1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số ý kiến về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới góc độ hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

5 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 280,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chất lượng tăng trưởng, phân tích thực trạng chất lượng tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo hướng hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Trang 1

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ HIỆU QUẢ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ

Đỗ Đức Bình 1 , Nguyễn Tiến Long 2*

1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

2 Trường ĐH Kinh tế & QTKD - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Qua 25 năm đổi mới, nhờ có đổi mới cơ chế chính sách và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học công nghệ, mặc dù trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng dương Cụ thể, thời kỳ 2006 -

2010 bình quân tăng trưởng 7%/năm (trong đó 2008: 6,23%; 2009: 5,32% và năm 2010: 6,78%) Tuy nhiên, số lượng tăng trưởng của nền kinh tế tăng lên nhưng chưa chú trọng đến chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao Bài viết trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chất lượng tăng trưởng, phân tích thực trạng chất lượng tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế theo hướng hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam

Từ khoá: Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, nền kinh tế

QUAN NIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ*

Cho đến nay, đã có nhiều quan điểm khác

nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế

Chẳng hạn, nếu tiếp cận từ “cơ cấu ngành

kinh tế”, thì chất lượng tăng trưởng kinh tế là

cơ cấu kinh tế tối ưu và chuyển dịch cơ cấu

kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả Nếu từ

góc độ “hiệu quả”, chất lượng tăng trưởng

kinh tế được hiểu là năng lực cạnh tranh của

nền kinh tế, của doanh nghiệp hoặc của hàng

hóa sản xuất trong nước Tổng quát hơn, theo

quan điểm một số nhà kinh tế học như G

Beckeer, R.Lucas, J.Stiglitz, thì cùng với

quá trình tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng

được biểu hiện tập trung ở 04 tiêu chuẩn chủ

yếu, đó là:

1) Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cao bảo

đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng dài

hạn và tránh được những biến động kinh tế từ

bên ngoài;

2) Tăng trưởng đi kèm với phát triển môi

trường bền vững;

3) Tăng trưởng hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu

quả quản lý của Nhà nước, đồng thời quản lý

Nhà nước hiệu quả sẽ thúc đẩy tăng trưởng ở

tỷ lệ cao hơn;

4) Tăng trưởng phải đạt mục tiêu cải thiện

phúc lợi xã hội và giảm được số người

đói nghèo

*

Tel: 0912485659, Email: nguyentienlong@tueba.edu.vn

Tuy nhiên, trên thực tế, tùy thuộc vào điều kiện và gắn với từng thời kỳ phát triển nhất định của mình, mà từng quốc gia đã có những cách tiếp cận khái niệm về chất lượng tăng trưởng khác nhau Dù lựa chọn cách tiếp cận khái niệm về tăng trưởng như thế nào, nhưng theo chúng tôi, việc lựa chọn mô hình phát triển là hết sức quan trọng, phải xem xét đồng thời cả hai nhóm chỉ tiêu số lượng và chất

lượng tăng trưởng, nhưng trong đó phải thực

sự coi trọng các chỉ tiêu chất lượng tăng trưởng (04 yếu tố với tư cách là 04 tiêu chuẩn nêu ở trên) Nói một cách khác, chất

lượng tăng trưởng phải được thể hiện ở năng suất, hiệu quả của các yếu tố đầu tư, phải đi liền với tính hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, bao gồm cả các yếu tố đầu vào như việc quản lý và phân bổ các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, lẫn các kết quả đầu ra của quá trình sản xuất với chất lượng cuộc sống được cải thiện, các sản phẩm đầu ra được phân phối đảm bảo tính công bằng và góp phần bảo vệ và ổn định môi trường sinh thái

KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Như chúng ta đều biết, ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới (từ nửa cuối của những năm 80 của thế kỷ trước), đất nước ta

đã có những thay đổi khá ngoạn mục từ một

Trang 2

nước nhiều năm nông nghiệp tăng trưởng âm

(phải nhập khẩu một lượng lương thực không

nhỏ hàng năm) đã chuyển sang một nước xuất

khẩu lương thực lớn đứng thứ hai thế giới

Trong 25 năm đổi mới, mặc dù thế giới đã trải

qua hai cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính

trầm trọng (bắt đầu vào năm 1997 và năm

2008) gây suy thoái, suy giảm cao nền kinh tế

trên toàn cầu, nhưng nền kinh tế Việt Nam

liên tục trong các năm đạt tăng trưởng dương

Cụ thể là:

- Thời kỳ 1986 -1990 bình quân tăng trưởng

3,9%/năm;

- Thời kỳ 1991 -1995 bình quân tăng trưởng

8,2%/năm;

- Thời kỳ 1996 - 2000 bình quân tăng trưởng

6,7%/năm;

- Thời kỳ 2001 - 2005 bình quân tăng trưởng

7,5%/năm;

- Thời kỳ 2006 - 2010 bình quân tăng trưởng

7%/năm (trong đó 2008:6,23%; 2009: 5,32%

và năm 2010: 6,78%)

Có được thành tích trên là do nhiều nguyên

nhân, nhưng trong đó phải kể đến sự tác động

tích cực của quá trình chuyển đổi sang nền

kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập kinh tế

quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá

toàn diện và vững chắc Chính chuyển dịch cơ

cấu kinh tế đã làm thay đổi cấu trúc của nền

kinh tế, chuyển dịch hàng triệu người từ khu

vực nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp

và dịch vụ (trước đổi mới cơ cấu kinh tế phải

xây dựng là công – nông nghiệp – hiện đại,

nay cơ cấu kinh tế phải hướng tới là công –

nông nghiệp – dịch vụ, trong đó, công nghiệp

và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong

GDP, còn nông nghiệp ngày càng giảm)

Mặc dù đạt được những thành tựu tăng trưởng

được phản ánh qua các con số kể trên, nhưng

có thể khẳng định rằng thời gian qua Việt

Nam mới chỉ chú ý nhiều đến tăng trưởng về

lượng (theo chiều rộng), mà chưa chú trọng

đến chất lượng tăng trưởng, hiệu quả tăng

trưởng (tức tăng trưởng kinh tế theo chiều

sâu) Trên thực tế, tăng trưởng của ta đã bộc

lộ không ít bất cập làm chất lượng tăng

trưởng thấp, không hiệu quả Cụ thể là tăng

trưởng chủ yếu dựa vào thâm dụng vốn, tài nguyên và lao động Tăng trưởng không đi liền với hiệu quả, gây nhiều bất ổn trong xã hội và hủy hoại môi trường sinh thái Chính các vụ việc gây hủy hoại môi trường của một

số công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

và những “kẽ hở lớn”, sự buông lỏng trong quy trình kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp đang tiếp tục đặt ra vấn đề cấp thiết phải coi trong tiêu chí đảm bảo môi trường là yếu tố quan trọng nhất của chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện tại và tương lai

Trong năm 2010, mặc dù tình hình quốc tế và trong nước có nhiều khó khăn và bất ổn, nhưng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích quan trọng và không được phép quá say mê, thổi phồng các thành tích đã đạt được Theo báo cáo của Chính Phủ, có 16/21 chỉ tiêu đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức so với Nghị quyết của Quốc hội Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng vẫn chưa cao, còn thiếu tính bền vững; tăng trưởng kinh tế nhưng chưa gắn chặt với nâng cao đời sống nhân dân – đây là một thực tế chưa mấy được cải thiện Lạm phát cả năm ở mức gần 12% Tăng trưởng kinh tế nhưng chỉ số ICOR rất cao Điều đó có nghĩa là, đầu tư kém hiệu quả (trung bình phải bỏ ra 10 đồng vốn mới được

1 đồng tăng trưởng Có lẽ ít nước trên thế giới

có chỉ số ICOR cao như Việt Nam – theo Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 14/01/2011)

Từ thực tế này, chúng tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta phải có sự thay đổi mang tính “đột phá”, “cách mạng” về tư duy, nhận thức đối với tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế; phải thay đổi mô hình tăng trưởng để đảm bảo tính bền vững trong phát triển Kiên quyết chấm dứt tư duy, quan điểm muốn GDP tăng cao thì cứ khai thác và bán tài nguyên đi; phải thực sự nghiêm túc và khoa học trong việc cân nhắc, lựa chọn giữa

ra sức triển khai các dự án khai thác tài nguyên khoáng sản hay giữ lại đất rừng, đất ruộng để người dân sinh sống Hoặc phải chặt phá hàng nghìn hecta rừng để làm thủy điện hơn là giữ rừng bảo vệ môi trường sinh thái Theo chúng tôi, đã đến lúc không được phép

đề cao “tốc độ” tăng trưởng mà phải là coi

Trang 3

trọng chất lượng tăng trưởng (hiệu quả tăng

trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của

nền kinh tế) Muốn vậy, không được phép

chấp nhận sự phát triển bằng mọi giá; phải

“giảm nhiệt” đối với sự đam mê thành tích;

hạn chế và sớm chấm dứt triệt để tình trạng

đẩy mạnh khai thác khoáng sản, dầu thô,… và

khẩn trương đem bán đi Mọi tư tưởng và

hành động trái ngược với xu thế này chỉ là xu

hướng chạy theo tốc độ tăng trưởng, vẫn

ham tốc độ tăng trưởng nhiều hơn chất

lượng tăng trưởng

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ THEO HƯỚNG HIỆU

QUẢ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH

TRANH CỦA NỀN KINH TẾ

Từ thực trạng bất cập của mô hình tăng

trưởng dẫn đến chất lượng tăng trưởng thấp

như đã khái quát ở trên, chúng tôi cho rằng

cần phải nhất quán quan điểm đổi mới chuyển

đổi mô hình tăng trưởng cho thích ứng với

điều kiện và bối cảnh mới nhằm đảm bảo tính

bền vững và ổn định trong phát triển Cụ thể

là phải chuyển mô hình tăng trưởng dựa trên

lao động rẻ, đầu tư vốn và tài nguyên lớn sang

mô hình tăng trưởng mới là dựa trên năng

suất lao động, hiệu quả các yếu tố đầu tư và

năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của

doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam trên

thương trường Để thực hiện thành công sự

chuyển đổi này, trước hết cần thực hiện tốt

một số giải pháp sau:

Nâng cao trình độ nhận thức, đổi mới tư

duy, quan điểm của các cấp lãnh đạo từ

Trung ương đến địa phương, ngành về

chất lượng tăng trưởng

Đề cao chất lượng tăng trưởng và không

ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng

không phải chỉ là “khẩu hiệu”, mà quan

trọng hơn là phải được quán triệt về tư duy,

nâng cao nhận thức và có quan điểm đúng

đắn và nhất quán ngay từ khâu xây dựng

đường lối, chủ trương, chính sách, trong

hoạch định chiến lược, trong kế hoạch dài,

trung và ngắn hạn và đặc biệt là trong thực

thi ở các cấp, ngành, các địa phương, …

Về tư duy, nhận thức và quan điểm cần phải thống nhất và nhất quán rằng một khi định hướng chính sách, mô hình chất lượng tăng trưởng đúng, biện pháp thực thi và tổ chức thực thi tốt, tất yếu sẽ đưa lại kết quả, mục tiêu như mong muốn Trường hợp mô hình, chính sách nâng cao chất lượng tăng trưởng đúng, nhưng biện pháp thực thi, cũng như tổ chức thực hiện không phù hợp hoặc mô hình, chính sách về chất lượng tăng trưởng không đúng, nhưng chậm điều chỉnh một cách khoa học, thậm chí bảo thủ không điều chỉnh, thì cả hai trường hợp đều dẫn đến ách tắc và rốt cuộc là chất lượng tăng trưởng không như mong muốn (hiệu quả tăng trưởng thấp)

Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách đầu tư theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng

Để tạo đà tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng, không quốc gia nào không có nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ ngân sách Nhà nước Bên cạnh tính tích cực và tính hiệu quả

xã hội của nguồn vốn đầu tư này (cần cho quốc kế dân sinh mặc dù có thể kém hiệu quả,

dù phải lỗ, …), trong nhiều năm qua hệ số ICOR của khu vực Nhà nước đã tăng lên nhanh chóng Đầu tư Nhà nước (gồm đầu tư NSNN, đầu tư bằng vốn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư Nhà nước và đầu tư của các DNNN) đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư xã hội, nhưng hiệu quả không cao, đang phân tán và bao trùm ở hầu hết các ngành kinh tế, kể cả các ngành mà khu vực tư nhân có khả năng đầu tư phát triển

Để thực hiện tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả đầu tư công, phải xã hội hoá đầu tư công Theo đó, không nên phân bổ đầu tư Nhà nước vào các ngành, các lĩnh vực mà tư nhân trong nước có thể kinh doanh như các loại dịch vụ thương mại, nhà hàng khách sạn, … phải lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo và tiêu chí để quyết định các dự án đầu tư

Đối với việc thu hút FDI: không nên chỉ chú trọng thu hút FDI, mà phải chú ý đặc biệt đến vốn thực hiện và hiệu quả giải ngân vốn Đã đến lúc phải loại bỏ việc “trải thảm đỏ” trong thu hút FDI, mà việc thu hút FDI phải gắn với

Trang 4

những điều kiện như “công nghệ xanh”, công

nghệ ít tiêu tốn năng lượng, nhiên liệu, …

kiên quyết loại bỏ công nghệ gây ô nhiễm

môi trường, hạn chế sử dụng công nghệ bậc

trung, mà phải coi trọng công nghệ tiên tiến,

hiện đại (công nghệ nguồn) ở những quốc gia

công nghiệp Tối ưu là hướng vào thu hút các

Công ty xuyên quốc gia - TNC thuộc Top 500

TNC mẹ từ các quốc gia có nền kinh tế phát

triển Chỉ có như vậy, Việt Nam mới thực sự

trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 và

mới có điều kiện đảm bảo hơn cho việc tham

gia vào mạng sản xuất, mạng phân phối và

chuỗi giá trị toàn cầu - điều kiện đủ để phát

triển bền vững trong tương lai

Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài

nguyên cho tăng trưởng

Đối với mỗi quốc gia nguồn tài nguyên hữu

hình và vô hình đang sở hữu không phải là vô

hạn Do đó, nếu càng sử dụng và sử dụng kém

hiệu quả, lãng phí thì tất yếu sẽ sớm cạn kiệt

và nhiều khi phải trả giá đắt hơn nhiều so với

lợi ích mang lại Thực tế đã chứng minh nếu

ra sức khai thác và sử dụng không có chiến

lược và không theo quy hoạch đồng bộ, khoa

học chỉ vì mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng thì

chất lượng tăng trưởng thấp và phải trả giá

cho vấn đề xã hội và môi trường Chính vì

vậy, để phát triển bền vững về cả kinh tế, xã

hội và môi trường, cần phải có chiến lược,

quy hoạch một cách khoa học để khai thác và

sử dụng một cách hiệu quả các nguồn tài

nguyên thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta -

đây là một lợi thế mà nhiều quốc gia (như

Nhật Bản, Hàn Quốc, …) không có, hoặc nếu

có nhưng không dồi dào và đa dạng

Tăng số lượng và nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực

Đất nước sẽ vươn cao và hội nhập có hiệu

quả, vững chắc bước vào nền kinh tế khu vực

và toàn cầu, nếu có chiến lược đúng về con

người Đây là nhân tố quyết định nhất đến

nâng cao năng suất lao động và tăng năng

suất lao động một cách bền vững C.Mác đã

từng nhấn mạnh máy móc, thiết bị dù có hiện

đại đến đâu, nhưng nếu không có con người

thì chúng chỉ là những vật chết Tuy nhiên,

không bất cứ ai, mà phải là những con người

với những kiến thức, trình độ ngày càng cao

và ngày càng sản sinh ra công nghệ tiên tiến, hiện đại và đưa những thành tựu này vào cuộc sống vì chính con người Trong thời đại ngày nay, thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, nơi “tri thức đang trở thành nhân tố quan trọng nhất quyết định mức sống - quan trọng hơn đất đai, hơn công cụ sản xuất, hơn lao động” Đội ngũ trí thức (nguồn nhân lực

có chất lượng) - những người sản sinh ra tri thức và ứng dụng sáng tạo tri thức sẽ có đóng góp ngày càng lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, … của quốc gia

Đáp ứng yêu cầu này, trong những năm tới ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục phải có những điều chỉnh và đổi mới có tính đột phá một cách toàn diện và đồng bộ, nhưng không được phép nóng vội, chủ quan, mà phải có lộ trình và bước đi “bài bản” để góp phần cùng đất nước sớm tạo ra một đội ngũ nhân lực đủ

về số lượng, đặc biệt đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng của sự nghiệp CNH, HĐH, của hội nhập, cạnh tranh và phát triển Đội ngũ này không chỉ có tay nghề, học vấn, trình độ khoa học công nghệ, mà còn phải có tính chuyên biệt cao, tính năng động và tính quyết đoán khoa học Muốn vậy, đi liền với việc tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục và đào tạo, đa dạng hoá loại hình, phương thức đào tạo,… cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý và phải kiên quyết “thổi còi” đối với các đơn vị, cơ sở vi phạm để đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng và hiệu quả Bên cạnh đó, phải tạo ra môi trường thuận lợi, thực sự hấp dẫn nhằm tạo điều kiện cho mọi người phát huy sức sáng tạo của mình cho đất nước Cụ thể là phải có cơ chế, chính sách tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ “nhân tài” một cách rõ ràng, minh bạch và hấp dẫn nhằm

sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực có chất lượng của đất nước

KẾT KUẬN

Để có thể phát triển nền kinh tế Việt Nam nhanh và bền vững đáp ứng được yêu cầu của

xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải

Trang 5

có chiến lược phát triển toàn diện Tuy nhiên,

trước mắt cần tập trung nâng cao chất lượng

và hiệu quả của tăng trưởng, tạo đà cho nền

kinh tế để có thể cạnh tranh mạnh mẽ trên thị

trường quốc tế Thực hiện một số giải pháp cơ

bản ở trên sẽ là tiền đề cho nâng cao chất

lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền

kinh tế Việt Nam, để đến năm 2020 Việt Nam

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo

hướng hiện đại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam, năm

2010, Hà Nội

[2] Kinh tế Việt Nam 2009 CIEM, Nxb Tài chính

2010, Hà Nội

[3] Tạp chí kinh tế và phát triển, các số tháng

12/2010 và số tháng 01/2011, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

[4] Thời báo kinh tế Việt Nam, ngày 28/12/2010;

số ra các ngày 4, 14, 18 tháng 01 năm 2011, Hà Nội

SUMMARY

THE QUALITY OF VIETNAM ECONOMIC GROWTH RATE UNDER THE

VIEW POINT OF THE ECONOMIC EFFECTIVENESS AND COMPETITVE

CAPABILITY OF THE ECONOMY

Do Duc Binh 1 , Nguyen Tien Long 2

1 National Economics University

2 Thainguyen University of Economics and Business Administration – TNU

Over 25 years of innovation, with the innovative mechanism and policies, the effectivene appliation of scientific and technical achivements, the Vietnam economy maintained positive growth rate even though it is affected by the word economic crisis In the period of 2006 – 2010, the average growth rate was 7% per year (of which 6.23% in 2008, 5.32% in 2009 and 6.78% in

2010 in detail) However, the growth rate in quantity does not mean the high effetiveness, quality and competitve capability of the economy This paper with the clarification of theoritical basis for economic growth quality analizes the current status of economic growth quality of Vietnam economy and proposes some solutions to improve the economic growth quality in the direction of high effectiveness and competitive capability for the economy of Vietnam

Key words: growth quality, effectiveness, competitive capability, economy

Tel: 0912485659, Email: nguyentienlong@tueba.edu.vn

Ngày đăng: 04/02/2020, 11:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w