1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn kinh tế luật pháp luật về giao ết hợp đồng cung ứng dịch vụ thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần đầu tư đô thị hòa bình xanh

63 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 118,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài thực hiện thông qua việc tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành điềuchỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực trạng thực hiện tại Công ty Cổphần Đầu tư đô thị Hòa Bìn

Trang 1

TÓM LƯỢC

Trước bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tái cơ cấu gắn với đổi mới mô hình tăngtrưởng, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia thì phát triển ngành dịch vụ ngày càng trởthành yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa to lớn, không chỉ trực tiếp tạo động lực phát triển

mà còn có tác động lan tỏa tới mọi lĩnh vực trong nền kinh tế Thế nhưng, môi trườngkinh doanh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ có lành mạnh hay không hoàn toànphụ thuộc vào yếu tố pháp luật và quản lý nhà nước về kinh tế Việc ban hành hệthống luật pháp có chất lượng là điều kiện tiên quyết đảm bảo môi trường kinh doanhbình đẳng cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Nhìn chung pháp luật về giao kếthợp đồng cung ứng dịch vụ của Việt Nam khá tiến bộ và quán triệt nhưng vẫn còn rảirác, mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau và tồn tại nhiều lỗ hổng Chính những thiếu sót,bất cập này đã gây ra không ít khó khăn cho các chủ thể khi tham gia giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ Vì vậy, việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật vềgiao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đốivới sự phát triển kinh tế của một đất nước trên đà hội nhập kinh tế thế giới như ViệtNam ta

Qua quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh cùngvới những kiến thức được trang bị ở nhà trường, em nhận thấy hợp đồng cung ứngdịch vụ là công cụ pháp lý quan trọng, không thể thiếu của hoạt động cung ứng dịch

vụ Vì vậy, em chọn đề tài “Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh” làm đề tài khóa luận

tốt nghiệp

Đề tài thực hiện thông qua việc tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành điềuchỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực trạng thực hiện tại Công ty Cổphần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh Khóa luận với kết cấu 3 chương, tập trung nghiêncứu những vấn đề sau:

Trước tiên, Chương 1 nghiên cứu chi tiết những lý luận cơ bản về pháp luật điềuchỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ, đồng thời làm rõ các vấn đề có liênquan bao gồm: một số khái niệm cơ bản liên quan đến giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ; cơ sở ban hành và các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ

Tiếp theo, Chương 2 tập trung tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá thực trạng phápluật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phầnĐầu tư đô thị Hòa Bình Xanh Từ đó, rút ra những bất cập của pháp luật hiện hành,những khó khăn còn tồn tại trong giao kết hợp đồng của Công ty

Trang 2

Cuối cùng, Chương 3 đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện phápluật, xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ vàmột số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ của Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

Vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại rất rộng lớn Dohạn chế về thời gian, kinh nghiệm nghiên cứu và kiến thức thực tiễn, em chưa thể đềcập được chi tiết mọi khía cạnh của vấn đề nghiên cứu cũng như không tránh khỏinhững thiếu sót nhất định Kính mong thầy cô chỉ bảo, đóng góp ý kiến để đề tài đượchoàn thiện hơn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có được những kiến thức như ngày hôm nay, em xin gửi lời cảm ơn chânthành tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Thương mại, các thầy côgiáo khoa Kinh tế - Luật đã tận tình truyền đạt, trang bị cho em những kiến thức bổích, đó chính là những nền tảng cơ bản, là hành trang vô cùng quý giá cho em bướcvào sự nghiệp sau này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - ThS Nguyễn Thị Nguyệt,người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em tận tình trong quá trình hoàn thiện khóa luậntốt nghiệp

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc và toàn thể nhânviên Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh đã giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn

em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong quá trình hoàn thành khóa luận nhưng do thờigian và kiến thức còn hạn chế, hiểu biết của bản thân về vấn đề nghiên cứu còn chưathực sự đầy đủ nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, emrất mong nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét quý báu của thầy cô để khóaluận được hoàn thiện hơn đồng thời giúp em bổ sung kiến thức phục vụ cho chuyênngành sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ 8

1.1 Khái quát về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 8

1.1.1 Khái quát về hợp đồng cung ứng dịch vụ 8

1.1.2 Khái quát về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 13

1.2 Cơ sở ban hành và các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 14

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 14

1.2.2 Các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 16

1.3 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 18

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ ĐÔ THỊ HÒA BÌNH XANH 21

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 21

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 21

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 22

2.2 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh 23

2.3 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh 25

Trang 5

2.3.1 Quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 25

2.3.2 Quy định về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 27

2.3.3 Quy định về nội dung giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 35

2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 41

2.4.1 Những thành tựu mà Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh đạt được trong quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 41

2.4.2 Một số bất cập trong quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ của Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh 42

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ ĐÔ THỊ HÒA BÌNH XANH 45

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 45

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ 47

3.2.1 Về phía Nhà nước 47

3.2.2 Về phía công ty 52

3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 53

KẾT LUẬN 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

1 BLDS Bộ luật Dân sự

2 LTM Luật thương mại

3 TAND Tòa án nhân dân

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận.

Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức hiện nay, ngành dịch vụ có vai tròngày càng quan trọng đối với nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia Khi nềnkinh tế ngày càng phát triển thì việc cung ứng dịch vụ càng trở nên đa dạng hơn nhằmphục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như đáp ứng được tốc độ pháttriển của nền kinh tế Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150của Tổ chức thương mại thế giới WTO Việc mở cửa thị trường (khi gia nhập WTO)đồng nghĩa với Việt Nam được tiếp cận thị trường dịch vụ của tất cả các nước thànhviên, một thị trường vô cùng rộng lớn, hứa hẹn gặt hái nhiều thành công Sau nhiềunăm đàm phán, năm 1995 Hiệp định về thương mại dịch vụ ( GATS) đã được ký kết

và trở thành một trong những hiệp định quan trọng nhất của WTO Có thể thấy, pháttriển và tự do hóa ngành dịch vụ nói chung, phát triển và tự do hóa thương mại dịch vụnói riêng đang trở thành chính sách ưu tiên của các nước

Trong xu thế chung của thế giới, ngành dịch vụ của Việt Nam đã phát triển hếtsức nhanh chóng Kế đó, pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ cũng ngày cànghoàn thiện hơn để thích ứng với những đổi thay trong xã hội và cạnh tranh kinh tế.Nhiều năm qua, ngành dịch vụ Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận,song còn không ít lỗ hổng và bất cập, vẫn chưa xứng với tiềm năng và yêu cầu củaphát triển kinh tế đất nước Bên cạnh đó, nhìn chung pháp luật về giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ của Việt Nam khá tiến bộ, quán triệt, thể chế hóa được các chủtrương, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước nhưng vẫn còn rải rác,thiếu tính thống nhất, không đồng bộ, chồng chéo lên nhau và cứng nhắc Chính nhữngthiếu sót, bất cập này đã gây ra không ít khó khăn cho các chủ thể khi tham gia giaokết hợp đồng cung ứng dịch vụ Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải tiến hànhmột cuộc cải cách pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ cho thực sự phùhợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang trên đà phát triển sâu rộng, đa dạng vàmạnh mẽ hiện nay

Xuất phát từ thực tế nêu trên và thực tiễn trong việc giao kết các hợp đồng cungứng dịch vụ mà em nhận thấy trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị

Hòa Bình Xanh, em đã chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh” để làm rõ hơn về

-điều này Đề tài góp phần làm sáng rõ những căn cứ, cơ sở cần thiết để xây dựng và hoànthiện khung pháp luật điều chỉnh việc giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ ở nước ta vàđưa ra các kiến giải cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về vấn đề này

Trang 9

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.

Với tầm quan trọng không hề nhỏ đối với khả năng tồn tại, phát triển của cácdoanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế, đã có không ít các công trình khoa học,các đề tài khóa luận, các bài viết, bài báo, dành mối quan tâm đặc biệt nghiên cứucác vấn đề về hợp đồng (trong đó có vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ) Cácgóc độ, cấp độ khác nhau của những công trình nghiên cứu, các bài viết, bài báo chothấy một cái nhìn toàn diện hơn về pháp luật giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trênnhiều khía cạnh Nổi bật là những công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ, luận vănthạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, những bài báo khoa học đăng trên các tạp chí sau:

- Đề tài nghiên cứu khoa học “Thương mại dịch vụ - Một số vấn đề lý luận vàthực tiễn” của GS.TS Hồ Văn Tĩnh – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đềtài chỉ ra nội dung cơ bản của thương mại dịch vụ và thực tiễn hoạt động thương mạidịch vụ ở Việt Nam cũng như so sánh với các nước phát triển khác trên thế giới Từ

đó, giáo sư đưa ra định hướng để phát triển bền vững các ngành nghề dịch vụ thươngmại Ở nghiên cứu này, giáo sư tìm hiểu về hoạt động thương mại dịch vụ nói chungchứ không đi sâu vào phân tích lý luận pháp lý của Việt Nam về cung ứng dịch vụthương mại cũng như các tình huống thực tiễn về việc áp dụng pháp luật cung ứngdịch vụ

- Luận văn “Ký kết hợp đồng kinh tế” - tác giả Phạm Mai Phương, bảo vệ thànhcông năm 2014 Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chế độ pháp lý của hợpđồng kinh tế, thực trạng ký kết hợp đồng kinh tế và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoànthiện pháp luật về ký kết hợp đồng kinh tế Luận văn chưa phân tích cụ thể, chi tiếtnhững vấn đề pháp lý, thực trạng, thực tiễn của vấn đề giao kết hợp đồng trong hoạtđộng cung ứng dịch vụ ở Việt Nam gắn liền với một vài doanh nghiệp cụ thể

- Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Mơ - Khoa luật, Trường đạihọc Quốc gia Hà Nội (2011), “Những vấn đề pháp lý về hợp đồng dịch vụ - thực tiễngiải quyết tranh chấp về hợp đồng dịch vụ” Ngoài việc tìm hiểu những vấn đề pháp lý

về hợp đồng dịch vụ, đề tài còn đi sâu vào việc phân tích những vụ việc thực tế về giảiquyết tranh chấp hợp đồng dịch vụ

- Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Yến – Khoa Luật Kinh tế, Việnđại học mở Hà Nội (2013), “Pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch và thực tiễn ápdụng tại Công ty TNHH nhà nước một thành viên Thăng Long – GTC” Đề tài tậptrung nghiên cứu pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch, thực tiễn ký kết và thực hiệnhợp đồng này tại công ty TNHH nhà nước một thành viên Thăng Long – GTC Đề tàinày chỉ đề cập đến pháp luật về cung ứng dịch vụ ở mảng du lịch chứ không đưa ranhững vấn đề pháp lý thuộc phạm vi thương mại

Trang 10

- Bài viết của Th.S Hà Công Bảo Anh (2013) “Hợp đồng thương mại dịch vụ vàvai trò của nó đối với doanh nghiệp”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại Bài viết đưa ra mộtkhái niệm mới về thương mại dịch vụ, từ đó phân tích vai trò và tầm quan trọng củaloại hợp đồng này đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

- Bài viết “Pháp luật về hợp đồng kinh tế” của tác giả Lê Thị Bích Ngọc, đăngtrên trang voer.edu.vn ngày 10 tháng 07 năm 2014 Bài viết tập trung nghiên cứu vềcác nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Ngoài ra còn có các giáo trình gồm:

- Giáo trình Luật Dân sự (2017), NXB Đại học Luật Hà Nội

- Giáo trình Luật thương mại (2005), NXB khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Nguyễn Hợp Toàn (Chủ biên), “Giáo trình pháp luật kinh tế” (2005), NXBkhoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân

Các công trình trên đã nghiên cứu, đánh giá những vấn đề có liên quan đến hợpđồng dịch vụ ở những khía cạnh khác nhau và là tài liệu tham khảo hữu ích cho khóaluận nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, do cónhững mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau nên các tác giả chưa đề cập mộtcách toàn diện, chưa đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật về giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ, đặc biệt nghiên cứu tại một doanh nghiệp cụ thể Hơn nữa, cáccông trình nghiên cứu trên có một số bài viết đã trở nên cũ so với nội dung pháp luậthiện nay khi BLDS 2015 mới đi vào hoạt động và rất nhiều luật khác được thay đổi

Do đó, em đã chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh” để tiếp tục kế thừa,

phát triển và nghiên cứu sâu hơn pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ.Khóa luận sẽ đi sâu vào nghiên cứu các quy phạm pháp luật về giao kết hợp đồng cungứng dịch vụ và thực trạng áp dụng của một vài doanh nghiệp cụ thể cũng như đặc điểm

và vai trò của loại hợp đồng này đối với các doanh nghiệp thương mại để từ đó đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện hơn nữa những quy định pháp luật về vấn đề này

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.

Hầu hết các công trình nghiên cứu liên quan đến cung ứng dịch vụ trong hoạtđộng thương mại chỉ đưa ra những khái quát về hoạt động thương mại dịch vụ, nêu lênthực trạng tại Việt Nam hay tại các doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thương mại dịch vụ mà chưa có nhiều đề tài đisâu nghiên cứu các quy định pháp lý đối với việc giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụnên các thông tin về pháp luật giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ còn bị hạn chế Do

đó, có nhiều cách hiểu khác nhau trong việc áp dụng các quy định của pháp luật vềgiao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ vào thực tiễn cũng là điều tất yếu

Trang 11

Qua thời gian tìm hiểu thực tế về vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ tạiCông ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh cho thấy bên cạnh những kết quả đạtđược thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Để giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ một cách hiệu quả, thực sự phát huy vai trò của hợp đồng thì cần phải cónhững biện pháp để hoàn thiện hơn việc giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ Trên

cơ sở đó, em chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh” làm đề tài khóa

luận tốt nghiệp

Qua việc lựa chọn đề tài này, em muốn tập trung nghiên cứu một số vấn đềpháp lý về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổphần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh, qua đó hiểu rõ hơn pháp luật về giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ Từ đó, tìm ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giảipháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ đồng thời đưa ra một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quả trong việcgiao kết loại hợp đồng này

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Các văn bản quy phạm pháp luật củaViệt Nam điều chỉnh về vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực trạng ápdụng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty Cổphần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

4.2 Mục tiêu nghiên cứu.

Khóa luận được xây dựng với mục tiêu làm cho người đọc thấy rõ các vấn đềpháp lý về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ được quy định trong một số văn bảnquy phạm pháp luật của Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật đóthông qua việc nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng tại một doanh nghiệp cụ thể.Trên cơ sở phân tích lý thuyết kết hợp phân tích thực tiễn áp dụng tại một doanhnghiệp cụ thể để tìm ra mặt tích cực, mặt hạn chế, những thiếu sót của hệ thống phápluật quy định các vấn đề liên quan đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ Từ đó đưa

ra một số biện pháp, kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện một khung pháp lý hoànchỉnh nhất về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ViệtNam phát triển mạnh mẽ trong điều kiện hội nhập hiện nay

Từ mục đích nghiên cứu trên, khóa luận đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:

- Thứ nhất, tìm hiểu, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ và nội dung pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Trang 12

- Thứ hai, phân tích thực trạng các quy định của pháp luật về giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị HòaBình Xanh Từ đó đánh giá những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật,của công ty.

- Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, khóa luận đưa ramột số kiến nghị, giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh nói riêng cũngnhư của Việt Nam nói chung

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Do kiến thức còn hạn hẹp và thời gian nghiên cứu không nhiều nên khóa luậnđược giới hạn trong phạm vi sau:

a) Về mặt thời gian:

Khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch

vụ kể từ năm 2005 cho đến nay Bên cạnh đó, khóa luận đề xuất các giải pháp và kiếnnghị từ nay cho đến năm 2020

Khóa luận hướng đến các vấn đề chính sau:

- Chương 1: Khóa luận trình bày những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnhvấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ như: khái niệm, đặc điểm của hợp đồngcung ứng dịch vụ và các nguyên tắc, nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ

- Chương 2: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giaokết hợp đồng cung ứng dịch vụ và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thịHòa Bình Xanh

- Chương 3: Đưa ra những định hướng và các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý

về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

d) Nguồn tư liệu:

Khóa luận không giới hạn về nguồn tư liệu Nguồn tư liệu có thể là các luật và bộluật như LTM 2005, BLDS 2015, các văn bản quy phạm pháp luật, các công trìnhkhoa học, bài báo, bài viết, sách, tạp chí hay các website, có liên quan đến vấn đềgiao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu.

Khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp hay phươngpháp điều tra số liệu Trong đó:

- Phương pháp phân tích:

Phân chia đề tài nghiên cứu thành các phần lý luận, thực trạng, đánh giá, giúpcho việc phân tích được dễ dàng và có một cái nhìn khách quan Dựa trên cơ sở cáckhái niệm và các tài liệu đã thu thập được, dùng phương pháp phân tích để phân tích,đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụcũng như phân tích rõ vai trò để làm nổi bật lên tầm quan trọng của việc giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ trong Chương 1 và thực trạng áp dụng tại Công ty Cổ phầnĐầu tư đô thị Hòa Bình Xanh trong Chương 2 Từ đó đánh giá các kết quả đạt được vànhững hạn chế để đưa ra các giải pháp giải quyết

- Phương pháp tổng hợp:

Tổng hợp các quan điểm, các công trình nghiên cứu, các bài viết, bài báo, cácvăn bản quy phạm pháp luật liên quan đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ để cócái nhìn tổng quan nhất (trong Chương 1) Kế đó, từ những kết quả đã phân tích, tổnghợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về pháp luật giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ và đề xuất các giải pháp hoàn thiện (trong Chương 2 và Chương 3)

- Phương pháp thu thập số liệu:

Dựa trên nguồn thông tin sơ cấp, thứ cấp thu thập được từ các nghiên cứu trướcđây và từ nguồn thông tin có được qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư

đô thị Hòa Bình Xanh để xây dựng cơ sở luận cứ và làm minh chứng cho các lập luậnđưa ra trong bài

+ Thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổngquan quy định về giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng cung ứng dịch vụ nói riêngnhư: LTM 2005, BLDS 2015, và một số văn bản pháp luật có liên quan Từ đó đưa

ra một số nội dung pháp lý về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

+ Thu thập sổ sách, số liệu có liên quan đến việc giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ trong Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh để làm rõ thực trạng ápdụng pháp luật trong quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ của công ty

- Phương pháp so sánh:

Phương pháp được sử dụng để so sánh dữ liệu giữa các văn bản quy phạm phápluật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thươngmại và đối chiếu với các văn bản pháp luật có liên quan Đồng thời, so sánh kết quả

Trang 14

Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh đạt được trong giao kết hợp đồng cungứng dịch vụ với mục tiêu ban đầu mà công ty đã đề ra (trong chương 2).

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, đề tài còn sử dụng một số phương phápnghiên cứu khác như: phương pháp quan sát, phương pháp suy luận, phương phápphỏng vấn và phương pháp liệt kê (liệt kê các hệ thống và các văn bản có liên quan đểlàm căn cứ cho lý luận),

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp.

Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài ngoài tóm lược, lờicảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, lời mở đầu, danh mục tàiliệu tham khảo và kết luận thì khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch

vụ Thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

CUNG ỨNG DỊCH VỤ

1.1 Khái quát về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

1.1.1 Khái quát về hợp đồng cung ứng dịch vụ

Hợp đồng cung ứng dịch vụ trước hết là một hợp đồng, vì vậy muốn hiểu rõ vềhợp đồng cung ứng dịch vụ trước tiên cần hiểu rõ khái niệm hợp đồng

Hợp đồng là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu và hiện nay có nhiều cách hiểukhác nhau về nó Trên thực tế, sự tiếp cận khái niệm hợp đồng trong các hệ thống phápluật cũng khác nhau

Ngay từ thời La Mã cổ đại hợp đồng đã chiếm một vị trí hết sức quan trọng trongpháp luật về nghĩa vụ dân sự Những quy định của người La Mã cổ đại về hợp đồngdân sự đã trở thành kim chỉ nam cho các nhà làm luật của nhiều nước trên thế giới

Trong pháp luật La Mã, hợp đồng được coi là “ hình thức thể hiện ý chí của các giao dịch song phương và việc xác lập chúng có thể trực tiếp làm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ” 1

Theo quy định tại Điều 1.101, Chương I, những quy định mở đầu về hợp đồng và

nghĩa vụ hợp đồng trong BLDS Cộng Hòa Pháp thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó” 2 Theo định nghĩa

này, hợp đồng chính là sự thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều người, không giới hạn

số người tham gia vào quan hệ hợp đồng, trong đó liên quan tới việc mua bán một vậthoặc không được làm một việc gì đó

Trong khi đó, Điều 1.378 Chương II, Mục 1, Quyển 5 về các nghĩa vụ dân sự,

BLDS Qué bec (Canada) quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí về việc một hoặc một số người nhận thực hiện nghĩa vụ đối với một hoặc một số người khác”.

Theo quy định tại Điều 1.201 Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ thì: “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự “thỏa thuận” của các bên…” Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 quy định: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác…” 3 Như vậy, cũng giống

như pháp luật La Mã, khái niệm hợp đồng trong pháp luật Trung Quốc được nhìn nhậnnhư một căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể Tuy nhiên, điều khác biệt

1 Đinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2005, trang 8.

2 Nhà pháp luật Việt Pháp, Bộ luật Dân sự nước cộng hòa Pháp , Nxb Chính trị Quốc gia, 1998, trang 34

3 Đinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2005, trang 14

Trang 16

là BLDS Trung Quốc nhấn mạnh yếu tố bình đẳng giữa các chủ thể (cá nhân, phápnhân, ) của hợp đồng.

Tương tự như cách định nghĩa về hợp đồng của BLDS Pháp, khoản 1 Điều 420

BLDS Nga (1994) quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” 4

Dưới góc độ pháp luật thực định, khái niệm hợp đồng tại Việt Nam được quy

định tại Điều 385 BLDS 2015, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, các định nghĩa trên tuy có cách thể hiện khác nhau phù hợp cách thứclập pháp của từng quốc gia nhưng nói chung đều chỉ rõ bản chất của hợp đồng là sựthỏa thuận giữa các chủ thể, hay nói cách khác yếu tố thống nhất ý chí của các bên.Khi đối chiếu với định nghĩa hợp đồng của BLDS 2015 của Việt Nam thì có thể nói,khái niệm hợp đồng của BLDS 2015 có nhiều điểm giống BLDS Nga, Trung Quốcnhưng thể hiện tính ngắn gọn, súc tích và đầy đủ

Có thể nói, thuật ngữ “hợp đồng” là một phạm trù đa nghĩa và có thể được xemxét nhiều góc độ khác nhau Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “hợp đồng”theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan Theo nghĩa khách quan, “hợpđồng” là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các “quyphạm pháp luật được quy định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội(chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa cácchủ thể với nhau” Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng “là sự ghi nhận kết quả của việccam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể giao kết hợp đồng” hay “là kết quả của việc thỏathuận, thống nhất ý chí của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể vềquyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện”

Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận, là kết quả của quá trìnhthương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt cácquyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật có quyđịnh là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên Xét về vị trí vàvai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, là căn cứpháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Một hợp đồngphải xuất phát từ yếu tố thoả thuận nhưng không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng.Chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cácbên mới tạo nên quan hệ hợp đồng

Như vậy có thể hiểu: Hợp đồng là phương tiện pháp lý, là sự thể hiện ý chí củacác bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ

4 Nguyễn Ngọc Khánh, chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2005, trang 35.

Trang 17

bản và thông dụng nhất Ý chí của các bên đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi

sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinhnghĩa vụ ràng buộc các bên

Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ:

Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý

là hợp đồng cung ứng dịch vụ Hợp đồng cung ứng dịch vụ mang bản chất chung củahợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa

vụ trong quan hệ cung ứng dịch vụ

Dịch vụ xuất hiện từ khá lâu, ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọngtrong đời sống kinh tế - xã hội Ngày nay, có thể dễ dàng nhận thấy nhiều loại hìnhdịch vụ trong đời sống thường ngày như: dịch vụ ăn uống, giặt là, cắt tóc, dịch vụ giáodục, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, Tuy nhiên, hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khácniệm khác nhau về dịch vụ

Theo Luật giá năm 2012: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật” Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở

chỗ sản phẩm dịch vụ không có kiểu dáng, kích cỡ rõ ràng như sản phẩm hàng hóa nênkhông nhận biết được bằng các giác quan ( ngửi, xem, sờ, ) Tính vô hình của dịch vụbiểu hiện ở các mức độ khác nhau, nói cách khác, sự pha trộn giữa phần hiện hữu vàkhông hiện hữu trong các dịch vụ là khác nhau

Trong từ điển Wikipedia, dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương

tự như hàng hoá nhưng phi vật chất, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứngnhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ và mang lại lợi nhuận

Về bản chất, dịch vụ là sản phẩm được tạo ra để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của conngười Khi sử dụng dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại, người sử dụng phải trả mộtkhoản tiền nhất định cho bên cung ứng dịch vụ, tức là dịch vụ cũng có giá trị và giá trị

sử dụng như là hàng hóa Chỉ có điều, dịch vụ là sản phẩm hàng hóa vô hình, người sửdụng không sở hữu dịch vụ mà chỉ được hưởng những tiện ích từ dịch vụ mang lại Dovậy, dịch vụ cũng là hàng hóa nhưng là hàng hóa vô hình

Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bêncung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán;bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung

ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận

Như vậy, có thể hiểu cung ứng dịch vụ là việc mà một bên sẽ thực hiện công việcnào đó theo yêu cầu của khách hàng và sẽ nhận lại được thanh toán cho việc của mình

Trang 18

Theo đó, hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại được hiểu như sau: “Hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện, cung cấp dịch vụ cho bên sử dụng dịch vụ (khách hàng), còn bên sử dụng dịch vụ phải thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ” Hợp đồng cung ứng dịch vụ là hình thức pháp lý của quan hệ cung ứng

dịch vụ, nó gắn liền với hoạt động cung ứng dịch vụ

Đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại:

Hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại cũng mang những đặc điểm pháp

lý cơ bản của hợp đồng dịch vụ trong dân sự

Thứ nhất, hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng song vụ: Bên cung ứng dịch

vụ và bên sử dụng dịch vụ đều có quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó quyền của bênnày tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Mỗi bên trong hợp đồng đều bịràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bênkia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trong hợp đồng cung ứng dịch vụ tồn tại hainghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: bên cung ứngdịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ cònbên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bêncung ứng dịch vụ Ví dụ như trong hợp đồng vận chuyển tài sản thì bên vận chuyển cónghĩa vụ vận chuyển hàng hóa đến đúng nơi quy định hoặc được thỏa thuận, còn bênthuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán cước phí cho bên vận chuyển Khi các bên đãthoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mìnhkhi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đốivới mình, trừ trường hợp tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mứckhông thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năngthực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh; hoặc nếu bên thực hiện nghĩa vụtrước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn Trong trường hợp các bên khôngthoả thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa

vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thựchiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước

Thứ hai, hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng ưng thuận: Quyền và nghĩa vụcủa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ phát sinh ngay sau khi các bên đãthỏa thuận với nhau xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng Trong hợp đồng cungứng dịch vụ, dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhưng

đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng.Hay nói cách khác, hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng mà thời điểm có hiệu lựccủa nó được xác định tại thời điểm giao kết

Trang 19

Ngoài những đặc điểm trên, với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ cungứng dịch vụ, hợp đồng cung ứng dịch vụ còn có những đặc điểm riêng nhất định, xuấtphát từ bản chất thương mại của hành vi cung ứng dịch vụ:

Thứ nhất, đối tượng của hợp đồng là một loại hình dịch vụ nào đó, tính chất củahợp đồng sẽ tùy thuộc vào từng loại hình dịch vụ Cụ thể là việc thực hiện công việctheo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ Đó có thể là những dịch vụ đơn giản (dịch vụgửi giữ tài sản, dịch vụ dịch thuật,…) hay những dịch vụ phức tạp hơn (dịch vụ tư vấn,dịch vụ quảng cáo, dịch vụ chuyên chở, dịch vụ ngân hàng,…) Bên cung ứng dịch vụbằng khả năng của mình phải thực hiện công việc mà bên sử dụng dịch vụ yêu cầu,còn bên sử dụng dịch vụ được hưởng những lợi ích từ việc thực hiện dịch vụ của bêncung ứng dịch vụ mang lại Do vậy, đối tượng của quan hệ cung ứng dịch vụ khác vớiđối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa; bởi vì quan hệ mua bán hàng hóa hướng tớiđối tượng là hàng hóa hữu hình có thể nhìn thấy còn quan hệ cung ứng dịch vụ thươngmại hướng tới đối tượng hàng hóa vô hình hay thực hiện, không thực hiện công việcnhất định Tuy nhiên các dịch vụ này phải là các dịch vụ có thể thực hiện được, không

bị pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội

Thứ hai, chủ thể của hợp đồng là bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ(khách hàng) Bên cung ứng dịch vụ bắt buộc phải là thương nhân, có đăng kí kinhdoanh để cung cấp dịch vụ thương mại theo quy định của pháp luật Bên sử dụng dịch

vụ thương mại có thể là thương nhân, có thể không phải thương nhân, có nhu cầu sửdụng dịch vụ thương mại của bên cung ứng dịch vụ Ví dụ, bên cung ứng dịch vụ cóthể là một công ty viễn thông cho khách hàng là cá nhân Cũng như có trường hợp bêncung ứng dịch vụ là một cá nhân (chuyên gia pháp lý) cung ứng dịch vụ tư vấn pháp lýcho một tổ chức (công ty, doanh nghiệp)

Thứ ba, nội dung của hợp đồng là quyền và nghĩa vụ của hai bên, trong đó bêncung ứng dịch vụ có nghĩa vụ chủ yếu là thực hiện dịch vụ cho bên kia, còn bên sửdụng dịch vụ có nghĩa vụ chủ yếu là thanh toán phí sử dụng dịch vụ (phí dịch vụ) Bên

sử dụng dịch vụ hướng tới mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của mình về dịch vụ và hưởngnhững lợi ích nhất định từ việc thực hiện dịch vụ của người cung ứng dịch vụ manglại Đối với bên cung ứng dịch vụ thương mại, mục tiêu lớn nhất của họ là khoản tiềnthù lao hay lợi nhuận phát sinh từ việc thực hiện công việc cụ thể

Thứ tư, hình thức của hợp đồng cung ứng dịch vụ có thể bằng lời nói, bằng vănbản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng cung ứng dịch

vụ mà pháp luật quy định phải được thiết lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quyđịnh đó Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một số loại hợp đồng cung ứng dịch

vụ sau đây phải được lập dưới hình thức văn bản hay một hình thức pháp lý tương

Trang 20

đương: hợp đồng dịch vụ khuyến mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại, hợpđồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại,… Có thể thấy, với đa sốhợp đồng cung ứng dịch vụ, pháp luật Việt Nam đều yêu cầu hợp đồng được lập dướihình thức văn bản (trong khi các hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung thì không cóyêu cầu này) Điều này cho thấy tính chất phức tạp của hợp đồng cung ứng dịch vụ sovới hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào, hợp đồng cungứng dịch vụ thương mại cũng thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên về các quyền, nghĩa

vụ phát sinh từ việc thực hiện một công việc cụ thể theo yêu cầu

1.1.2 Khái quát về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Khái niệm giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ:

Giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ có thể hiểu là quá trình bày tỏ, thống nhất ýchí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định, được phápluật thừa nhận nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau Thực chất, đó làquá trình mà hai bên “mặc cả” về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng cungứng dịch vụ Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn là đề nghị giao kết hợpđồng và chấp nhận giao kết hợp đồng

Bản chất của giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ:

Bản chất của giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ là sự thỏa thuận Trong đó, cácbên bày tỏ và thống nhất ý chí nhằm hướng tới những lợi ích nhất định Việc giao kếthợp đồng cung ứng dịch vụ cũng được xác lập trên cơ sở của sự thỏa thuận, thống nhất

ý chí giữa các bên Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ là một quátrình được thể hiện qua việc các bên đàm phán, thượng lượng để sửa đổi, bổ sung cácđiều kiện và điều khoản của hợp đồng Quá trình giao kết hợp đồng diễn ra với hai yếutố: sự bày tỏ ý chí và sự chấp nhận ý chí Quá trình này có thể diễn ra nhanh chóng haykéo dài, đơn giản hay phức tạp, diễn ra đồng thời hay tiến triển ở nhiều giai đoạn khácnhau, phụ thuộc vào các yếu tố như: ý chí của các bên về nội dung, hình thức biểu hiệncủa hợp đồng, Các bên có thể sử dụng phương thức giao kết trực tiếp (gặp nhau, traođổi đàm phán, thương lượng, ) hoặc phương thức giao kết gián tiếp (thông qua côngvăn, các phương tiện điện tử, ) để thỏa thuận, thống nhất nội dung của hợp đồng Thỏa thuận chính là một trong những điều kiện quan trọng tạo nên hợp đồngcung ứng dịch vụ Thỏa thuận là sự thể hiện ý chí làm phát sinh các quan hệ pháp lý.Khi một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và bên còn lại chấp thuận đề nghị đó thì

đã cấu thành nên một sự thỏa thuận giữa các bên Như vậy, khi các bên không có sựgặp nhau ở những ý định và đi đến thống nhất ý chí đối với các điều kiện và điềukhoản liên quan đến hợp đồng cung ứng dịch vụ thì hợp đồng sẽ không được ký kết.Trong hợp đồng cung ứng dịch vụ, yếu tố quan trọng nhất chính là sự thỏa hiệp giữa

Trang 21

các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau liên quan đến các điều kiện vàđiều khoản của hợp đồng.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ được đề cao Tất cả các hợp đồng cung ứng dịch vụ có hiệu lực phápluật đều là hệ quả sự thỏa thuận cho dù sự thỏa thuận đó được thể hiện ở hình thức nàyhay hình thức khác Tuy nhiên, không thể suy luận ngược lại là mọi sự thỏa thuận củacác bên đều là hợp đồng, bởi sự thỏa thuận chỉ được coi là hợp đồng nếu những thỏathuận đó phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực của các bên.Khi xem xét về yếu tố thỏa thuận trong hợp đồng cung ứng dịch vụ có thể thấy, ngoàiyếu tố mục đích mà các bên hướng tới khi giao kết hợp đồng, thì cần phải xem xétthấu đáo đến hai yếu tố cơ bản cấu thành lên sự thỏa thuận đó là tự do ý chí và sự ưngthuận Thông thường, một bên của hợp đồng (bên đề nghị) sẽ đưa ra ý chí của mìnhtrước, bên còn lại (bên được đề nghị) tiếp xúc với ý chí đó, nếu có sự gặp gỡ giữa ý chícủa các bên thì kết quả sẽ tạo ra một thỏa thuận Quá trình vừa rồi chính là quá trìnhcủa sự thỏa thuận Chính vì vậy, ý chí chính là nguyên liệu, là tiền đề và sự ưng thuậnchính là một quá trình chế biến nguyên liệu đó để tạo ra một thỏa thuận, một hợp đồngcung ứng dịch vụ Để một hợp đồng cung ứng dịch vụ được giao kết thì ý chí giữa cácbên, sự trao đổi giữa các bên là vô cùng quan trọng và sự ưng thuận muốn đạt đượchiệu quả cao thì thiện chí của các bên giao kết hợp đồng là nhân tố có ý nghĩa quyếtđịnh Các bên càng bình đẳng, thiện chí trong giao dịch, càng hiểu rõ về nhau thì hợpđồng cung ứng dịch vụ được giao kết sẽ càng giảm thiểu được những rủi ro cũng nhưtranh chấp có thể phát sinh trong tương lai

1.2 Cơ sở ban hành và các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại làtập hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặcthừa nhận, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sửdụng dịch vụ trong hợp đồng cung ứng dịch vụ nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứtquyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại

Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý

là hợp đồng cung ứng dịch vụ Hợp đồng cung ứng dịch vụ có bản chất chung của hợpđồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụtrong quan hệ cung ứng dịch vụ Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởi hợpđồng giữa các bên và quy định của pháp luật Để đảm bảo lợi ích của cả bên cung ứng

Trang 22

dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc phòng ngừacác tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình giao kết hợp đồng thì việc xác lập nhữngquy tắc chung trong quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ là yếu tố rất quantrọng Do vậy, việc thiết lập pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ trở thành yếu tốtiên quyết nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế được phát triển ổn định và bền vững.Với đặc trưng của nền kinh tế thị trường, dịch vụ là cầu nối giữa yếu tố đầu vào

và yếu tố đầu ra trong quá trình sản xuất Từ đó, dịch vụ góp phần nâng cao hiệu quảkinh tế, đảm bảo sự thuận tiện trong giao dịch, mua bán cũng như nâng cao văn minhcho các lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần của con người Ngày nay, hoạt độngcung ứng dịch vụ được thực hiện thường xuyên, liên tục và rộng khắp với một hệthống thị trường ngày càng phát triển đa dạng, mạnh mẽ Các đối tác hoạt động trongnền kinh tế thị trường đều theo đuổi lợi ích của mình; lợi ích cá nhân trở thành độnglực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế và tự do cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tếthị trường chính là động lực thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế - xã hội Trong nền kinh tếhiện nay, hầu hết những giao dịch nhằm thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hànghoá, dịch vụ, nghiên cứu, đều liên quan đến việc thiết lập quan hệ hợp đồng – mộtthoả thuận ràng buộc về mặt pháp lý thì có thể khẳng định rằng, những điều kiện ra đờicủa dịch vụ cũng chính là những điều kiện ra đời của hợp đồng cung ứng dịch vụ.Trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang trên đà phát triển sâu rộng, mạnh

mẽ và Việt Nam đẩy mạnh tái cơ cấu gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng caosức cạnh tranh quốc gia như hiện nay thì phát triển ngành dịch vụ ngày càng trở thànhyêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa to lớn, không chỉ trực tiếp tạo động lực phát triển mà còn

có tác động lan tỏa tới mọi lĩnh vực trong nền kinh tế Thêm vào đó, ở nước ta, kể từkhi Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế vận hành theo cơ chếthị trường với nhiều thành phần sở hữu, phát triển bình đẳng, có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch củamình, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải dựa vào các quan hệhợp đồng Để thực hiện chức năng của mình, Nhà nước luôn chú ý đến việc điều chỉnhvấn đề pháp lý các hoạt động kinh tế của các đơn vị kinh tế, trong đó việc điều chỉnhcác quan hệ hợp đồng cung ứng dịch vụ là một nội dung hết sức quan trọng

Trước sự vận hành của nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường thì việc đổimới cơ chế quản lý kinh tế là cần thiết và hợp lý Vì thế, Nhà nước đã ban hành cácvăn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng cung ứng dịch vụ nóiriêng nhằm mục đích đưa hoạt động cung ứng dịch vụ đi đúng hướng; các chủ thểtrong quan hệ cung ứng dịch vụ được tự do nhưng trong khuôn khổ pháp luật, thúc đẩy

Trang 23

kinh tế; đồng thời tạo điều kiện để Nhà nước dễ dàng quản lý hoạt động cung ứng dịch

vụ của các chủ thể trong nền kinh tế

1.2.2 Các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Theo pháp luật Việt Nam trước đây, hợp đồng cung ứng dịch vụ chịu sự điềuchỉnh của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 Hiện nay, pháp luật điều chỉnh hợpđồng cung ứng dịch vụ là BLDS 2015, LTM 2005 cùng một số nghị định, thông tư, Pháp luật điều chỉnh quan hệ cung ứng dịch vụ trong thương mại ghi nhận và bảo vệquyền tự do giao kết hợp đồng của mọi chủ thể Các chủ thể được toàn quyền thỏathuận mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng sao cho không vi phạm các quy định củapháp luật và trái đạo đức xã hội Vì vậy, hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt độngthương mại đã trở thành một công cụ đắc lực phục vụ cho hoạt động kinh doanh, lưuthông hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế thị trường

Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 không quy định riêng về vấn đề giaokết hợp đồng cung ứng dịch vụ mà quy định về vấn đề giao kết hợp đồng kinh tếnói chung tại Chương II của Pháp lệnh Với 13 điều, từ Điều 9 – Điều 21, Pháplệnh quy định cụ thể về chủ thể, căn cứ, nội dung và hình thức giao kết của hợpđồng kinh tế nói chung

Cùng điều chỉnh quan hệ hợp đồng cung ứng dịch vụ với Pháp lệnh Hợp đồngkinh tế năm 1989 trong khoảng thời gian này ở nước ta còn có BLDS 1995 BLDS

1995 đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình lập pháp của nước ta Bộ luật này

có tầm quan trọng chỉ sau Hiến pháp, điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội biến thiênkhông ngừng với mức độ ngày càng phức tạp Trong BLDS 1995, với 15 điều, từ Điều

394 – Điều 408, vấn đề giao kết hợp đồng dân sự nói chung được quy định khá cụ thểtại phần I, mục 7 thuộc chương I những quy định chung Bên cạnh đó, hợp đồng cungứng dịch vụ là một trong những hợp đồng thông dụng được quy định chi tiết tại mục 7,chương II quy định về những hợp đồng dân sự thông dụng

Bên cạnh BLDS 1995, LTM 1997 ra đời, đã tác động tích cực đến đời sống kinh

tế - xã hội của Việt Nam, từng bước đưa hoạt động thương mại vào nề nếp; khuyếnkhích, phát triển hoạt động thương mại hợp pháp; ngăn chặn và xử lý hành vi bất hợppháp gây ảnh hưởng xấu đến môi trường thương mại Tuy nhiên, cùng với sự pháttriển của nền kinh tế Việt Nam, LTM 1997 đã bộc lộ những hạn chế nhất định, đòi hỏiphải sửa đổi vì nhiều lý do, trong đó có thể kể đến lý do cơ bản như: LTM 1997 cóphạm vi điều chỉnh hẹp, chỉ xác định hoạt động thương mại bao gồm 14 hành vithương mại LTM 1997 không quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ nói chung vàhợp đồng cung ứng dịch vụ nói riêng - một trong những hoạt động thương mại

Trang 24

quan trọng mà chỉ quy định các dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hoá như dịch

vụ giao nhận, giám định hàng hoá, môi giới thương mại, gia công trong thươngmại, Bên cạnh đó, một số nội dung của LTM 1997 chưa phù hợp, không thểhiện kịp thời các quy định của WTO, thiếu cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế nói chung

Theo quy luật kinh tế khách quan, khi kinh tế thay đổi với những thành tựu to lớncủa sự phát triển kinh tế của các thành phần kinh tế dẫn đến Pháp lệnh Hợp đồng kinh

tế được ban hành năm 1989, BLDS 1995 và LTM 1997 bộc lộ rõ nhiều bất cập Trongthực tế thì việc phân định rõ ràng giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự là rất khó

và đã gây nhiều khó khăn cho công tác áp dụng pháp luật và thẩm quyền xét xử Hơnnữa, pháp luật về hợp đồng không thống nhất, các quy định còn nằm rải rác trongnhiều văn bản khác nhau, tạo ra lỗ hổng pháp lý khiến cho người áp dụng và các cơquan tài phán gặp khó khăn khi áp dụng các văn bản pháp luật về hợp đồng Trongđiều kiện đó, việc hoàn thiện đổi mới các quy định của pháp luật về hợp đồng là vấn

đề đặt ra hết sức cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy hơn nữa giao lưukinh tế cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vì thế, BLDS 2005, LTM

2005 được Quốc hội khóa 11 thông qua, thay thế cho BLDS 1995, Pháp lệnh Hợpđồng kinh tế 1989 và LTM 1997

Trong BLDS 2005, bên cạnh những quy định về giao kết hợp đồng nói chung tạimục 7, chương XVII thì quy định riêng dành cho hợp đồng cung ứng dịch vụ là từĐiều 518 đến Điều 526 của chương XVIII Với tổng cộng 9 điều luật dành cho hợpđồng dân sự thông dụng này, các quy định pháp luật đã tạo nên một khung pháp lý cơbản dành cho hợp đồng cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, trên góc nhìn đối chiếu với cácthuộc tính dịch vụ cho thấy một số điểm còn chưa phù hợp như không quy định về thờiđiểm thực hiện dịch vụ, chưa quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng dành cho các nhàcung ứng dịch vụ chuyên nghiệp (như nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu, ), chưaquy định về tiêu chuẩn dịch vụ nói chung, Vì vậy, việc sửa đổi nhằm nâng cao tínhkhả thi của bộ luật, tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại phát triển là hết sứccần thiết

Hiện nay, vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ ở Việt Nam được điềuchỉnh bởi hai văn bản pháp luật chính là LTM 2005 và BLDS 2015 Hai văn bản phápluật này được ban hành trong điều kiện đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế đã tạođiều kiện thuận lợi cho quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ cũng như cáchoạt động thương mại khác phát triển, góp phần giúp cho môi trường kinh doanh ởViệt Nam thông thoáng và hiệu quả hơn Sau khi BLDS 2015 và LTM 2005 ra đời thìBLDS 2005 và LTM 1997 đã được bãi bỏ

Trang 25

BLDS 2015 với vai trò luật chung đã quy định chi tiết về vấn đề giao kết hợpđồng nói chung tại mục 7, chương XV và quy định cụ thể về hợp đồng dịch vụ nóiriêng từ Điều 513 đến Điều 521 Về vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ,BLDS 2015 quy định đầy đủ về nguyên tắc, đối tượng, trình tự thủ tục, hình thức vànội dung giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ Bên cạnh đó, BLDS 2015 cũng đưa ranhững quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ đểđảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên và hạn chế tranh chấp xảy ra

LTM 2005 với vai trò là luật chuyên ngành, đã mở rộng phạm vi điều chỉnh sovới LTM 1997, không chỉ điều chỉnh các hoạt động mua bán hàng hóa mà còn điềuchỉnh các hoạt động cung ứng dịch vụ Hoạt động cung ứng dịch vụ nói chung và hợpđồng cung ứng dịch vụ nói riêng được quy định trong chương III của Luật này.Chương này gồm hai mục, nêu ra các quy định chung đối với hoạt động cung ứng dịch

vụ và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ Đối với hoạtđộng cung ứng dịch vụ, Luật đưa ra quy định về hình thức của hợp đồng cung ứngdịch vụ, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện làm

cơ sở quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ Song song với điều này, Luật cũng đã

có những quy định cơ bản về quyền cung ứng và quyền sử dụng dịch vụ của thươngnhân được xây dựng trên cơ sở phù hợp với quy định về thương mại dịch vụ củaWTO Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ, ngoài việcquy định chung về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ và khách hàng, Luật còn đưa racác quy định đặc thù về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ tùy theo tính chất của loạidịch vụ là dịch vụ theo kết quả công việc hay dịch vụ theo nỗ lực cao nhất

1.3 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng, được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản

Quan hệ hợp đồng là quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng với nhau Nguyên tắcbình đẳng trước pháp luật còn được gọi là nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụgiữa các bên Quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể bao giờ cũng tương xứng với nhau,quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Điều này thể hiện ở chỗ khiđàm phán để ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ, các bên đều có quyền đưa ra nhữngyêu cầu của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bênkia Không bên nào có quyền ép buộc bên nào Quan hệ hợp đồng cung ứng dịch vụchỉ hình thành khi các bên thống nhất với nhau về các điều khoản trong hợp đồng cungứng dịch vụ

Thứ hai, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

Trang 26

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng Hợp đồng cungứng dịch vụ là sự thỏa thuận ý chí của các bên tham gia kí kết, làm phát sinh các nghĩa

vụ pháp lý, do đó việc kí kết hợp đồng phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên.Theo nguyên tắc này thì các bên đủ tư cách chủ thể có quyền tự do quyết định việcgiao kết hợp đồng theo ý muốn chủ quan và vì lợi ích của mình Việc tự do bày tỏ ýchí thể hiện trên ba khía cạnh: tự do chọn đối tác kinh doanh, tự do xác lập nội dunggiao kết và tự do lựa chọn hình thức giao kết Về nội dung hợp đồng, nguyên tắc tự dogiao kết cho phép các bên tự do thỏa thuận các điều khoản về nội dung của hợp đồngnhưng để nội dung ấy có hiệu lực pháp luật thì những điều khoản nội dung của hợpđồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội

Theo nguyên tắc này, một hợp đồng cung ứng dịch vụ được hình thành phải hoàntoàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí) và không do sự

áp đặt ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Mọi sự tác động làm mất tính tự nguyệncủa các bên trong quá trình giao kết đều làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồngcung ứng dịch vụ

Thứ ba, nguyên tắc thiện chí, trung thực

Trong quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ, các bên phải thể hiện rõthái độ trung thực và ngay thẳng Điều này có nghĩa là các bên phải nói rõ cho nhaubiết về tình trạng và đặc tính của đối tượng, không được lừa dối, nếu che dấu khuyếttật của đối tượng hợp đồng nhằm mục đích tư lợi mà gây thiệt hại cho bên kia thì phảibồi thường

Ngoài ra, các bên phải có tinh thần hợp tác lẫn nhau Trong quá trình giao kếthợp đồng cung ứng dịch vụ, các bên tương trợ, giúp đỡ và thông tin cho nhau để đápứng nhu cầu và bảo đảm lợi ích cho các bên Theo nguyên tắc này, các bên phải luônquan tâm đến nhau, tạo điều kiện giúp nhau khắc phục khó khăn trong quá trình giaokết hợp đồng Hơn nữa, nguyên tắc này đòi hỏi cả hai bên phải cùng nhau tìm và thựchiện mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại xảy ra Nếu bên nào cóđiều kiện mà không thực hiện các biện pháp ngăn chặn sẽ bị coi là có lỗi và phải gánhchịu thiệt hại

Thứ tư, nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác

Trong nền kinh tế thị trường, mỗi bên tham gia vào quan hệ hợp đồng kinh tế đềuxuất phát từ lợi ích riêng của mình Do đó, khi tham gia giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ, các bên cùng nhau thoả thuận những điều khoản hợp đồng theo hướng có lợinhất cho các bên, không bên nào được lừa dối hay chèn ép bên nào Việc thỏa thuậnkhi tham gia giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ của cá nhân và pháp nhân không

Trang 27

được tùy tiện mà phải chú ý đến lợi ích của quốc gia, lợi ích cộng đồng và quyền, lợiích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân khác Nói cách khác, cá nhân, pháp nhân khitham gia giao kết hợp đồng phải trong giới hạn của pháp luật; quyền của cá nhân, phápnhân luôn bị giới hạn bởi lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng và quyền của cánhân, pháp nhân khác Việc xâm phạm đến các lợi ích này đều bị pháp luật cấm và nếugây thiệt hại cho cá nhân, pháp nhân khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường (trừtrường hợp bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn hoặc do thực hiện quyết định của cơquan Nhà nước có thẩm quyền).

Để thực hiện nguyên tắc này, khi tham gia giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ,các cá nhân, pháp nhân phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, luôn coi lợi íchquốc gia, dân tộc, cộng đồng là trên hết Bên cạnh đó, phải chú ý đến quyền, lợi íchhợp pháp của cá nhân, pháp nhân khác Khi gặp các giao dịch xâm phạm đến lợi íchnày, pháp nhân, cá nhân phải từ chối cam kết, thỏa thuận

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

ĐẦU TƯ ĐÔ THỊ HÒA BÌNH XANH

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Ngày nay, cung ứng dịch vụ là một trong những hoạt động thương mại chính ởViệt Nam, không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra các quốc giakhác nhau trên thế giới Hoạt động cung ứng dịch vụ diễn ra một cách thường xuyên,liên tục, hình thành nên các hợp đồng cung ứng dịch vụ với số lượng tăng nhanh theonhu cầu thị trường, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giớiWTO Hợp đồng cung ứng dịch vụ là một chế định được thiết lập nhằm mục đích bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia thị trường thương mại dịch

vụ, là cơ sở pháp lý, là công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp nước ta nâng cao khảnăng cạnh tranh trong nước và thâm nhập thị trường nước ngoài

Cùng với những biến đổi đa dạng của xã hội cũng như nền kinh tế, hệ thống phápluật Việt Nam về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ được xây dựng, hoàn thiện và đivào cuộc sống Các vấn đề liên quan đến hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt độngthương mại được điều chỉnh tương đối toàn diện trong các văn bản quy phạm pháp luậthiện hành

Thứ nhất, nhóm các quy định chung về hợp đồng cung ứng dịch vụ: nhóm nàyquy định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc đối với hoạt động cung ứng dịch

vụ, hợp đồng dịch vụ Những vấn đề về giao kết hợp đồng được quy định trong mục 7,chương XV của BLDS 2015 và những quy định về hợp đồng dịch vụ thuộc mục 9chương XVI của BLDS 2015

Thứ hai, nhóm các quy định chuyên ngành về hợp đồng cung ứng dịch vụ: Bêncạnh những quy định chung về hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2015 thì LTM 2005 quyđịnh khá cụ thể về các vấn đề liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ và hợp đồngcung ứng dịch vụ Ngoài ra, một số ngành dịch vụ đặc thù còn được quy định tại các

Bộ luật, luật và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Luật Du lịch 2017,Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010, Luật Viễn thông 2009,

Thứ ba, nhóm các quy định về hợp đồng dịch vụ có yếu tố nước ngoài (điển hình

là hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS): Cùng với tiến trình tự do hóathương mại, Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nên việc thực hiện các

Trang 29

giao dịch có yếu tố nước ngoài là tương đối phổ biến Trường hợp điều ước quốc tế mànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng phápluật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định củaLTM 2005, BLDS 2015 thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế Các bên trong giaodịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài,tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế

đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

a) Nhân tố kinh tế

Nước ta đang từng bước chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực vàthế giới Tháng 7/1995 Việt Nam gia nhập ASEAN mở đầu cho tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế Tiếp đó, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổchức thương mại thế giới (WTO) đã đánh dấu bước hội nhập của nước ta với nền kinh

tế thế giới Giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong đàm phán và kýkết các Hiệp định thương mại tự do mới với các đối tác Tính đến tháng 4/2016, ViệtNam đã tham gia thiết lập 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với 56 quốc gia vànền kinh tế trên thế giới, trong đó có 6 FTA thế hệ mới là Hiệp định Việt Nam - EU vàHiệp định TPP

Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đem lại nhiều cơ hội cũng như những tháchthức cho các doanh nghiệp và nền kinh tế của Việt Nam Cơ hội lớn nhất là mở rộngthị trường nhờ cắt giảm thuế và xóa bỏ rào cản thương mại để tham gia sâu hơn vàochuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu Tăng trưởng và phát triển kinh tế ảnh hưởng rấtlớn đến việc giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ Theo đó, khi nền kinh tế Việt Namngày càng phát triển thì số lượng và mức độ phức tạp của các hợp đồng kinh tế -thương mại, của các hợp đồng cung ứng dịch vụ ngày càng tăng Vì thế, kinh tế pháttriển là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động cung ứng dịch vụ nóichung và của hợp đồng cung ứng dịch vụ nói riêng

b) Nhân tố con người

Khác với nhu cầu về hàng hóa là có giới hạn, nhu cầu dịch vụ của con ngườikhông có điểm dừng cuối cùng Nhu cầu dịch vụ xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực sảnxuất cũng như đời sống sinh hoạt của con người Ngày nay, cùng với sự phát triển củanền kinh tế, mức sống của con người ngày càng cao nên nhu cầu về dịch vụ càng mới,ngày càng nhiều hơn về số lượng và cao hơn về chất lượng Do đó, số lượng cũng nhưtính phức tạp của mỗi hợp đồng cung ứng dịch vụ ngày càng tăng Bởi vậy, hơn baogiờ hết, nhận thức của con người về pháp luật hợp đồng dịch vụ, đặc biệt là pháp luật

về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trở nên hết sức quan trọng Nó ảnh hưởng trực

Trang 30

tiếp đến kết quả kinh doanh của các cá nhân, tổ chức kinh tế khi tham gia giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ Chính vì thế, nâng cao nhận thức của con người về pháp luậtgiao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ là cách tốt nhất để giảm thiểu tối đa những rủi rotiềm ẩn có thể xảy ra.

c) Nhân tố kỹ thuật

An toàn trong giao kết hợp đồng luôn là vấn đề lớn đối với sự thành công củamột hợp đồng cung ứng dịch vụ hay xa hơn là sự thành công trong hoạt động kinhdoanh của một doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức hay bất kỳ một chủ thể nào trong nềnkinh tế Đây là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc giao kết hợp đồng cungứng dịch vụ của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp phải có đầy đủ các phương tiện,thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật

d) Các nhân tố khác

Ngoài các nhân tố trên, còn một số nhân tố khác ảnh hưởng đến giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ như:

- Sự quản lý của Nhà nước về vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

- Mức độ chặt chẽ của các quy định pháp luật về hợp đồng

- Nhận thức của doanh nghiệp, của các chủ thể về giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ

- Văn hóa doanh nghiệp,

2.2 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh được thành lập theo Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh số 0303000321 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố HàNội cấp ngày 29/7/2005 Công ty có trụ sở tại số 51 TT16 khu đô thị mới Văn Phú,Phường Phú La, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội với số vốn điều lệ là 111 tỷ đồng

và người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Trung Kiên – chủ tịch hội đồng quảntrị của công ty Công ty có ngành nghề kinh doanh chính là xây dựng công trình kỹthuật dân dụng và hoạt động kiến trúc, tư vấn kỹ thuật có liên quan Trong thời gianhoạt động, công ty liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, có nguồn tài chính vững mạnh,đảm bảo cho đầu tư và phát triển Hiện nay, công ty quy tụ nhiều kỹ sư và cử nhân đãtốt nghiệp các trường đại học có uy tín trên cả nước

Công ty có đối tác kinh doanh chủ yếu là các cá nhân, tổ chức có nhu cầu xâydựng, sửa chữa cơ sở vật chất trên khắp cả nước Đến nay, công ty đã và đang thựchiện nhiều công trình xây dựng dân dụng cùng nhiều công trình giao thông, thủy lợitrên khắp các tỉnh thành cả nước như: nâng cấp, sửa chữa hồ thị trấn Đăk Mâm - huyệnKrông Nô, tỉnh Đăk Nông; chung cư cao tầng DN15 – khu đô thị mới Văn Phú – HàĐông – Hà Nội; trụ sở văn phòng làm việc và giảng đường Trường cao đẳng nghề giao

Trang 31

thông vận tải Trung ương III – Thành phố Hồ Chí Minh, Với nỗ lực phát triển khôngngừng cùng bề dày kinh nghiệm trong ngành xây dựng và việc áp dụng, thực thi tốtcác quy định của pháp luật vào thực tiễn kinh doanh, đến nay, Công ty Cổ phần Đầu tư

đô thị Hòa Bình Xanh đã tạo lập uy tín và nhận được sự tín nhiệm của các nhà đầu tư,các đơn vị tư vấn thiết kế, các đối tác trong nước và quốc tế

Cơ cấu tổ chức của công ty gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giámđốc, Phó Giám đốc và bốn phòng ban là phòng kế toán tài chính, phòng kế hoạch kỹthuật, phòng tổ chức hành chính và phòng dự án đầu tư Với cơ cấu tổ chức quản lýnày, các phòng ban trong công ty được phân chia theo từng chức năng, nhiệm vụ và

có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau, giúp quá trình hoạt động của công ty đạthiệu quả

Trên cở sở từng bước mở rộng các dịch vụ kinh doanh trên nhiều lĩnh vựckhác nhau, trong hơn mười hai năm hoạt động, Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị HòaBình Xanh đã gặt hái được nhiều thành công, thể hiện qua các con số doanh thuđáng kể Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm gần đây được thể

hiện qua bảng:

Bảng: Kết quả kinh doanh của công ty trong 3 năm 2015-2017

Đơn vị tiền: Việt Nam đồng

6 Lợi nhuận trước thuế 6.880.721.969 14.426.826.257 9.308.736.402

7 Lợi nhuận sau thuế 5.160.541.477 10.820.119.693 7.260.814.394

(Nguồn: báo cáo tài chính của công ty năm 2015, 2016, 2017)

Từ báo cáo tài chính của công ty qua ba năm gần đây, có thể nhận thấy rằng cáchợp đồng kinh doanh ngày càng mang lại hiệu quả cho công ty, giúp nguồn doanh thucủa công ty tăng lên đáng kể Chính những con số này đã nói lên tình hình hoạt động

và chất lượng dịch vụ của công ty ngày càng được khách hàng tin tưởng và tìm đến.Với những chuyển biến tích cực như vậy, có thể thấy những bước đi của Công ty Cổphần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh đang vững mạnh hơn và từng bước khẳng đượcđược vị thế, tên tuổi của mình trên thị trường

2.3 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

và thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị Hòa Bình Xanh

2.3.1 Quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ

Ngày đăng: 04/02/2020, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Thị Mơ (2004), “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại”, NXB Lý luận chính trị.III. BÁO VÀ TẠP CHÍ THAM KHẢO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mởcửa về dịch vụ thương mại"”
Tác giả: Nguyễn Thị Mơ
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị.III. BÁO VÀ TẠP CHÍ THAM KHẢO
Năm: 2004
1. Bùi Ngọc Toàn (2006), “Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 02/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế”, "Tạp chí nghiên cứu Lập pháp
Tác giả: Bùi Ngọc Toàn
Năm: 2006
2. Phạm Hoàng Giang ( 2006), “Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đến nguyên tắc công bằng”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 10, tr 28 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: Từ nguyêntắc tự do giao kết hợp đồng đến nguyên tắc công bằng”, "Tạp chí Nhà nước và phápluật
3. PGS, TS. Thái Vĩnh Thắng (2006), “Bàn về các nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Luật học số 07/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các nguyên tắc chung của phápluật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: PGS, TS. Thái Vĩnh Thắng
Năm: 2006
4. TS. Nguyễn Ngọc Khánh (2006), “Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 08/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm”, "Tạpchí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: TS. Nguyễn Ngọc Khánh
Năm: 2006
5. TS.Bùi Ngọc Cường (2008), “Vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế ở nước ta hiện nay”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 4, tr. 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hoàn thiện pháp luật kinh tế ở nước tahiện nay”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: TS.Bùi Ngọc Cường
Năm: 2008
6. ThS.Nguyễn Thị Giang, ThS.Nguyễn Mai Hạnh (2010), “Phân loại hợp đồng và nguyên tắc khi giao kết hợp đồng”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 03, tr. 11-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại hợp đồngvà nguyên tắc khi giao kết hợp đồng”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: ThS.Nguyễn Thị Giang, ThS.Nguyễn Mai Hạnh
Năm: 2010
7. ThS.Phan Thông Anh (2012), “Quyền tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 12, tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam –Lý luận và thực tiễn”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: ThS.Phan Thông Anh
Năm: 2012
8. Trần Thị Huệ( 2013), “Một số bất cập của chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005”, Tạp chí dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng 6 (255) năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập của chế định hợp đồng trong Bộ luậtDân sự 2005”, "Tạp chí dân chủ và pháp luật
1. Nguyễn Như Chính (2011), Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý – nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Như Chính
Năm: 2011
1. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Quốc hội ban hành ngày 24/11/2015 Khác
2. Luật thương mại số 36/2005/QH11, Quốc hội ban hành ngày 14/06/2005 Khác
3. Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014.II. GIÁO TRÌNH VÀ SÁCH THAM KHẢO Khác
1. Nguyễn Hợp Toàn (2006), Giáo trình Pháp luật kinh tế, Trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, NXB thống kê Khác
2. Phạm Duy Nghĩa (2002), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
3. Nguyễn Viết Tý (2006), Giáo trình Luật thương mại (tập 2), Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân Khác
4. Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn (2012), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 2), Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân Khác
2. Nguyễn Hà Linh (2013), Tiểu luận Giao kết hợp đồng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, doc.edu.vn, truy cập ngày 04 tháng 10 năm 2013 <http://doc.edu.vn/tai- lieu/tieu-luan-giao-ket-hop-dong-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-38521/&gt Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w