủ, họ luôn muốn hạn chế tối đa các chi phí trongsản xuất và kinh doanh Bởi vậy nhu cầu của người sử dụng lao động là muốn thuê laođộng với mức chi phí thấp nhất có thể và năng suất lại đòi hỏi cao Trong khi tráingược lại, nhu cầu của người lao động luôn muốn có quyền lợi tốt nhất trong quá trìnhlao động Do sự đối lập như vậy, nên khi trong quá trình và thực hiện hợp đồng laođộng giữa người sử dụng lao động và người lao động trong công ty luôn tồn tại nhữngtranh chấp về hợp đồng lao động Nhân tố này đã dẫn đến một số hạn chế trong quátrình thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động tại công ty, ngay từ khi giao kết, doquyền lợi đối lập nhau nên các bên khó khăn trong việc thỏa thuận các điều khoảntrong hợp đồng, từ đó kéo theo việc dẽ xảy ra tranh chấp lao động trong công ty
b Trình độ và ý thức pháp luật của NLĐ và NSDLĐ
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ hiểu biết pháp luật của mỗi bêntrong quan hệ lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả thực thi cácquy định về HĐLĐ
Đối với NSDLĐ tại Công ty Vạn Xuân, trình độ chuyên môn thể hiện ra bênngoài ở khả năng quản lý lao động Trong quá trình quản lý lao động, NSDLĐ đã sửdụng hệ thống các quy tắc, gồm hai loại: quy tắc do nhà nước quy định và quy tắc nội
bộ của đơn vị sử dụng lao động Quy tắc do Nhà nước quy định sử dụng trong việcquản lý lao động chính là BLLĐ và các văn bản quy định chi tiết thi hành, trong đó cócác quy định của Nhà nước về HĐLĐ Hệ thống các quy tắc nội bộ mà Công ty sửdụng để quản lý lao động bao gồm: thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động
Theo yêu cầu chung thì hệ thống các quy tắc nội bộ của đơn vị sử dụng lao độngkhông được trái với hệ thống quy tắc do Nhà nước quy định Tuy nhiên, có đáp ứngđược yêu cầu này hay không và đáp ứng được đến đâu một phần lớn phụ thuộc và sự