quan nhằm tạo tiền đề cho các ngành khác của nền kinh tế quốc dân cùng hạ giáthành sản phẩm.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tập tạiCông ty Cổ phần kỹ th
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nền sản xuất xã hội ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất và văn hóangày càng cao của xã hội Nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng tăng theo chấtlượng của đời sống xã hội; do đó, nền sản xuất xã hội phải luôn phát triển, cảitiến không ngừng để tạo ra nhiều sản phẩm mới với chất lượng tốt nhất, mẫu mãphù hợp và đáp ứng với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng Đồng thời những sảnphẩm đó phải có giá thành hạ, nhằm làm tiền đề cho việc tái sản xuất và tạo ralợi nhuận cho doanh nghiệp phát triển Chính vì vậy, các doanh nghiệp sản xuấtvới vai trò là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất luôn phấn đấu tìm mọi biệnpháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm Để đạt đượcmục tiêu trên, doanh nghiệp thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, một trongnhững biện pháp được các nhà quản lý quan tâm đó là công tác kế toán nóichung và cụ thể là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng Cácdoanh nghiệp sản xuất luôn xác định hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
là khâu trung tâm của công tác kế toán trong doanh nghiệp Tiết kiệm chi phí sảnxuất và hạ giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất có ý nghĩa quantrọng đối với việc phát triển, tích lũy và góp phần cải thiện từng bước đời sốngcủa người lao động Đặc biệt trong tình hình hiện nay, tiết kiệm chi phí, hạ giáthành là vấn đề sống còn của doanh nghiệp, doanh nghiệp muốn đứng vữngtrong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh lành mạnh với các doanh nghiệp khácthì giá thành sản phẩm là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại củadoanh nghiệp
Mặt khác, xây dựng cơ bản là lĩnh vực kinh doanh quan trọng Xây dựng cơbản đã tạo ra những tài sản cố định, cải thiện điều kiện làm việc cho tất cả cácngành kinh tế quốc dân, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lựcsản xuất cho nền kinh tế Chính vì vậy, vấn đề tiết kiệm chi phí và hạ giá thànhtrong ngành xây dựng cơ bản đã được đặt ra là một nhu cầu bức thiết, khách
Trang 2quan nhằm tạo tiền đề cho các ngành khác của nền kinh tế quốc dân cùng hạ giáthành sản phẩm.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tập tạiCông ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC em nhận thấy vấn đề kế toán chiphí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là vấn đề nổi bật, hướng những ngườiquản lý và hạch toán phải quan tâm đặc biệt, đồng thời được sự chỉ bảo tận tình
của Thạc sĩ Đỗ Minh Thoa và các anh chị phòng kế toán công ty, em đã chọn
đề tài “ Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại Công ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC” cho chuyên đề thực
tập cuối khóa của mình
Nội dung chuyên đề gồm 3 chương :
Chương 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại Công ty cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC
Hà Nội, Ngày 12 tháng 10 năm 2013 Sinh viên: Đinh Thị Hoài
LC 15.21.08– 11H4020238
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp tác động đến tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.1 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng táisản xuất TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân Nó làm tăngsức mạnh về kinh tế, quốc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội.Một đất nước có một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiệnphát triển Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hànhtrước một bước so với các ngành khác
Muốn cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếuđược Vì thế một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũynói riêng, cùng với vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài có trong lĩnh vực xây dựng
cơ bản
Sản phẩm xây dựng là các công trình sản xuất, hạng mục công trình, côngtrình dân dụng có đủ điều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Sản phẩmcủa ngành xây dựng cơ bản luôn được gắn liền với một địa điểm nhất định nào
đó Địa điểm đó là đất liền, mặt nước, mặt biển và có cả thềm lục địa Vì vậyngành xây dựng cơ bản là một ngành khác hẳn với các ngành khác Các đặcđiểm kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo
ra sản phẩm của ngành Đặc điểm của sản phẩm xây dựng được thể hiện cụ thểnhư sau:
Sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình, vật kiến trúc,
có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn về kinh
tế, văn hoá, thể hiện ý thức thẩm mỹ-nghệ thuật Do vậy, việc tổ chức quản lí
và hạch toán nhất thiết phải có dự toán thiết kế, thi công Đặc biệt kế toán chi
Trang 4phí cần được phân tích theo từng khoản mục chi phí, từng hạng mục côngtrình, từng công trình cụ thể Qua đó thường xuyên so sánh, kiểm tra việc thựchiện dự toán chi phí, xem xét nguyên nhân vượt, hụt dự toán và đánh giá hiệuqủa kinh doanh Hơn nữa, sản phẩm của các đơn vị xây lắp có tính đơn chiếcnên đối tượng tính giá thành thường là các công trình, hạng mục công trình đãhoàn thành
Sản phẩm xây lắp cố định về mặt vị trí, còn các điều kiện sản xuất phải dichuyển theo địa điểm đặt sản phẩm Nên khi tính giá thành sản phẩm xây lắpcần phải bóc tách chi phí phần cứng (phần chi phí mà công trình nào cũng có)
và chi phí do vị trí công trình Chi phí trực tiếp của sản phẩm xây lắp thườngkhông bao gồm các khoản chi phí phát sinh liên quan đến vị trí công trình nhưchi phí vận chuyển nguyên vật liệu ngoài cự li quy định, lương phụ của côngnhân viên,
Hoạt động xây lắp thường được tiến hành ngoài trời nên phụ thuộc nhiềuvào điều kiện thiên nhiên, dễ phát sinh những khoản chi phí ngoài dự toán làmtăng giá thành sản phẩm Chu kì sản xuất của các đơn vị kinh doanh xây lắpthường dài, chi phí phát sinh thường xuyên, trong khi doanh thu chỉ phát sinh ởtừng thời điểm nhất định; do đó chi phí phải đưa vào “ Chi phí chờ kếtchuyển”, và kì tính giá thành ở các đơn vị xây lắp thường được xác định theo
kỳ sản xuất
Sản phẩm của ngành xây lắp hoàn thành không nhập kho mà thường đượctiêu thụ trước khi tiến hành sản xuất theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận vớichủ đầu tư Do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ Giáthành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị bản thân thiết bị do chủđầu tư đưa vào để lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xâylắp bỏ ra có liên quan đến xây lắp công trình Giá thành công tác xây dựng vàlắp đặt kết cấu bao gồm giá trị vật kết cấu và giá trị thiết bị kèm theo như các
Trang 5thiết bị vệ sinh, thông gió, thiết bị sưởi ấm, điều hoà nhiệt độ, thiết bị truyềndẫn,
Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổbiến theo phương thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khốilượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp Trong giákhoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công
cụ, dụng cụ thi công, chi phi chung của bộ phận nhận khoán
Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợpđồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu củakhách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó,khi có khối lượng xây lắphoàn thành đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹthuật, đảm bảo chất lượng công trình
Với các đặc điểm đó, ngành xây lắp, xây dựng cơ bản không thể áp dụng
y nguyên chế độ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm như Bộtài chính đã ban hành, mà phải vận dụng linh hoạt cho phù hợp nhưng vẫn tuânthủ các nguyên tắc cơ bản của hạch toán chi phí và tính giá thành, đảm bảo cungcấp số liệu chính xác, kịp thời, giúp cho lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng vàđúng đắn
1.1.2 Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng nên việc quản lý vềđầu tư xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác Chính vìthế trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng yêu cầu sau:
- Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra nhữngsản phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng,đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế
Trang 6- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinhthần của nhân dân.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn đầu tư trong nướccũng như nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, khai thác tốt tiềm năng lao động, tàinguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm khai thác triệt để tiềm năng của đấtnước phục vụ cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế đồng thời đảm bảobền vững mỹ quan Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng côngnghệ tiên tiến bảo đảm chất lượng và thời gian xây dựng với chi phí và việc thựchiện bảo hành công trình (Trích điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, ban hànhkèm theo nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ)
Từ trước tới nay, XDCB là một “Lỗ hổng lớn” làm thất thoát nguồn vốn đầu tư của nhà nước Để hạn chế sự thất thoát này nhà nước thực hiện việc quản
lý giá xây dựng thông qua ban hành các chế độ chính sách về giá, các phương pháp nguyên tắc lập dự toán và các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật đơn giá XDCB, xuất vốn đầu tư) để xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công trình và cho từng hạng mục công trình.(căn cứ vào thông tư 04/2010/TT-BXD
về hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình)
Giá thành công trình là giá trúng thầu, các điều kiện ghi trong hợp đồng giữachủ đầu tư và đơn vị xây dựng Giá trúng thầu không vượt quá tổng dự đoán đượcduyệt
Đối với doanh nghiệp xây dựng, đảm bảo thi công đúng tiến độ, kỹ thuật,đảm bảo chất lượng các công trình với chi phí hợp lý Bản thân các doanhnghiệp phải có biện pháp tổ chức quản lý sản xuất, quản lý chi phí sản xuất chặtchẽ hợp lý có hiệu quả
Hiện nay trong lĩnh vực XDCB chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu,giao nhận thầu xây dựng Để trúng thầu các doanh nghiệp phải xây dựng được
dự toán chi phí giá đấu thầu hợp lý, phải trình bày được năng lực về mặt tài
Trang 7chính cũng như năng lực nhân sự của nhà thầu và giá công trình dựa trên cơ sởcác định mức đơn giá XDCB do nhà nước ban hành trên cơ sở giá cả thị trường
và khả năng của doanh nghiệp Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh cólãi
Để thực hiện các yêu cầu trên, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường côngtác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý chi phí sản xuất – giá thành, trong đó trọngtâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thánh sản phẩm
1.1.3 Nhiệm vụ của công tác quản lý, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành phùhợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra,vận dụng các phương pháp tập hợp, chi phí và tính giá thành một cách khoa học
kỹ thuật hợp lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác các sốliệu cần thiết cho công tác quản lý Cụ thể là:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chứcsản xuất ở doanh nghiệp đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phátsinh
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công sửdụng máy thi công và các dự toán chi phí khác Phát hiện kịp thời các khoảnchênh lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, cáckhoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuất để ngăn chặn kịp thời
- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm
là lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng côngtrình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm vạch ra khả năng và các mức
hạ giá thành hợp lý, hiệu quả
Trang 8- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắphoàn thành Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo quyđịnh.
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng côngtrình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất trong từngthời kỳ nhất định Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giáthành công tác xây lắp Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin về chiphí sản xuất và tính giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanhnghiệp
1.1.4.Vai trò, ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay
1.1.4.1 Vai trò
Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên cácnguồn dự trữ nội bộ của doanh nghiệp và đảm bảo tích luỹ tạo điều kiện mởrộng không ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm thoả mãnnhu cầu ngày càng tăng và nâng cao phúc lợi của quần chúng lao động
Hạch toán kinh tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hànhcác kế hoạch sản xuất sản phẩm về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị, chấphành nghiêm túc các tiêu chuẩn đã quy định về tài chính
Đối với doanh nghiệp xây lắp việc hạch toán sẽ cung cấp các số liệu mộtcách chính xác, kịp thời đầy đủ phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hìnhthực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đề ra các biệnpháp quản lý và tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu hạch toán
Hạch toán kế toán là vấn đề trung tâm của công tác hạch toán trong xâylắp Tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực tế
so với kế hoạch là bao nhiêu, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí để
có giải pháp khắc phục Việc tính giá thành thể hiện toàn bộ chất lượng hoạtđộng kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị
Trang 91.1.4.2 ý nghĩa
Giúp cho việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tưcủa nhà nước.Đáp ứng yêu cầu quản lý thông qua việc cung cấp đầy đủ chínhxác các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong các DNXL
1.2.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất trong xây lắp
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp là quá trình biếnđổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng laođộng và sức lao động thành các công trình, lao vụ nhất định Đồng thời, quátrình sản xuất sản phẩm xây lắp cũng là quá trình tiêu hao của chính bản thâncác yếu tố trên Do đó, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trịsản phẩm xây lắp là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan củangười sản xuất Vậy chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộhao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà doanh nghiệp đã chi
ra trong một kỳ kinh doanh nhất định liên quan đến việc xây dựng, lắp đặt cáccông trình Chi phí về lao động sống gồm: chi phí tiền lương, trích bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn Còn chi phí về lao động vật hoá baogồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí khấu hao tài sản cố định,
Độ lớn của chi phí sản xuất xây lắp là một đại lượng xác định và phụ thuộcvào hai nhân tố chủ yếu:
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất sảnphẩm xây lắp trong một thời kỳ nhất định
- Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền công của một đơn vị laođộng đã hao phí
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều khoản chi có nội dung, công dụng và mụcđích sử dụng không như nhau Vì vậy, để phục vụ cho công tác quản lí nói
Trang 10chung và kế toán nói riêng, cần phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức thíchhợp.
1.2.2 Phân loại chi phí trong giá thành sản xuất sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳthuộc vào yêu cầu và mục đích của công tác quản lí Việc hạch toán chi phí sảnxuất theo từng tiêu thức sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin, là cơ sở cho việcphấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng cường hạch toán kinh
tế trong các đơn vị xây lắp Thông thường, chi phí sản xuất trong các doanhnghiệp xây lắp được phân loại theo các tiêu thức sau:
1.2.2.1 Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế.
Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thànhcác yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu gồm toàn bộ chi phí về đối tượng lao động như:nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu thiết bị xây dựng
- Chi phí nhân công là toàn bộ tiền công, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,KPCĐ và các khoản khác phải trả cho người lao động
- Chi phí khấu hao TSCĐ là toàn bộ phải trích khấu hao, trích trước chiphí sửa chữa lớn trong tháng đối với tất cả các loại TSCĐ có trong doanhnghiệp
- Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả về các loại dịch vụ muangoài, thuê ngoài phục vụ cho việc sản xuất như chi phí thuê máy, tiền nước,tiền điện
- Chi phí khác bằng tiền là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sảnxuất ngoài bốn yếu tố chi phí nói trên như chi phí bằng tiền mặt, chi phí tiếpkhách
Phân loại theo tiêu thức này giúp ta hiểu được kết cấu, tỷ trọng của từngloại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp dự toán chiphí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau
Trang 111.2.2.2 Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí.
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và côngdụng nhất định đối với hoạt động sản xuất xây lắp Theo cách phân loại này, căn
cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoảnmục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi phí cócùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tếnhư thế nào Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kì được chia làm cáckhoản mục chi phí sau:
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về nguyên liệu,
vật liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm xây lắp, sản phẩm côngnghiệp, thực hiện dịch vụ, lao vụ trong kì sản xuất kinh doanh Chi phí nguyênliệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế khi xuất dùng
Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản thù lao lao động phải
trả cho công nhân trực tiếp xây lắp các công trình, công nhân phục vụ thi công(như công nhân vận chuyển bốc dỡ vật tư trong phạm vi mặt bằng xây dựng vàcông nhân chuẩn bị thi công, thu dọn hiện trường ) Với khoản chi phí tiền lươngcủa công nhân điều khiển máy tính trong đơn giá XDCB cũng tính vào chi phínhân công trực tiếp Còn chi phí tiền lương của cán bộ quản lý công trình (bộphận gián tiếp) được tính vào chi phí sản xuất chung chứ không phải là chi phínhân công trực tiếp
Chi phí sử dụng máy thi công: Bao gồm toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy
thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình theo phương thứcthi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy
Chi phí sản xuất chung: Gồm những chi phí phục vụ xây lắp tại các đội
và các bộ phận sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây lắp Đây là nhữngchi phí phát sinh trong từng bộ phận, từng đội xây lắp, ngoài chi phí vật liệu và
Trang 12nhân công trực tiếp (kể cả phần trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, kinh phí công đoàn trên tiền lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên chứctừng bộ phận, từng đội và toàn bộ tiền ăn ca của đội, bộ phận)
Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phó có tác dụng xác định sốchi phí đã chi cho từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở để tínhgiá thành và kết quả hoạt động sản xuất Theo cách phân loại này thì chi phí sảnxuất chế tạo ra sản phẩm sẽ là những chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩmkhi hoàn thành
1.2.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp đến quá trình
sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định bao gồm chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chiphí sản xuất chung
Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất liên quan đến việc sản xuất
ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc Kết cấu của chi phí gián tiếp cũngtương tự như chi phí trực tiếp, nhưng những chi phí này phát sinh ở bộ phậnquản lí đội thi công của các doanh nghiệp xây lắp Vì vậy kế toán phải tiến hànhphân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu thức thích hợp
1.2.2.4 Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn
cứ đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh lạiđược phân theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành Theo cách này,chi phí được chia thành biến phí và định phí
Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỉ lệ so với khối lượng
công việc hoàn thành, chẳng hạn chi phí về nguyên liệu, nhân công trực tiếp
Trang 13Cần lưu ý rằng, các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại cótính cố định
Định phí là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công
việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí thuêmặt bằng, phương tiện kinh doanh, Các chi phí này nếu tính cho một đơn vịsản phẩm thì lại biến đổi khi số lượng sản phẩm thay đổi
Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng trong dự toán công trình xây lắp thì chi phí sản xuất được phân loại theo từng khoản mục.
1.3 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1 Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm xây lắp
Trong sản xuất xây lắp, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí
Để đánh giá chất lượng kinh doanh của các tổ chức kinh tế, chi phí sản xuất phảiđược xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản của quátrình sản xuất kinh doanh, đó là kết quả thu được Quan hệ so sánh đó đã hìnhthành nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan đến khối lượng xây lắp đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chấtlượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, laođộng, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kĩ thuật
mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt mục đích sản xuất ra khối lượng sảnphẩm nhiều nhất với chi phí ít nhất
Giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm bốn khoản mục sau:
Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp
Khoản mục chi phí sử dụng máy thi công
Trang 14Giá thành dự toán công trình xây lắpGiá trị dự toán của công trình, hạng mục công trình= Phần lợi nhuận định mức_
Khoản mục chi phí sản xuất chung
1.3.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.2.1.Giá thành dự toán xây lắp :
Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành sản phẩm xây lắp Giá thành dự toánđược xác định trên cơ sở các định mức và đơn giá chi phí do Nhà nước quyđịnh(đơn giá bình quân khu vực thống nhất) Giá thành dự toán được lập trướckhi tiến hành xây lắp và được tính như sau :
1.3.2.2.Giá thành kế hoạch :
Là chỉ tiêu được xác định trên cơ sở giá thành dự toán gắn với điều kiện cụthể của doanh nghiệp
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành dự toán
Với doanh nghiệp không có giá dự toán thì giá thành kế hoạch được xác địnhtrên cơ sở giá thành thực tế năm trước và các định mức kinh tế kỹ thuật của doanhnghiệp
Việc tính toán giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệpthực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình xây lắp Giá thành kếhoạch của sản phẩm xây lắp là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp xây lắp, làcăn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và
kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp
1.3.2.3.Giá thành thực tế :
Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành sản phẩm
XL, giá thành được xác định theo số liệu hao phí thực tế liên quan đến khốilượng xây lắp hoàn thành bao gồm chi phí định mức, vượt định mức và các chiphí khác
Sản phẩm xây lắp có thời gian thi công dài nên để theo dõi chặt chẽ nhữngchi phí phát sinh doanh nghiệp xây lắp có sự phân chia giá thành thực tế thành:
Trang 15Giá thành thực tế công tác xây lắp : Phản ánh giá thành của một khối lượng
công tác xây lắp đạt đến một điểm dừng kỹ thuật nhất định Nó cho phép xácđịnh kiểm kê kịp thời chi phí phát sinh để kịp thời điều chỉnh cho thích hợp ởnhững giai đoạn sau và phát hiện những nguyên nhân gây tăng giảm chi phí
Giá thành thực tế công trình, hạng mục công trình hoàn thành: Là toàn bộ
chi phí chi ra để tiến hành thi công một công trình, hạng mục công trình từ khichuẩn bị đến khi đưa vào sử dụng
Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp chỉ có thể tính toán được sau khihoàn thành một khối lượng công tác xây lắp nhất định Giá thành thực tế của sảnphẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanhnghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế - tổ chức - kỹ thuật
để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp
1.3.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có quan hệ chặt chẽbiện chứng với nhau Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giáthành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất Giá thành sản phẩm là biểu hiệnbằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nàonhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp đều bao gồm các hao phí về laođộng sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình thicông Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kì và cuối kì bằng nhau thì tổng giáthành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kì
Tuy nhiên, do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kì không đều nhau nên chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau về lượng Điều đó được thể hiệnqua sơ đồ sau:
Trang 16Tổng giá thành Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất
sản phẩm xây lắp dở dang đầu kì phát sinh trong kì dở dang cuối kì
-Chi phí sản xuất dở dang đầu kì Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Tổng giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ thấy:
Như vậy, nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những chi phí phát sinh trongmột thời kì nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí chi ragắn liền với việc sản xuất và hoàn thành một khối lượng công việc xây lắp đượcnghiệp thu bàn giao, thanh toán Giá thành sản phẩm không bao hàm những chiphí cho khối lượng dở dang cuối kì, những chi phí không liên quan đến hoạtđộng sản xuất, những chi phí chi ra nhưng chờ phân bổ kì sau Nhưng nó lại baogồm chi phí dở dang cuối kì trước chuyển sang, những chi phí trích trước vàogiá thành nhưng thực tế chưa phát sinh và những chi phí của kì trước chuyểnsang phân bổ cho kì này
1.4 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.4.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và quantrọng của tổ chức hạch toán quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp Tổ chức hạchtoán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ mậtthiết với nhau Đó là giai đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theotừng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, và giai đoạn tính giá thành sảnphẩm, chi tiết sản phẩm theo đơn vị tính giá thành Việc phân chia này xuất phát
từ yêu cầu quản lí, kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanhnội bộ và theo đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm qui trình công nghệ củadoanh nghiệp xây lắp Có thể nói, việc phân chia quá trình hạch toán thành haigiai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán
Trang 17chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị - tức
là đối tượng tính giá thành
Như vậy, xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác địnhgiới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chiphí
Sản xuất xây lắp có quy trình công nghệ phức tạp và loại hình sản xuất đơnchiếc, thường phân chia thành nhiều khu vực, bộ phận thi công Mỗi hạng mụccấu tạo vật chất khác nhau và đều có thiết kế riêng, giá dự toán riêng Mặt khác,đơn vị tính giá thành có thể là công trình, hạng mục công trình hoàn thành haytừng giai đoạn công nghệ, nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thường làcác công trình, hạng mục công trình, từng đơn đặt hàng, từng giai đoạn côngviệc
1.4.2 Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên trongtoàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm của kế toán Bộ phận kế toán giáthành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại sản phẩm
và lao vụ mà doanh nghiệp sản xuất, tính chất sản xuất và cung cấp sử dụngcủa chúng để xác định đối tượng tính giá thành cho thích hợp Xác định đốitượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, côngviệc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị
Trong ngành xây dựng cơ bản, do đặc điểm sản xuất mang tính đơn chiếc,mỗi sản phẩm đều phải có dự toán và thiết kế riêng nên đối tượng tính giáthành sản phẩm xây lắp thường là các công trình hay các khối lượng công việc
có thiết kế và dự toán riêng đã hoàn thành Việc xác định đối tượng tính giáthành là căn cứ để kế toán giá thành tổ chức các bảng tính giá thành, lựa chọnphương pháp tính giá thành thích hợp, tổ chức công việc tính giá thành hợp lí,phục vụ cho việc quản lí và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành vàtính toán hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 181.4.3 Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng giá thành sản phẩm XL
Đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết, tổ ghichép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết cho từng hạng mục công trình Cònviệc xác định đối tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chitiết tính giá thành sản phẩm và tổ chức công tác giá thành theo đối tượng tính giáthành
Đó là những đặc điểm khác nhau song giữa chúng lại có một mối quan hệmật thiết với nhau Về bản chất chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp số liệusản xuất trong kỳ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm đã hoàn thành Trong DNxây lắp chúng thường phù hợp với nhau
1.5 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong DNXL
1.5.1 Các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
1.5.1.1 Phương pháp trực tiếp
Được áp dụng với những chi phí trực tiếp, là những chi phí chỉ liên quanđến một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Khi có chi phí phát sinh thì căn cứvào các chứng từ gốc ta tập hợp từng chi phí cho từng đối tượng sản xuất
Trường hợp doanh nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí là công trìnhhay hạng mục công trình thì hàng tháng căn cứ vào các chi phí phát sinh có liên quanđến công trình hay hạng mục công trình nào thì tập hợp chi phí cho công trình đó
1.5.1.2 Phương pháp phân bổ gián tiếp
Được áp dụng với những chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều đối tượng
kế toán chi phí sản xuất Vì vậy phải xác định theo phương pháp phân bổ giántiếp
Để phân bổ cho các đối tượng phải chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ sốphân bổ chi phí
Công thức: H = C/T
Trong đó: H: Hệ số phân bổ chi phí
C: Tổng chi phí cần phân bổ T: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ
Trang 19Mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng tính theo công thức sau:
Ci = H x Ti Trong đó: Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i
Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i
Trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay côngtrường thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trường Cuối
kỳ tổng số chi phí tập hợp phải được phân bổ cho từng công trình, hạng mụccông trình để tính giá thành sản phẩm riêng
1.5.2 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xây lắp là những chi phí vật liệu chính,vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyểntham gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện vàhoàn thành khối lượng xây lắp như: sắt thép, gạch, đá, vôi, cát, xi măng, cốt pha,
đà giáo, Nó không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và sửdụng cho quản lý đội công trình Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm
tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp
Giá trị hạch toán được tính vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế ngườibán cung cấp còn có chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập khohay xuất thẳng tới công trình
Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, hạng mục công trình nào thìphải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từgốc, theo giá thực tế vật liệu và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng
Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng kế toántập hợp chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp cho các đối tượng thìphải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đốitượng có liên quan Tiêu thức phân bổ có thể là định mức tiêu hao, chi phínguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán,
Tổng CPVLTT cần phân bổ trong kỳ = Giá trị NVLTT còn lại đầu kỳ + Giá trị
NVLTT xuất dùng cho SX trong kỳ - Giá trị NVLTT còn lại cuối kỳ - Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có)
Trang 20Để phản ánh các chi phí nguyên vật liệu phát sinh liên quan trực tiếpđến việc xây dựng hay lắp đạt các công trình, kế toán sử dụng tài khoản 1541 -Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Tài khoản này được mở chi tiết theo từng côngtrình xây dựng, lắp đặt như: công trình, hạng mục công trình, các giai đoạn côngviệc, khối lượng xây lắp có dự toán riêng
Sơ đồ 1.1: Trình tự kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.5.3 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho sốngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xâylắp, công nhân phục vụ xây lắp kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật tư trongphạm vi mặt bằng xây lắp và công nhân chuẩn bị thi công, thu dọn hiện trườngthi công, không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài Một điểmkhác biệt của ngành kinh doanh xây lắp so với các ngành sản xuất khác là các
Để tinh giá thành CT
S DĐK
TK 152
Kết chuyển CP NVL TT
nhập lại kho NVL dùng không hết
Xuất kkkkkkkh
Trang 21Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 1542 Chi phí nhân công trực tiếp Tài khoản này được mở chi tiết theo từng côngtrình, hạng mục công trình, giai đoạn công việc,
-Kết chuyển CPNCTT
Tiền lương công nhân Thuê ngoài
Sơ đồ 1.2: Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp
1.5.4 Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công gồm những chi phí về vật tư, lao động, nhiênliệu động lực, cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng xây lắp bằngmáy Chi phí sử dụng máy bao gồm cả chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời.Chi phí thường xuyên là những chi phí hàng ngày cần thiết cho việc sửdụng máy thi công như: tiền khấu hao, tiền thuê về máy, nhiên liệu động lực, Chi phí tạm thời là những chi phí có liên quan đến việc tháo lắp, chạy thử, vậnchuyển, máy thi công và những công trình tạm thời phục vụ sử dụng máy thi công
Để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếpcho hoạt động xây, lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ
SDĐKTiền lương công nhân
trong biên chế
Để tính giá thành công trình
Trang 22Sơ đồ 1.3: Trình tự kế toán chi phí sử dụng máy thi công
1.5.5 Hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung trong từng đội xây lắp bao gồm lương nhân viênquản lí đội, trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tỉ lệqui định trên tổng số lương công nhân viên chức của đội; khấu hao tài sản cốđịnh dùng chung cho đội; chi phí dịch vụ mua ngoài …
Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài khoản
1547 - Chi phí sản xuất chung, mở chi tiết theo từng bộ phận xây lắp
Trang 23Tiền lương và các khoản trích theo
tiền lương theo quy định
TK 142, 242
Phân bổ công cụ, dụng cụ
TK 214
Trích khấu hao TSCĐ
Sơ đồ 1.4: Trình tự kế toán chi phí SXC
1.5.6 Tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trong các DNXL
Trang 24Kế toán sử dụng tài khoản 632 để tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ choviệc tính giá thành sản phẩm xây lắp, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ, lao vụkhác trong các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp Tài khoản này mở cho từngcông trình, hạng mục công trình xây lắp, các giai đoạn công việc của hạng mụccông trình hoặc nhóm các hạng mục công trình và theo từng nơi phát sinh chiphí
Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp
Kết chuyển giá vốn CT
Sơ đồ 1.5: Tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp
1.5.7 Đánh giá sản phẩm dở dang trong DN xây lắp
Trang 25Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạngmục công trình dở dang chưa hoàn thành hoặc bên chủ đầu tư chưa nghiệm thu,chấp nhận thanh toán.
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuấttrong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định.Muốn đánh giá một cách chính xác trước hết phải tổ chức kiểm kê chính xáckhối lượng công tác xây lắp hoàn thành theo quy ước ở từng giai đoạn thi công
để xác định khối lượng công tác xây lắp dở dang, phát hiện tổn thất trong quátrình thi công
Chất lượng công tác kiểm kê khối lượng xây lắp có ảnh hưởng đến tínhchính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành Do đặc điểm củasản phẩm xây lắp có kết cấu phức tạp nên việc xác định đúng mức độ hoànthành của nó rất khó Khi đánh giá kế toán cần phải kết hợp chặt chẽ với bộphận kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động để xác định độ hoàn thành của khốilượng xây lắp dơ dang một cách chính xác Dựa trên kết quả kiểm kê sản phẩm
dở dang đã tập hợp được kế toán tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở
Đối với các doanh nghiệp thường áp dụng một trong các phương phápđánh giá sản phẩm sau:
1.5.7.1 Phương pháp đánh giá theo chi phí thực tế
Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dangcuối kỳ được xác định theo công thức:
chi phí sản Tổng chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực xuất dở dang = tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất cuối kỳ chung thực tế phát sinh
1.5.7.2 Phương pháp đánh giá theo tỷ lệ hoàn thành tương đương
Chủ yếu áp dụng đối với việc đánh giá sản phẩm làm dở của công tác lắpđặt máy móc thiết bị Nó được xác định bởi công thức:
Chi phí chi phí sản xuất chi phí sản xuất Giá thành dự
Trang 26Sản xuất dở dang đầu kỳ + phát sinh trong kỳ toán của khối
dở dang = x lượng công
cuối kỳ Giá thành dự toán Giá thành dự toán việc dở dang
của kl cv hoàn thành + của kl cv ddck cuối kỳ
1.5.7.3 Phương pháp đánh giá theo chi phí định mức
Theo phương pháp này chi phí khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ đượcxác định như sau:
Chi phí sản Khối lượng công Định mức chi phí sản xuất
xuất dở dang = việc thi công xây x ( NVLTT, NCTT, CP sử
cuối kỳ lắp dở dang dụng MTC, CP SXC )
Ngoài ra đối với một số công việc sửa chữa, hoàn thiện hoặc xây dựng cáccông trình có giá trị nhỏ, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng được bên chủđầu tư thanh toán sau khi hoàn thành
Lúc này giá trị sản phẩm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh
từ khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê đánh giá
1.6 Phương pháp tính giá thành trong các DNXL
1.6.1 Phương pháp giản đơn (phương pháp tính trực tiếp)
Phương pháp này được phổ biến rộng rãi trong các doanh nghiệp xây lắphiện nay vì sản xuất thi công mang tính đơn chiếc, đối tượng tập hợp chi phí phùhợp với đối tượng tính Hơn nữa việc sử dụng phương pháp cho phép cung cấpkịp thời các số liệu giá thành cho mỗi kỳ báo cáo và cách tính thì đơn giản, dễhiểu
Theo phương pháp này tập hợp tất cả các chi phí phát sinh trực tiếp chomột công trình hay HMCT từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thực
tế của công trình hay HMCT đó Có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhómhoặc hệ số kinh tế kỹ thuật cho từng công trình, HMCT nhằm tính giá thànhthực tế cho HMCT đó
Trang 27Trong trường hợp công trình, HMCT chưa hoàn thành mà có khối lượngxây lắp hoàn thành bàn giao thì cần phải tính giá thành thực tế.
GTKLXL hthành bàn giao = CPDD đầu kỳ + CP phát sinh trong kỳ - CPDD
Khi đó giá thành thực tế của HMCT:
Z H = G dti x H
Trong đó: H: Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế H = [(TC, TG dt ) x 100%]
G dt : Giá thành dự toán của hạng mục công trình
TC: tổng chi phí thực tế của HMCT
TG dt : Tổng dự toán của tất cả HMCT.
1.6.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Áp dụng cho các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng, đốitượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng Kỳ tính giá thành không phù hợp với
kỳ báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành Đối tượng tính giá thành là đơnđặt hàng hoàn thành
Theo phương pháp này hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tậphợp theo từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành thì chi phí sản xuất theo đơn tậphợp được cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng
Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều HMCT, công trình đơn nguyên khác nhauthì phải tính toán, xác định chi phí của từng HMCT, công trình đơn nguyên liênquan đến đơn đặt hàng Những chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng vào HMCT,công trình đơn nguyên thì cần phải phân bổ theo tiêu thức hợp lý
1.6.3 Phương pháp tính theo định mức.
Trang 28Gồm 3 bước:
+ Bước 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm xây lắp.
+ Bước 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức
1.7 Tổ chức hệ thống sổ kế toán
Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán sử dụng để ghi chép, hệ thống
hoá và tổng hợp số liệu từ chứng từ gốc theo một trình tự và phương pháp ghichép nhất định Như vậy, hình thức kế toán thực chất là hình thức tổ chức hệthống sổ kế toán bao gồm số lượng các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổnghợp, kết cấu sổ, mối quan hệ kiểm tra, đối chiếu giữa các sổ kế toán, trình tự vàphương pháp ghi chép cũng như việc tổng hợp số liệu để lập báo cáo kế toán
1.7.1 Hình thức sổ kế toán nhật ký chung
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán NKC là tất cả các nghiệp vụ kinh
tế tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ nhật ký mà trọng tâm là sổ nhật
ký chung theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán của nghiệp vụ
đó Sau đó lấy các số liệu trên các sổ nhật ký để ghi sổ cái theo từng nghiệp vụphát sinh Các sổ kế toán sử dụng cho hình thức này:
- Sổ nhật ký chung, nhật ký thu tiền, nhật ký chi tiền, nhật ký mua hàng,nhật ký bán hàng
- Sổ quỹ tiền mặt, sổ kế toán chi tiết quỹ tiền mặt
Trang 29- Sổ tiền gửi ngân hàng
- Sổ tài sản cố định, sổ theo dõi TSCĐ và công cụ dụng cụ tại nơi sử dụng
- Sổ chi tiết thanh toán với người mua, sổ chi tiết tiền vay, sổ chi tiết bánhàng, sổ chi tiết doanh thu, sổ chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp …
- Sổ cái (dùng cho hình thức kế toán nhật ký chung): sổ cái tài khoản giávốn, sổ cái tài khoản chi phí quản lý doanh nghiệp, sổ cái tài khoản doanh thu …
1.7.2 Hình thức sổ kế toán nhật ký sổ cái
Đặc trưng cơ bản của hình thức nhật ký - sổ cái là các nghiệp vụ kinh tếphát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế(theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất lànhật ký - sổ cái Căn cứ để ghi vào các sổ nhật ký, sổ cái là các chứng từ gốchoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc Sổ kế toán sử dụng cho hình thức này:
- Nhật ký - Sổ cái
- Sổ quỹ tiền mặt, sổ kế toán chi tiết quỹ tiền mặt
- Sổ tiền gửi ngân hàng
- Sổ chi tiết thanh toán với người mua, sổ chi tiết tiền vay, sổ chi tiết bánhàng, sổ chi tiết doanh thu, sổ chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp …
1.7.3 Hình thức chứng từ ghi sổ.
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ là có căn cứ trực tiếp
để ghi sổ kế toán tổng hợp là “chứng từ ghi sổ” việc ghi sổ kế toán tổng hợp baogồm:
- Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Ghi theo trình tự nội dung kinh tế trên sổ cái
Chứng từ ghi sổ do kế toán tổng hợp lập trên cơ sở từng chứng từ gốchoặc bảng tổng hợp các chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế Các
sổ kế toán sử dụng cho hình thức này:
- Chứng từ ghi sổ
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
Trang 30- Sổ cái (dùng cho hình thức kế toán chứng từ ghi sổ)
- Sổ quỹ tiền mặt, sổ kế toán chi tiết quỹ tiền mặt
- Sổ tiền gửi ngân hàng
- Sổ chi tiết thanh toán với người mua, sổ chi tiết tiền vay, sổ chi tiết bánhàng, sổ chi tiết doanh thu, sổ chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp …
1.7.4 Hình thức nhật ký chứng từ
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký-Chứng từ (NKCT): Tập
hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của các tàikhoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các tài khoản đốiứng Nợ Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theotrình tự thời gian với việc hệ thống hoá các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế(theo tài khoản) Kết hợp rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiếttrên cùng một sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép Sử dụng các mẫu
sổ in sẵn các quan hệ đối ứng tài khoản, chỉ tiêu quản lý kinh tế, tài chính và lậpbáo cáo tài chính
Hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ gồm có các loại sổ kế toán sau:
sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và BCTC theo quy định
Trang 31- BÁO CÁO TÀI CHÍNH
- BÁO CÁO KT QUẢN TRỊ
PHẦN MỀM KẾ TOÁN
MÁY VI TÍNH
Trang 32CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT VÀ
XÂY DỰNG HDBC 2.1 Đặc điểm tình hình chung công ty cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển :
• Tên Công ty: Công ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC
• Trụ sở chính: Phòng 706, nhà C7, khu Mỹ Đình I, xã Mỹ Đình, huyện TừLiêm, TP Hà Nội
• Địa chỉ giao dịch: 118 Nguyễn Khánh Toàn, Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội
• Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
• Người đại diện theo pháp luật của công ty là ông Đặng Thạch Giám đốc công ty
Cương-• Ngành nghề kinh doanh : Thi công xây dựng các công trình dân dụng,công nghiệp, giao thông thuỷ lợi
Trang 33Ngay từ khi mới thành lập theo quyết định số 0103022134 do Sở Kế hoạch
và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 24/1/2008, hoạt động sản xuất kinh doanhchủ yếu là các công tác xây lắp thi công, cải tạo, hoàn thiện nội thất các côngtrình cao tầng, khu văn phòng, siêu thị, khách sạn trong thành phố Hà Nội và cáctỉnh thành lân cận Là đối tác tin cậy của Khách sạn Metropole, và tập đoàn siêuthị Big C kể từ khi thành lập đến nay Bên cạnh đó Công ty HDBC cũng là nhàthầu tin cậy trong việc thi công hoàn thiện các công trình, văn phòng, phòngtrưng bày cho rất nhiều các đơn vị đối tác khác
Từ năm 2008 đến nay công ty cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC đã thựchiện nhiều hợp đồng trong việc cải tạo, hoàn thiện nội thất Khách sạnMetropole; Cải tạo hoàn thiện nội thất cho siêu thị Big C The Garden, Big CViệt Trì, Big C Long Biên, Big C Mê Linh, Big C Việt Trì; Hoàn thiện các nhàmẫu dự án Ciputra Hà Nội; Hoàn thiện tòa nhà khu tập thể dục thẩm mỹCalifornia 88 Láng Hạ - Đống Đa - Hà Nội; Hoàn thiện nội thất Tầng 12, TTTM
34 Cửa Nam làm phòng giao dịch trang sức Vietinbank Showroom của Công tyTNHH MTV Vàng bạc đá quý; Hoàn thiện hạng mục “Xây trát + ốp lát, láng”công trình Trung tâm thương mại giải trí và thể thao thuộc dự án “ Khu đô thịsinh thái Vincom Village…
Là một doanh nghiệp mới thành lập, thời gian chưa dài, nhưng bằng sự lựachọn sáng suốt cho hướng đi của mình, Công ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựngHDBC đã dần khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường.Tình hình kết quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây như sau :
Trang 34BAN GIÁM ĐỐC CÔNG TY
PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN PHÒNG TỔ CHỨC – HÀNH CHÍNH PHÒNG KẾ HOẠCH – KỸ THUẬT
Đội sản xuất Đội sản xuất Đội sản xuất Đội sản xuất Đội sản xuất
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC:
Công ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC thực hiện việc tổ chức quản lýtheo kiểu một cấp, đứng đầu là Giám đốc dưới là phó giám đốc, các phòng banchức năng và các đội sản xuất trực thuộc Mô hình này được thực hiện qua sơ đồsau:
Ghi chú:
Quan hệ tham mưu giao việc
Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
Quan hệ kiểm tra giám sát
Sơ đồ 2.1 : Tổ chức bộ máy quản lý công ty
− Ban giám đốc của công ty bao gồm:
• Giám đốc Công ty : Do Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty bổ nhiệm, trực tiếpđiều hành Công ty, chịu trách nhiệm trước cổ đông và pháp luật về mọi hoạtđộng của Công ty
Trang 35• Phó giám đốc điều hành :Có 2 người thay mặt giám đốc quản lý và điều hànhmọi hoạt động của Công ty.
− Phòng Tài chính Kế toán : Có 4 người đảm nhiệm các công việc tài chính
-Kế toán, thống kê, thủ quỹ, tổ chức hạch toán kinh tế nội bộ của Công ty theo từngtháng, quý theo đúng chính sách của Nhà nước và pháp luật về kinh tế Theo dõithanh quyết toán các hợp đồng kinh tế và những công việc khác được Giám đốc
giao.
− Phòng Tổ chức - Hành chính : Có 1 người giúp cho Giám đốc Công ty trong
việc thực hiện tổ chức quản lý, tuyển dụng, điều phối nhân lực đáp ứng nhu cầuthực hiện kế hoạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, kiểm tra, đôn đốc công việcbảo vệ và các việc khác được giám đốc giao
− Phòng Kế hoạch – kỹ thuật: Có 3 người giúp giám đốc Công ty lập kế hoạch
sản xuất kinh doanh, điều hành quản lý vật tư thiết bị cơ giới, máy móc thiết bịphục vụ thi công và Có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, giám sát về kỹ thuật, chấtlượng các công trình đã và đang thực hiện, đề ra các biện pháp, sáng kiến kỹthuật, cải tiến biện pháp thi công, công tác an toàn lao động và các hoạt độngkhoa học kỹ thuật khác
− Các đội sản xuất: Trực tiếp thi công và hoàn thiện công trình theo sự phân
công của tổ trưởng
2.1.3.Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của công ty cổ phần kỹ thuật và xây
dựng HDBC:
Lĩnh vực kinh doanh của Công ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC nhưsau - Thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông thuỷlợi và các công trình điện 35kw
- Kinh doanh vật liệu xây dựng
- Tư vấn và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực xây dựng
- Tư vấn đầu tư, và quản lý dự án, lập báo cáo nghiên cứu khả thi ( không baogồm tư vấn pháp luật và tài chính.)
Trang 36- Tư vấn đấu thầu và lập hồ sơ mời thầu.
- San lấp mặt bằng, phá dỡ công trình và xử lý móng công trình xây dựng
2.1.4.Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC
Với chức năng chủ yếu là thi công các công trình xây dựng dân dụng, côngnghiệp vì vậy hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp của Công ty mang đặcđiểm của nền sản xuất cơ bản Do đó, nó có sự khác biệt so với các ngành sảnxuất vật chất khác ở chỗ chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm là công trình hoặc từnghạng mục công trình đã hoàn thành, mỗi công trình được thiết kế theo kỹ thuậtriêng, có giá trị dự toán riêng và một thời điểm xác định Tuy nhiên, hầu hết cáccông trình đều phải tuân thủ quy trình công nghệ để đảm bảo an toàn và chấtlượng công trình
Quy trình sản xuất thi công nào cũng đều phải tiến hành qua các giai đoạn:
- Trước tiên, Công ty tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường để xác địnhđược nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh sản phẩm của Công ty mình nếu thấyphù hợp thì gửi hồ sơ dự thầu đến chủ đầu tư
- Tuỳ theo quy mô, tính chất của dự án đưa ra các phương án tối ưu nhằm đạtđược cơ hội cao nhất là trúng thầu
- Sau khi hai bên cùng thống nhất thì tiến hành ký hợp đồng
- Sau khi hợp đồng được ký thì đi vào giai đoạn chuẩn bị và được phân côngcông việc cho các phòng ban:
+ Lập dự án, phương án thi công, kế hoạch sản xuất
+ Chuẩn bị vốn, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu
+ Lập các biện pháp an toàn và trang bị bảo trợ lao động
+ Giải phóng mặt bằng, chuẩn bị lán trại…
- Khi mọi công việc đã sẵn sàng và theo yêu cầu của hợp đồng thì tiếnhành thi công xây lắp; Kiểm tra thực hiện hợp đồng; Quản lý kỹ thuật, chấtlượng thiết bị và chất lượng xây dựng
Trang 37TIẾP THỊ ĐẤU THẦU
THAM GIA ĐẤU THẦU VÀ THẮNG THẦU
KÝ HỢP ĐỒNG
LẬP DỰ ÁN, PHƯƠNG ÁN THI CÔNG,KẾ HOẠCH SẢN XUẤT CHUẨN BỊ VỐN, THIẾT BỊ, CÔNG NGHỆ, NGUYÊN LIỆUCÁC BIỆN PHÁP AN TOÀN VÀ TRANG BỊ BẢO TRỢ LAO ĐỘNGGIẢI PHÓNG MẶT BẰNG, CHUẨN BỊ LÁN TRẠI
TIẾN HÀNH THI CÔNG BÀN GIAO,NGHIỆM THU CÔNG TRÌNH
THU HỒI VỐN
- Giai đoạn kết thúc xây dựng, bàn giao, nghiệm thu công trình đưa vào khai thác sử dụng khi đã xây lắp hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hành đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng
- Sau khi bàn giao công trình thì chủ đầu tư thanh toán vốn đầu tư, chỉ giữlại 3%-5% giá trị xây lắp Tối thiểu sau 24 tháng bảo hành công trình phải thanh toán nốt Tiền bảo hành công trình được tính lãi xuất như tiền gửi ngân hàng
Sơ đồ 2.2 : Quy trình sản xuất vàthi công xây dựng
Trang 38THỦ QUỸ
KẾ TOÁN TRƯỞNG
2.1.5.Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty Cổ phần Kỹ thuật và Xây dựng HDBC
2.1.5.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC
Công ty Cổ phần kỹ thuật và xây dựng HDBC tổ chức bộ máy kế toán theohình thức vừa tập trung vừa phân tán, với hình thức này phòng Kế toán Công ty
là một bộ máy kế toán duy nhất tại đơn vị, thực hiện tất cả các giai đoạn hạchtoán ở mọi phần hành kế toán Hàng tháng, các chứng từ, báo cáo được chuyển
về phòng kế toán để xử lý và tiến hành các công việc kế toán Phòng kế toán củaCông ty gồm 4 người, kế toán Trưởng là người đảm bảo sự thống nhất có tínhchuyên môn hoá cao và kế toán viên theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,vào sổ và tính toán đảm bảo chính xác:
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy kế toán
- Kế toán Trưởng: có nhiệm vụ tổ chức bộ máy kế toán của công ty, đảm bảo bộmáy gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả Kế toán trưởng tổ chức và kiểm tra việcghi chép ban đầu, chấp hành chế độ báo cáo thống kê, kiểm kê định kỳ, tổ chứcbảo quản hồ sơ tài liệu kế toán theo chế độ lưu trữ, vận dụng sáng tạo, cải tiếnhình thức và phương pháp kế toán ngày càng hợp lý, chặt chẽ với điều kiện củacông ty, kết hợp các phòng ban lập báo cáo kế hoạch về tài chính, kế hoạch vềsản xuất, kế hoạch giá thành và tín dụng, theo dõi tiến độ thi công và quá trìnhthực hiện các hợp đồng kinh tế để cấp phát và thu hồi vốn kịp thời, chịu tráchnhiệm chính trong việc lập báo cáo tài chính theo chế độ hiện hành
Trang 39- Kế toán tổng hợp: Hàng ngày tiến hành nhập số liệu vào máy theo trình tựthời gian Cuối kỳ kiểm tra đối chiếu tất cả các kế toán phần hành, tập hợp chiphí tính giá thành sản phẩm của công trình, khoá sổ kế toán cuối kỳ, lưu chứng
từ kế toán và làm các báo cáo quyết toán
- Kế toán thanh toán : Tính toán các khoản phải nộp, phải trả Báo có, báo nợ
và làm nhiệm vụ thanh toán tất cả các khoản phát sinh đến công nợ phải thu,phải trả trong nội bộ đơn vị và với các đơn vị khác Hàng tháng tính thuế đầuvào được khấu trừ và thuế đầu ra phải nộp NSNN, định kỳ lập báo cáo thuế.Theo dõi tình hình thanh toán giữa đơn vị với người bán để lập các báo cáo quảntrị, báo cáo tài chính liên quan Theo dõi tiền gửi ngân hàng
- Thủ quỹ: Quản lý và theo dõi tình hình thu- chi tiền mặt tại quỹ Công tytrên cơ sở các chứng từ hợp pháp, hợp lệnh hàng ngày, lập báo cáo quỹ số dư tồnquỹ hàng ngày
2.1.5.2 Đặc điểm tổ chức hệ thống kế toán
Hiện nay công ty đang áp dụng chế độ Kế toán Việt Nam theo quyết định
số 48/2006/QĐ– BTC ngày 14/09/2006 của Bộ Tài chính
- Niên độ kế toán: Từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 hàng năm
- Đơn vị tiền tệ hạch toán: công ty sử dụng Việt Nam đồng
- Công ty nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: phương pháp kế khai thường xuyên
- Phương pháp tính giá thành: Phương pháp giản đơn
- Phương pháp tính thuế GTGT: phương pháp khấu trừ
- Tính giá vốn hàng nhập kho theo trị giá thực tế
- Trị giá vốn hàng xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh
- Phương pháp khấu hao áp dụng: khấu hao theo đường thẳng
Là đơn vị kinh doanh có quy mô , hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nêncoongn ty có nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh Xuất phát từ đặc điểm sản xuấtkinh doanh của công ty là khối lượng nghiệp vụ phát sinh nhiều nên công ty đã
áp dụng hình thức sổ kế toán “Nhật ký chung”
Trang 40Trình tự luân chuyển chứng từ và tính giá thành sản phẩm ở công ty được khái quát như sau:
- Hàng tháng hoặc quý, kế toán đội phải tập hợp toàn bộ chứng từ : Phiếu xuấtkho, biên bản giao nhận vật tư, hợp đồng giao khoán, bảng chấm công, biên bảnthanh lý hợp đồng, bảng trích khấu hao TSCĐ… gửi lên phòng kế toán Căn cứvào chứng từ gốc này, kế toán công ty kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của cácchứng từ đó đồng thời tiến hành phân loại chứng từ
- Căn cứ vào các chứng từ trên, kế toán định khoản ghi vào Nhật ký chung, cácchứng từ liên quan đến đối tượng cần thiết phải hạch toán chi tiết để ghi vào sổchi tiết các TK 1541,1542,1543,1547,632
- Căn cứ vào các định khoản kế toán đã ghi trên sổ Nhật ký chung, kế toán tiếnhành chuyển số liệu vào sổ Cái các TK 1541,1542,1543,1547,632 mỗi tài khoảnnày đều được mở riêng một sổ Cái
- Cuối kỳ, căn cứ vào số liệu trên sổ chi tiết các TK trên, kế toán tiến hành lậpbảng tổng hợp chi tiết các TK 1541,1542,1543,1547,632 Đồng thời lập bảngtổng hợp chi phí và tính giá thành
- Cuối kỳ, căn cứ vào số liệu trên sổ Cái, kế toán lập bảng cân đối số phát sinhcác TK để kiểm tra và theo dõi số phát sinh, số dư của các tài khoản đồng thờighi các bút toán điều chỉnh Từ đó, kế toán căn cứ vào số liệu trên bảng cân đốitài khoản và bảng tổng hợp chi tiết để lập báo cáo tài chính