1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên trung học phổ thông vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh bắc kạn

113 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt động tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn .... Đánh giá của CBQL, GV về tổ chức triển khai các

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐOÀN THỊ HOA MAI

TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG

KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐOÀN THỊ HOA MAI

TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG

KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN, TỈNH BẮC KẠN

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG THỊ HẰNG

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong các công trình khoa học khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Hoa Mai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nhận thức và triển khai nghiên cứu đề tài, hoàn thành luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phùng Thị Hằng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác

Em xin chân thành cảm ơn các đồng chí đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn, các thầy cô giáo và các em học sinh của các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em có được những thông tin bổ ích phục vụ quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em mong tiếp tục nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019

Học viên

Đoàn Thị Hoa Mai

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 6

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Bồi dưỡng 12

1.2.2 Tổ chức, tổ chức bồi dưỡng 13

1.2.3 Kỹ năng, kỹ năng tư vấn học đường 14

1.2.4 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV 16

1.3 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 17

1.3.1 Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 17

1.3.2 Sở Giáo dục và Đào tạo với vai trò tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV các trường phổ thông 26

Trang 6

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường

cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 32

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỈNH BẮC KẠN 35

2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn 35

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn 35

2.1.2 Tình hình giáo dục THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn 36

2.2 Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát 40

2.3 Thực trạng về hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 41

2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt động tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 41

2.3.2 Nội dung hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 41

2.3.3 Phương pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 43

2.3.4 Hình thức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 45

2.3.5 Thực trạng hoạt động tư vấn học dưỡng của GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 46

2.3 Thực trạng về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 51

2.3.1 Thực trạng lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 51

2.3.2 Thực trạng tổ chức triển khai các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 52

2.3.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 55

2.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 56

Trang 7

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường

cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 58

2.5 Đánh giá chung về thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 60

2.5.1 Ưu điểm 60

2.5.2 Hạn chế 60

Tiểu kết chương 2 62

Chương 3 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỈNH BẮC KẠN 63

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 63

3.1.1 Nguyên tắc về mặt pháp lý 63

3.1.2 Đảm bảo tính mục tiêu 63

3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 63

3.1.4 Đảm bảo tính hệ thống 64

3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 64

3.2 Các biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV các trường trung học phổ thông vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn 65

3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, GV về tầm quan trọng của việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn 65

3.2.2 Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng để lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn 69

3.2.3 Tổ chức xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên phù hợp với thực tiễn các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn 71

3.2.4 Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn 73

3.2.5 Tăng cường hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn 76

3.2.6 Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên THPT vùng đặc biệt khó khăn 78

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 81

Trang 8

3.4 Khảo nghiệm các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho

GV trung học phổ thông vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn 81

3.4.1 Mục đích 81

3.4.2 Nội dung và cách tiến hành 81

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 82

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Khuyến nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng:

Bảng 2.1 Qui mô phát triển số lượng HS THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc

Kạn trong 3 năm trở lại đây 36 Bảng 2.2 Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh

Bắc Kạn trong 3 năm trở lại đây 37 Bảng 2.3 Kết quả xếp loại học lực của HS THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh

Bắc Kạn trong 3 năm trở lại đây 37 Bảng 2.4 Thống kê về trình độ đào tạo của đội ngũ GV THPT vùng đặc biệt khó

khăn tỉnh Bắc Kạn trong 3 năm trở lại đây 38 Bảng 2.5 Đánh giá của CBQL, GV về sự cần thiết về hoạt động bồi dưỡng kỹ

năng tư vấn học đường cho GV THPT 41 Bảng 2.6 Đánh giá của CBQL, GV về nội dung hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư

vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 42 Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL, GV về phương pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn

học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 44 Bảng 2.8 Đánh giá của CBQL, GV về hình thức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học

đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 45 Bảng 2.9 Khó khăn tâm lý của học sinh THPT vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn 47 Bảng 2.10 Đánh giá của học sinh về hoạt động tư vấn học đường ở các trường

THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn 49 Bảng 2.11 Đánh giá của CBQL, GV về việc lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng kỹ

năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 51 Bảng 2.12 Đánh giá của CBQL, GV về tổ chức triển khai các hoạt động bồi dưỡng

kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 53 Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL, GV về việc chỉ đạo thực hiện hoạt động bồi dưỡng

kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 55 Bảng 2.14 Đánh giá của CBQL, GV về việc kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng

kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 57 Bảng 2.15 Đánh giá của khách thể điều tra về các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi

dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn 58

Biểu đồ:

Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tư

vấn học đường cho GV trung học phổ thông vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn 84

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, trong giáo dục vai trò của những người làm công tác tư vấn học đường ngày càng được coi trọng Nếu chúng ta làm tốt công tác tư vấn học đường sẽ góp phần hạn chế những vấn đề, vụ việc tiêu cực gây nhức nhối xã hội như bạo lực học đường, hay hệ lụy xảy ra khi học sinh ứng xử không chuẩn mực

Để cụ thể hóa nội dung thực hiện công tác tư vấn học đường, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017 về hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông, với mục đích phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường giáo dục

an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường Hỗ trợ học sinh rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội; rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách Giao nhiệm vụ cho các Sở GD&ĐT thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ công tác tư vấn tâm lý học sinh đối với cán bộ, GV kiêm nhiệm, hợp đồng chuyên trách công tác tư vấn tâm lý và các cán

bộ Đoàn, Đội, GV chủ nhiệm và các thành viên khác thực hiện công tác tư vấn tâm lý trong nhà trường

Với sự quan tâm chỉ đạo về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các

Bộ, ban ngành Đoàn thể, công tác tư vấn học đường đã từng bước phát triển rõ rệt và

có đóng góp đáng kể vào việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ trong thời kỳ mới Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các nhà trường chưa

có cán bộ chuyên trách làm công tác từ vấn học đường, đặc biệt là các trường THPT,

có các học sinh đang ở lứa tuổi học sinh phổ thông - giai đoạn có nhiều sự thay đổi về tâm sinh lý, các em có nhiều trăn trở, suy tư, lo lắng và có nhu cầu được hỗ trợ, tư vấn Đó là những vấn đề liên quan đến tâm lý, tình yêu, giới tính, sinh sản, hướng nghiệp… Trong khi đó đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ tư vấn học đường tại các nhà trường chủ yếu là GV một số chuyên ngành như Ngữ văn, Giáo dục công dân, hay

Trang 12

GV dạy Lịch sử, Ðịa lý, cán bộ chuyên trách tại các phòng ban thực hiện kiêm nhiệm,

do đó trình độ năng lực tư vấn, tham vấn của đội ngũ này vẫn còn rất nhiều hạn chế Bên cạnh đó, việc tổ chức bồi dưỡng chưa thường xuyên, tài liệu tập huấn còn chưa đầy đủ, một số cán bộ tập huấn không có nhiều kinh nghiệm thực tế Đặc biệt là những nhà quản lý giáo dục, đội ngũ GV thực hiện kiêm nhiệm công tác tư vấn học đường chưa thực sự hiểu và nhận thức đầy đủ về vấn đề này, họ luôn coi đây là nhiệm vụ kiêm nhiệm nên chưa thực sự quan tâm nhiều và chưa có ý thức tự nghiên cứu, bồi dưỡng về công tác tư vấn học đường

Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, hằng năm Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn đều có chỉ đạo triển khai, thực hiện công tác tư vấn học đường lồng ghép vào kế hoạch chỉ đạo nhiệm vụ năm học Nhưng do tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh khó khăn nhất toàn quốc, trình độ dân trí còn hạn chế, tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 80%, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, xã đặc biệt khó khăn chiếm 49%, có 02 huyện được hỗ trợ áp dụng các cơ chế, chính sách theo qui định tại Nghị quyết 30a/2008/NĐ-CP nên trong quá trình triển khai, thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, thách thức Đồng thời, tại những vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Kạn, đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, do môi trường giao tiếp hạn hẹp, học sinh thường có biểu hiện nhút nhát, tự ti, sống khép mình… Những khó khăn tâm lý này ở các em sẽ được khắc phục dần dần nếu GV có kỹ năng tư vấn tâm lý tốt, biết cách tác động đến các em một cách phù hợp

Là một cán bộ phụ trách trực tiếp về công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo tại

Sở Giáo dục và Đào tạo, chịu trách nhiệm tham mưu và chỉ đạo việc thực hiện công tác bồi dưỡng tư vấn học đường ở địa phương, bản thân tôi luôn trăn trở tìm biện pháp bồi dưỡng đội ngũ GV THPT vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Kạn Xuất

phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Tổ chức Bồi dưỡng kỹ

năng tư vấn học đường cho GV Trung học phổ thông vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn"

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc

Trang 13

Kạn, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT trên địa bàn Tỉnh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn

4 Giả thuyết khoa học

Hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn còn có những hạn chế nhất định như: nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng chưa phù hợp; hiệu quả bồi dưỡng còn thấp… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân thuộc về phía quản lý Nếu đề xuất và thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp tổ chức bồi dưỡng phù hợp với tình hình thực tiễn thì hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn

5.3 Đề xuất biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Về nội dung: Tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường (tư vấn tâm lý học đường) cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, tỉnh Bắc Kạn

6.2 Về địa bàn khảo sát: Tiến hành khảo sát tại 5 trường THPT vùng đặc biệt khó khăn thuộc tỉnh Bắc Kạn: Trường THPT Bộc Bố, THPT Ngân Sơn, THCS&THPT Nà Phặc, THPT Yên Hân, THPT Bình Trung

Trang 14

- Đề tài sử dụng số liệu thống kê về đội ngũ GV, học sinh của Sở GD&ĐT Bắc Kạn trong các năm học: 2016-2017, 2017-2018, 2018-2019

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lý luận, các công trình nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tiễn công tác tổ chức bồi dưỡng GV

thực hiện nhiệm vụ tư vấn, các biểu hiện của hoạt động tư vấn học đường tại các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn

- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện với một số CBQL, GV và học sinh để

thu thập thêm thông tin thực tiễn cho đề tài

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến đối

với CBQL, GV và học sinh về những vấn đề liên quan đến công tác bồi dưỡng, tổ chức bồi dưỡng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho

GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

- Phương pháp chuyên gia: Thông qua các mẫu phiếu và trao đổi trực tiếp để xin

ý kiến chuyên gia về cách xử lý các kết quả điều tra, cách thức thực hiện các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi, tọa đàm; tổ chức các hội thảo,

hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm về quản lí hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

7.3 Các phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng các công thức toán như tính điểm trung bình, tính phần trăm… để xử

lý các kết quả nghiên cứu của đề tài

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận, Khuyến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Trang 15

Chương 1: Cơ sở lí luận về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG

KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

Nghiên cứu về tư vấn và kỹ năng tư vấn học đường có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm, những nghiên cứu này được thể hiện dưới nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu khác nhau

Tâm lý học đường là một nhánh của ngành Tâm lý học được ra đời đầu tiên tại

Mỹ vào đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ 20, tác giả Carl Roger có tầm ảnh hưởng rất lớn, là nhà tâm lý học, tâm lý trị liệu hàng đầu, đưa ngành tư vấn tâm lý lên địa vị quan trọng với phương pháp tư vấn thân chủ trọng tâm và học trò là trung tâm trong tư vấn học đường Theo tác giả, tư vấn học đường trong các nhà trường nhằm lắng nghe, động viên giúp đỡ giải quyết các khó khăn trong học tập và chia sẻ tâm tư tình cảm, giải toả stress, cải thiện môi trường giáo dục, con người nhân ái, nhân văn được tôn trọng Tư vấn học đường bắt đầu được nâng lên từ mục tiêu tập trung phát triển nghề nghiệp sang tập trung vào các vấn đề cá nhân và xã hội của học sinh, sinh viên, song song với sự lớn mạnh của các trào lưu nâng cao pháp quyền xã hội và dân sự ở Mỹ (dẫn theo [14])

Năm 1981, vai trò của hoạt động TVHĐ đã được khẳng định ngay trên trang bìa

số đầu tiên của Tạp chí, John H Borgard: Chúng ta cần một cái gì nhiều hơn để hoạt động TVHĐ không chỉ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu, mà còn đạt được chức năng giáo dục thật sự hơn “Một cái gì đó nhiều hơn chính là nền tảng lý thuyết tiếp cận cho hoạt động của TVHĐ” Tác giả nhấn mạnh vai trò của hoạt động TVHĐ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường THPT (dẫn theo [34])

Những lý thuyết mang tính liên ngành thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau: Khoa học phát triển, khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, đều có tác dụng hỗ trợ cho hoạt động của đội ngũ TVHĐ Với sự tiếp cận mang tính đa chiều này, các TVHĐ sẽ biết được nhiều vấn đề của người học như: Đặc điểm tâm, sinh, lí của học sinh, sự tương tác xã hội của học sinh,

Trang 17

Những lý thuyết đem lại hiệu quả cho công tác TVHĐ là lý thuyết tâm lí - xã hội của con người, thuyết phát triển văn hóa xã hội, thuyết phát triển nhu cầu, có thể khẳng định rằng, hoạt động TVHĐ khá phức tạp Bởi vậy, sự vận dụng một cách linh hoạt các lí thuyết là một yêu cầu cơ bản Các nhà nghiên cứu còn sử dụng các lý thuyết ứng dụng trong giáo dục quản lý, trong công tác tham vấn, tất cả những điều

đó sẽ giúp cho các TVHĐ có điều kiện tiếp cận với học sinh trên nhiều phương diện khác nhau Đồng thời, các TVHĐ cũng cần đặc biệt lưu tâm đến quá trình xã hội hóa

cá nhân người học Quá trình đó liên quan chặt chẽ đến các vấn đề như: Sắc tộc, tôn giáo, giới tính, người đồng tính, (King, 2005, Mc Keweu, 2003) Những vấn đề này

đã trở thành các nhân tố góp phần đa dạng hóa các nhóm học sinh (dẫn theo [39])

Năm 1999, nhà nghiên cứu Hendy cho rằng những lý thuyết phát triển liên quan đến hoạt động của TVHĐ là quá nhiều Ông cũng khẳng định sự đa dạng về lượng ấy nhưng vẫn đưa đến một cách hiểu chung nhất về hoạt động TVHĐ trong nhà trường GV cần có sự vận dụng một cách linh hoạt các lý thuyết đó sao cho phù hợp với các môi trường hoạt động khác nhau (dẫn theo [31])

TVHĐ có vai trò quan trọng đối với sự thành công trong quá trình học tập của học sinh Các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn quan tâm đến việc xây dựng một nền tảng vững chắc để hoạt động TVHĐ có cơ sở hoạt động và hoạt động một cách hiệu quả Tuy nhiên, Hiệp hội TVHĐ Quốc gia Hoa Kỳ, Creamer (2000) đã khẳng định

“Hiện tại vẫn chưa có một lý thuyết chính thống riêng nào cho hoạt động TVHĐ” trong cuốn “Sổ tay cho TVHĐ” Những cách thức mà một TVHĐ cần phải làm để có

thể tương tác hiệu quả với người học, để tạo cho họ một niềm tin, tâm lí mang tính tích cực trong học tập, phát triển bản thân và xã hội đã được Hiệp hội TVHĐ Quốc gia Hoa Kỳ tập trung, làm rõ (dẫn theo [39])

Năm 1953, Hiệp hội các nhà tư vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) tham gia vào APGA- tiền thân của hiệp hội tư vấn tâm lý Hoa Kỳ hiện nay Năm 1962 cuốn sách “The Counselor in a Changing World” của tác giả Wrenn đã định chế hóa các mục tiêu của tư vấn học đường Năm 1964 ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tư vấn học đường (dẫn theo [31])

Cuối những năm 1990, Pat Martin một GV toán học kiêm cố vấn học đường tại Mỹ cùng với tổ chức giáo dục The Trust thiết lập một dự án về tư vấn học đường

Trang 18

chủ yếu nhằm vào việc rút ngắn những khoảng cách, những cản trở đi đến thành công của trẻ em và thanh thiếu niên kể cả những trẻ em da màu, trẻ em song ngữ, trẻ em bị khuyết tật Dự án của Martin tập trung vào tư vấn học sinh, cha mẹ, người giám hộ [dẫn theo 31]

Năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia giành cho các chương trình tư vấn học đường

ra đời và kể từ đó ngành tư vấn học đường được xem như đã hoàn thiện Hiện nay hiệp hội các nhà tư vấn học đường Hoa Kỳ được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho chương trình tư vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới

Trong những năm 80 và 90 của thế kỷ XX, ở các nước châu Âu xu hướng khảo sát hỗ trợ hoạt động tâm lý học đường chỉ được phát hiện và được chú trọng Hiện nay, việc hỗ trợ điều tra tâm lý học đường học sinh, sinh viên nói chung là điều tất yếu mà các trung tâm tư vấn trong các trường học từ bậc tiểu học đến đại học ở các nước châu Âu phải được chú trọng hàng năm, hàng quý Các nghiên cứu về thang

đo và công cụ đánh giá nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đang dần được chú trọng Các công cụ này hỗ trợ rất lớn cho các nhà tư vấn xây dựng mô hình tư vấn, hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của học sinh, sinh viên như McGannon, Carey & Dimmitt (2007)

có nhận định: “Tư vấn học đường có tiềm lực to lớn trong việc giúp học sinh, sinh

viên đạt các tiêu chuẩn cao hơn trong lĩnh vực học đường và cuộc sống điều này phần lớn phụ thuộc và các công cụ đo lường nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý và các phương pháp cải thiện hành vi của học sinh, sinh viên” (dẫn theo [39])

Ở Pháp, Hiệp hội tư vấn định hướng tâm lý Pháp có chức năng hướng dẫn tư vấn viên/nhà tâm lý, trao đổi thông tin, phát triển sự nghiệp tư vấn, tổ chức và tham gia các hội thảo quốc gia về tư vấn và tâm lý Năm 1928, khóa đào tạo tư vấn hướng nghiệp đầu tiên tại Pháp, được tổ chức, sử dụng thử nghiệm Binet, sau đó là các khóa

tư vấn học tập và hướng nghiệp, đến năm 1972 đổi tên là khóa đào tạo tư vấn viên

định hướng, đến năm 1991 được chính thức công nhận bằng tâm lý học [39]

Ở Singapore có mô hình dịch vụ chăm sóc học sinh (Student Care Service - SCS) Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho học sinh các cấp Các nghiên cứu đã cho thấy, nội dung, đặc điểm, biểu hiện, mức độ của nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh khi học sinh có khó khăn về tâm lý

Trang 19

Các nghiên cứu này nói chung đều được ứng dụng hiệu quả trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch chuẩn đoán phòng ngừa và can thiệp sớm trong học đường

Trong tài liệu “Tập huấn tham vấn cơ bản dành cho cộng đồng” của Unicef cũng

đề cập đến vấn đề phân biệt giữa tư vấn và tham vấn, các kỹ năng tham vấn, vai trò của tham vấn trong đời sống cộng đồng

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã nêu được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tư vấn học đường trong trường phổ thông, các tác giả đã đưa ra được khái niệm, các tiêu chí cần có trong tư vấn học đường, tư vấn nghề nghiệp… Tuy nhiên các công trình trên chưa tập trung nghiên cứu các kỹ năng cần có của người GV trong việc nâng cao chất lượng tư vấn học đường trong các trường THPT

1.1.2 Ở Việt Nam

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực tâm lý ở Việt Nam từ thập kỷ 80, việc nghiên cứu kỹ năng tư vấn cũng bắt đầu được quan tâm Nổi bật nhất trong các tài liệu tư vấn là các nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp, có thể kể đến một số nghiên cứu của tác giả: Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thế Tưởng, Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tìm hiểu công cụ đo lường tâm lý của các tác giả nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp

Năm 2003, Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh” được Viện nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với

sự tham gia của nhiều nhà tâm lý, nhà giáo dục và hiệu trưởng các trường có hoạt động hỗ trợ tâm lý để “mổ sẻ” và kêu gọi sự quan tâm của giới chuyên môn cũng như các cơ quan chính phủ trong việc có các chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển các hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường tại Việt Nam Cũng trong thời gian này một số sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học sư phạm Thành phố HCM đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình về tư vấn học đường

Trong những năm 2002 - 2006, tác giả Trần Thị Minh Đức đã công bố khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau có liên quan đến kỹ năng tham vấn tâm lý học đường

Đặc biệt, từ những công trình nghiên cứu của mình tác giả xuất bản cuốn: “Giáo trình

tham vấn tâm lý” (2006) Giáo trình đã hướng dẫn khá tỉ mỉ các nguyên tắc, quy trình,

kỹ năng tham vấn, tư vấn tâm lý học đường Đây là cuốn tài liệu tham khảo quý báu cho các giảng viên, giáo viên các cấp [16]

Trang 20

Năm 2017, tác giả Phùng Thị Hằng với tài liệu bồi dưỡng GV phổ thông “GV

phổ thông với công tác tư vấn học sinh trong trường phổ thông” [19], đã khái quát về

vấn đề tư vấn cho học sinh và nhu cầu tư vấn tâm lý của học sinh theo từng cấp học

Cụ thể như: Khái niệm tư vấn và một số khái niệm liên quan như tham vấn, nhu cầu tư vấn, trị liệu tâm lý, ; Nội dung, nhiệm vụ và hình thức tư vấn cho học sinh theo cấp học; Nguyên tắc cơ bản trong tư vấn cho học sinh; Nhu cầu tư vấn của học sinh hiện nay theo cấp học; Một số phương pháp tìm hiểu nhu cầu tư vấn của học sinh Đặc biệt tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm hiểu nhu cầu tư vấn cho học sinh, để làm được điều này, yêu cầu người làm công tác tư vấn học đường cần có các kỹ năng cơ bản như sau: Kỹ năng quan sát để xác định khó khăn của học sinh trong hoạt động; Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng đặt câu hỏi cho học sinh; Kỹ năng xây dựng phiếu điều tra bằng Anket; Kỹ năng thấu cảm

Tác giả Phùng Thị Hằng và Nguyễn Đỗ Hồng Nhung với chuyên đề “Một số

kỹ năng cơ bản trong tư vấn tâm lý cho học sinh” [19], đã cung cấp những kiến thức

cơ bản về lĩnh vực tư vấn học đường như: các loại hình tư vấn; quá trình (các bước) tham vấn tâm lý, nội dung, cách thức tiến hành các bước trong quá trình tham vấn tâm lý; một số kỹ năng tham vấn tâm lý cơ bản Công trình đã có đóng góp quan trọng trong việc giúp người làm công tác tư vấn học đường biết mô hình hóa vấn đề cần tham vấn cho học sinh; vận dụng linh hoạt, phù hợp các kỹ năng tham vấn trong từng tình huống cụ thể; biết cách tham vấn trong một số trường hợp đặc biệt: học sinh không hợp tác, học sinh có dấu hiệu trầm cảm

Tác giả Bùi Văn Quân [33], khai thác kỹ năng tư vấn và chăm sóc tâm lý với chuyên đề phát triển chuyên môn liên tục, kỹ năng hướng dẫn, tư vấn và chăm sóc tâm lý cho giáo viên THCS, tài liệu tập huấn phát triển năng lực giáo viên THCS năm

2010 Tác giả Trần Thị Minh Huế [24], với công trình “Phát triển kỹ năng tư vấn,

chăm sóc tâm lý cho sinh viên Đại học Thái Nguyên” đề tài cấp đại học năm 2012 đã

đề cập đến các vấn đề lý luận, thực trạng và đề xuất các biện pháp để phát triển kỹ năng tư vấn, chăm sóc tâm lý cho sinh viên

Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn một số công trình nghiên cứu khác như:

Tác giả Võ Thị Tường Vy [41] nghiên cứu: “Một số kỹ năng tham vấn của

tham vấn viên tâm lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Công trình đã có đóng

Trang 21

góp quan trọng trong việc đưa ra các kỹ năng tham cấn cần có cho tham vấn viên trong việc nâng cao chất lượng tham vấn tâm lý cho học sinh

Tác giả Bùi Thị Xuân Mai [29] nghiên cứu: “Thực trạng kỹ năng hỏi trong

tham vấn của cán bộ xã hội” Tác giả đã đưa ra được khái niệm kỹ năng, các kỹ năng

hỏi trong tham vấn Thông qua đó tác giả đã đưa ra được giải pháp quan trọng trong việc sử dụng kỹ năng hỏi của các bộ xã hội, từ đó nâng cao hiệu quả khai thác thông tin phục vụ công tác của người cán bộ xã hội

Tác giả Bùi Thị Thoa [37], luận văn thạc sĩ ngành tâm lý học lâm sàng trẻ em và

vị thành niên với đề tài “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh một số trường

trung học phổ thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” “Tham vấn học đường -

nhìn từ góc độ giới” của tác giả Bùi Thị Thoa, đây là một bài viết có giá trị xung quanh vấn đề tham vấn học đường nhìn từ góc độ giới, góc độ tâm lý học sinh, trong đó tác giả đã chỉ ra những nét khác biệt cơ bản trong tâm lý của học sinh nam và nữ, từ đó người GV có những biện pháp trợ giúp tâm lý cho học sinh một cách hữu hiệu

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc [30], luận văn thạc sĩ tâm lý học với đề tài: “Khảo

sát nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trung học cơ sở huyện Bình Chánh- Thành phô Hồ Chí Minh” Ở luận văn này tác giả đã chỉ ra thực trạng nhu cần tham vấn tâm

lý ở các trường THCS còn nhiều bất cập và hạn chế mặc dù học sinh rất có nhu cầu được giáo dục về lĩnh vực này Từ kết quả nghiên cứu thu được, tác giả đã đưa ra những đề xuất khuyến nghị để thực hiện hình thức giáo dục này có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý chính đáng của các em học sinh

Tác giả Phạm Thanh Bình [5], luận án tiến sĩ tâm lý học, với đề tài: “Nhu cầu

tham vấn tâm lý học đường của học sinh trung học cơ sở”… Tác giả cho thấy có trên

90% số người được hỏi cho là cần và rất cần các dịch vụ tham vấn Nhóm khách thể ở lứa tuổi vị thành niên thì có nhu cầu tham vấn về học tập, quan hệ bạn bè, trạng thái tâm

lý không cân bằng… nhóm lứa tuổi thanh niên lại quan tâm nhiều hơn đến vấn đề như công việc, tình bạn, tình yêu, sức khoẻ trong đó có cả trạng thái tâm lý không cân bằng

Tác giả Ngô Xuân Chiến [42], luận văn thạc sĩ giáo dục, với đề tài “ Tổ chức bồi

dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho đội ngũ giáo viên các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” Tác giả đã chỉ rằng công tác bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường

hiện nay là rất quan trọng đặc biệt đối với đội ngũ giáo viên các trường tiểu học, tác giả

đã phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi

Trang 22

dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho đội ngũ giáo viên tại các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điên Biên

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập dến nhiều khía cạnh khác nhau của công tác tư vấn học đường như: Công tác đo lường tâm lý để xác định khó khăn tâm lý ở

cá nhân; các kỹ năng thu thập xử lý thông tin để đưa ra lời khuyên cho học sinh… Tuy nhiên có rất ít công trình nghiên cứu và đề cập đến vấn đề bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên ở các trường trung học phổ thông, đặc biệt là các trường trung học phổ thông vùng đặc biệt khó khăn Chúng tôi nhận thấy vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ hơn

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Bồi dưỡng

Bồi dưỡng là một khái niệm được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Theo Từ điển Giáo dục học: “Bồi dưỡng là trang bị thêm kiến thức, kỹ năng,

nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể”

[38] Ví dụ: bồi dưỡng lý luận, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, bồi dưỡng năng lực dạy học

Theo quan niệm của tác giả Trần Bá Hoành, bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi

đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng… [23]

Theo cách lý giải của Đại từ điển tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm

Trang 23

Như vậy, có thể hiểu: Bồi dưỡng là quá trình bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt

về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái đã có để mở mang chúng, làm cho chúng phát triển thêm, có giá trị làm tăng hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động

1.2.2 Tổ chức, tổ chức bồi dưỡng

- Tổ chức

Thứ nhất, xét theo phương diện danh từ, tổ chức được hiểu là một nhóm người,

một tập thể, một đơn vị trong xã hội Theo Từ điển Giáo dục học: “Tổ chức là tập hợp

người được tổ chức lại, hoạt động vì quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung” [38]

Dưới góc độ Triết học, tổ chức là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tổn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản chất sự vật

Thứ hai, xét theo phương diện động từ tổ chức được xem như một hoạt động,

tổ chức là một trong những chức năng của nhà quản lý Đó là một quá trình đề ra sự liên hệ chính thức giữa con người và tài nguyên để đi đến mục tiêu Theo giáo sư George P.Huber và Reuben R.McDaniel, chức năng của tổ chức là sự phối hợp các nỗ lực thông qua kết hợp một cơ cấu về cách thức thực hiện trong tương quan với quyền hạn Nói một cách khác, chức năng của tổ chức là tiến trình sắp xếp và các công việc tương đồng thành từng nhóm để giao phó cho từng khâu nhân sự có khả năng thi hành, đồng thời phân quyền cho từng khâu nhân sự tùy theo công việc được giao phó

Theo đó, tổ chức là chức năng của nhà quản lý, đó là quá trình sắp xếp, phân

công công việc trong đơn vị, đồng thời phối hợp hoạt động của đơn vị theo một xu hướng chung nhằm đạt được mục tiêu quản lý

Trong quá trình quản lý của nhà quản lý, chức năng tổ chức có quan hệ mật thiết, không thể tách rời với các chức năng như: Lập kế hoạch quản lý; Chỉ đạo tổ chức hoạt động; Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động

- Tổ chức bồi dưỡng

Theo UNESCO, khái niệm tổ chức bồi dưỡng được hiểu là: “Tổ chức bồi

dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp” [40]

Trang 24

Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: “Tổ chức bồi dưỡng là khâu tiếp nối

của quá trình đào tạo, có thể coi bồi dưỡng là quá trình cập nhật những kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề” [18]

Từ sự phân tích trên chúng tôi quan niệm: Tổ chức bồi dưỡng là sự tác động

có mục đích của nhà quản lý đến hoạt động bồi dưỡng nhằm cập nhật bổ sung kiến thức, kỹ năng cho cá nhân, giúp cá nhân nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của công việc đang làm

1.2.3 Kỹ năng, kỹ năng tư vấn học đường

- Kỹ năng:

Trong Tâm lý học, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kỹ năng:

+ Quan niệm thứ nhất chú trọng khía cạnh cách thức hành động, coi việc nắm được cách thức hành động là có kỹ năng Tác giả: A.G Covaliôp cho rằng kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động đã được con người nắm vững (dẫn theo [33])

+ Quan niệm thứ hai: Coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người Kỹ năng theo quan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích Tác giả: A.V Pêtrôpxki xem kỹ năng là năng lực sử dụng các tri thức, các dữ kiện hay khái niệm đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra (dẫn theo [33])

+ Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam: “Kỹ năng thường

được coi là khả năng của con người thực hiện có hiệu quả hành động tương ứng với các mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Kỹ năng bao giờ cũng có tính khái quát

và được sử dụng trong những tình huống khác nhau” [4]

+ Theo Từ điển giáo dục học: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến

thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Nói khác đi, kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc hay một hoạt động nào đó một cách có chất lượng

và hiệu quả theo yêu cầu cụ thể, nhằm đạt được mục đích nhất định trong những điều kiện nhất định” [38]

Trang 25

Những định nghĩa trên thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của nhà nghiên cứu Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng

kỹ năng được hình thành khi con người áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào

đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng

Như vậy, có thể hiểu: Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức thu được vào việc

thực hiện một công việc hoặc một hoạt động nhất định một cách có hiệu quả, đạt được mục đích của hoạt động trong những điều kiện cụ thể

- Tư vấn:

Theo từ điển Tiếng Việt: “Tư vấn là phát biểu ý kiến về những vấn đề được đòi hỏi

đến nhưng không có quyền quyết định (hoạt động tư vấn, cơ quan tư vấn…)” [32]

Theo định nghĩa của các chuyên gia tư vấn thì tư vấn là lắng nghe, phát biểu ý kiến về những vấn đề hỏi đến nhưng không có quyền quyết định, dựa vào những hoạt động tâm lý để vạch ra những giải pháp giúp khách hàng tự quyết định

Còn trong cuốn Dictionary of Psychology của tác giả Adrew M.Colman xuất

bản năm 2001 (dẫn theo [32]), có định nghĩa về “Tư vấn” như sau: “Tư vấn là việc áp

dụng các lý thuyết tâm lý và các kỹ năng giao tiếp để giải quyết các vấn đề, các nỗi lo lắng hay các nguyện vọng cá nhân của khách hàng Một hình thức tư vấn đều bao gồm việc cho lời khuyên, bản chất cơ bản nhất là tạo ra sự dễ chịu mà không cần đưa

ra các hướng dẫn mang tính áp đặt

Các nhà tư vấn làm việc với các cá nhân, các cặp vợ chồng và các gia đình trong các môi trường khác nhau: văn phòng tư vấn, phòng khám bệnh đa khoa, các tổ chức giáo dục, các tổ chức thương mại và nhà riêng”

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Tư vấn là việc làm mà trong đó nhà tư vấn tìm

hiểu các vấn đề khúc mắc, những khó khăn thân chủ đang gặp phải để từ đó nhận định, đánh giá, phân tích và đưa ra những lời khuyên bổ ích nhất giúp thân chủ giải quyết được khó khăn của mình

- Tư vấn học đường

Từ đầu thế kỷ 20, tư vấn học đường chỉ là tư vấn hướng nghiệp, nặng về tư vấn thông tin (consultant) sử dụng kết quả chẩn đoán tâm lý, tính cách con người và nghề

Trang 26

nghiệp, và những thông tin về thị trường lao động, dự báo nhu cầu nhân lực được đưa vào trường học với Jesse B.Davis, Frank Parsons, và Cliffort Beer

Đến những năm 1950,1960, với những công trình công bố của Carl Rogers và những lý thuyết gia tiếp theo, góp phần làm nổi bật chức năng của hoạt động tư vấn tâm

lý (counseling) trong tư vấn học đường Như vậy, tư vấn học đường là tên gọi riêng của một hoạt động chuyên nghiệp có chức năng chủ yếu được định nghĩa, mô tả rõ ràng do chính những người tiên phong trong nghiệp vụ xây dựng từng bước tạo nên những đặc điểm phẩm chất, tính nhân văn và địa vị khoa học ứng dụng trong đời sống

Theo tác giả Bùi Thị Thoa: “Tư vấn học đường bao gồm cả ý nghĩa hướng dẫn và

tư vấn tâm lý Hướng dẫn, cố vấn, cung cấp thông tin hướng nghiệp, trắc nghiệm, thông tin về kết quả trắc nghiệm tâm lý, tính cách con người, thông tin về thị trường lao động,

về thế giới nghề nghiệp liên quan, tư vấn tâm lý, phát triển nhân cách” [37]

Như vậy, có thể hiểu: Tư vấn học đường (School Counseling) là một tiến trình

giúp đỡ học sinh, sinh viên, phụ huynh hoặc thầy cô giáo, tự tìm hiểu mình, biết được những đặc điểm tính cách, năng lực tiềm ẩn và những hành vi của mình đã ảnh hưởng đến người khác như thế nào Đồng thời giúp họ chọn cách giải quyết vấn đề tối ưu nhất đối với bản thân mình khi họ có nhu cầu

- Kỹ năng tư vấn học đường

Từ các khái niệm: Kỹ năng, tư vấn học đường đã nêu ở trên, có thể hiểu: Kỹ

năng tư vấn học đường là khả năng vận dụng kiến thức về tư vấn học đường của nhà giáo dục vào quá trình trợ giúp học sinh, giúp các em vượt qua những trở ngại, khó khăn trong học tập, trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong việc tham gia các hoạt động giáo dục, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển nhân cách của các em

1.2.4 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV

Từ các khái niệm: Bồi dưỡng, tổ chức bồi dưỡng, kỹ năng, kỹ năng tư vấn học đường đã trình bày ở trên, chúng tôi hiểu về khái niệm tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư

vấn học đường cho giáo viên như sau: Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường

cho giáo viên là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến quá trình cập nhật,

bổ sung kiến thức và rèn luyện kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên, giúp giáo viên nâng cao kỹ năng tư vấn học đường của bản thân

Trang 27

1.3 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho

GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

1.3.1 Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

1.3.1.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT vùng đặc biệt khó khăn

- Về hoạt động nhận thức: Đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh THPT thể hiện rõ ở: Sự phát triển của tri giác; cảm giác; trí nhớ; tư duy… Nhận thức của các em đã phát triển ở mức độ cao, có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn

và sâu sắc Khả năng tư duy và nhận thức cũng sẽ dần được hoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện cá nhân

- Về sự phát triển tự ý thức: Ở giai đoạn này, học sinh không chỉ tự ý thức về cái tôi của mình mà còn nhận thức vị trí của mình trong tương lai; xuất hiện khuynh hướng phân tích và tự đánh giá bản thân mình một cách độc lập Học sinh THPT có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước mọi người một cách độc đáo, tìm cách

đề người khác quan tâm đến mình hoặc làm điều gì đó nổi bật

- Về tình cảm: Đặc biệt ở giai đoạn này các em có nhiều biến đổi mới trong quá trình phát triển và xã hội hóa các cảm xúc Tình bạn là thứ tình cảm quyến luyến nhất và là giai đoạn tất yếu của quá trình hiểu biết, cảm thông lẫn nhau Quan hệ với bạn bè cùng tuổi chiếm vị trí tuyệt đối trong khi quan hệ với những bạn bè lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn chỉ chiếm một vị trí nhỏ bé Điều này chứng tỏ thanh niên khao khát có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống Còn trong quan hệ với cha mẹ thì quan hệ phụ thuộc dựa dẫm dần bị thay thế bằng quan hệ bình đẳng tự lập

Đối với học sinh ở các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn, đa số các em là người dân tộc thiểu số, các em thường có biểu hiện nhút nhát và thiếu tự tin trong giao tiếp Hầu hết các em sinh ra và lớn lên ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài, môi trường sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, các phương tiện truyền thông về văn hóa, xã hội còn chưa phổ biến Các em rất hiền lành, thật thà, thẳng thắn, có lòng tự trọng cao, nhưng dễ tự ái, có xu hướng bộc lộ tỏ thái

độ ngay khi không vừa lòng Khả năng diễn đạt bằng tiếng phổ thông ở các em còn hạn chế, nên trong quá trình học tập các em còn gặp những khó khăn nhất định như: rụt rè, tự ti, ngại giao tiếp với người lạ; nếu bị phê bình với lời lẽ nặng nề, kết quả học tập thua kém bạn bè, bị chê cười, hoặc nếu GV không am hiểu tường tận và thông

Trang 28

cảm với các em, các em sẽ xa lánh thầy cô giáo và bỏ học Vì vậy, GV cần nắm vững đặc điểm này, thận trọng suy xét trong quá trình đánh giá phẩm chất đạo đức của từng

em Cần phải tăng cường các biện pháp TVHĐ để tìm ra những cách thức giải quyết phù hợp những vấn đề mà các em gặp phải

Các em rất quyến luyến và gắn bó trong tình bạn, nhất là bạn cùng lớp, điều đó

có thể chi phối đến việc học tập, nhất là việc đi học chuyên cần Có những em hay nghỉ học, bỏ học mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu bạn học đến nhà rủ đi học Nhìn chung những ý kiến tán đồng hoặc chê cười của bạn bè và tập thể đều có ảnh hưởng đến quá trình suy nghĩ và hành động của từng em Với những đặc điểm kể trên, GV làm công tác tư vấn học đường phải rất quan tâm đến việc tổ chức những nhóm bạn học tập cho các em Có thể chọn những nhóm học tập là học sinh của từng bản, hay từng xóm trong thôn để các em đoàn kết và rủ nhau đến lớp đầy đủ

Bên cạnh đó, các em thường ít nói, e dè và dễ xấu hổ, thiếu những hoài bão ước mơ cần thiết, cho nên những tác động ngoại cảnh dễ làm cho các em bỏ học Từ những đặc điểm trên, trong khi giao tiếp, gặp gỡ riêng với các em học sinh, GV phải thường nói chuyện tâm tình với các em về các vấn đề như vai trò học tập, vai trò trong việc phát triển nghề nghiệp, xu hướng nghề nghiệp từ đó giúp học sinh có động lực học tập và tìm được định hướng nghề nghiệp phù hợp trong tương lai,…

Tóm lại, học sinh vùng đặc biệt khó khăn thường gặp những khó khăn về tâm

+ Khó khăn trong việc lựa chọn phương pháp học tập có hiệu quả

+ Áp lực học tập từ bạn bè, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo

- Thứ hai những khó khắn liên quan đến giao tiếp và các mối quan hệ

+ Khó khăn trong giao tiếp, ứng xử với thầy giáo, cô giáo

+ Khó khăn trong giao tiếp, ứng xử với bạn bè, đặc biệt là bạn khác giới

+ Khó khăn trong giao tiếp, ứng xử với các thành viên trong gia đình

+ Khó khăn trong giao tiếp, ứng xử với cộng đồng

Trang 29

- Thứ ba nhứng khí khăn liên quan đến vấn đề định hướng nghề nghiệp trong tương lai

+ Thiếu thông tin về ngành nghề

+ Mong muốn về nghề nghiệp của bản thân trái ngược với mong muốn của bố mẹ + Mong muốn về nghề nghiệp của bản thân trái ngược với định hướng của thầy, cô giáo

+ Mong muốn về nghề nghiệp của bản thân trái ngược với ý kiến của bạn bè + Mong muốn về nghề nghiệp của bản thân mâu thuẫn với khả năng của bản thân

1.3.1.2 Nội dung của tư vấn học đường trong trường THPT vùng đặc biệt khó khăn

Dựa trên một số nghiên cứu về thực trạng học sinh, những khó khăn trong đời sống học đường, những khúc mắc mà học sinh THPT có thể gặp phải trong các mối quan hệ của mình, theo Thông tư số 31/2017/ TT-BGDĐT ngày 18 tháng 12 năm

2017 của Bộ giáo dục và Đào tạo, nội dung TVHĐ ở trường trung học phổ thông, tập trung vào các vấn đề sau:

- Tư vấn tâm lý lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với lứa tuổi

- Tư vấn giáo dục về kỹ năng, biện pháp ứng xử văn hóa; phòng, chống bạo lực, xâm hại; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện

- Tư vấn tăng cường khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ với gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác

- Tư vấn kỹ năng, phương pháp học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp

- Tham vấn tâm lý đối với học sinh gặp khó khăn cần hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời; giới thiệu, hỗ trợ đưa học sinh đến các cơ sở, chuyên gia điều trị tâm lý đối với các trường hợp học sinh bị rối loạn tâm lý nằm ngoài khả năng tư vấn của nhà trường

1.3.1.3 Đặc điểm về hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

a) Mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Hoạt động bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của

GV ở các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn về lĩnh vực tư vấn học đường cho

Trang 30

học sinh trong tình hình mới, trang bị cho GV những kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công tác tư vấn trong nhà trường, cụ thể:

Thông qua hoạt động tư vấn học đường, GV giúp học sinh phát triển toàn diện

về nhân cách, trang bị thêm cho các em những kiến thức mới trong cuộc sống và trong lao động

Phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường

Đặc biệt, đối với học sinh THPT vùng đặc biệt khó khăn, GV cần hỗ trợ học sinh rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội; rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách

b) Nội dung bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Nội dung bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt

khó khăn bao gồm các nhóm kỹ năng sau:

* Nhóm kỹ năng chung về tư vấn tâm lý

Kỹ năng lắng nghe được thể hiện qua 4 thành tố, đó là hòa nhập với ngôn ngữ,

cơ thể của các em đáp ứng tối thiểu, phản hồi ngắn ngọn, tóm lược vấn đề

Cách thức lắng nghe tích cực: Đối diện với học sinh, ngồi thẳng hoặc nghiêng

ra phía trước để thể hiện sự chú ý; Duy trì giao tiếp bằng mắt, thể hiện GV quan tâm đến học sinh và điều học sinh nói; Cố gắng thấu hiểu cảm xúc của học sinh đằng sau những thông tin hoặc suy nghĩ mà học sinh nói; Đáp trả phù hợp, có lời (gật đầu, nhíu lông mày…) và có lời để khuyến khích học sinh nói tiếp; Với đáp trả có lời, tập trung vào vấn đề then chốt giúp GV theo dõi được nội dung câu chuyện

Trang 31

- Kỹ năng hỏi

Kỹ năng hỏi trong tư vấn học đường là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi sử dụng câu hỏi hợp lý hướng tới cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của học sinh, khích lệ học sinh

Kỹ năng hỏi là một trong những kỹ năng quan trọng nhất trong tư vấn học đường Đặt câu hỏi không chỉ là một cách thức khai thác thông tin về học sinh mà còn mục đích nhằm giúp học sinh sáng tỏ hơn, nhận ra vấn đề của mình

- Kỹ năng thấu cảm

Kỹ năng thấu cảm trong tư vấn học đường là khả năng biết đặt mình vào vị trí của học sinh để hiểu biết về sâu sắc, đầy đủ về tâm tư, tình cảm của học sinh, biết cảm thông, chia sẻ đối với họ

Để thực hiện sự thấu cảm GV cần lưu ý: Nghe thấy những biểu hiện dưới ngôn ngữ của học sinh, cảm nhận và hiểu những cảm xúc, những điều học sinh đã trải qua, quan tâm đến nhu cầu của học sinh, nhạy cảm và tôn trọng những giá trị, những trải nghiệm của học sinh cho dù điều đó có thể không phù hợp với cán bộ tư vấn, có sự nâng đỡ, động viên học sinh, nhìn thấy mặt tích cực của học sinh đằng sau cảm xúc, hành vi tiêu cực

- Kỹ năng phản hồi

Kỹ năng phản hồi trong tư vấn học đường là khả năng truyền tải mức độ hiểu

và thấu cảm của GV đối với học sinh, phản ánh lại những gì đã nghe, đã cảm nhận được từ học sinh, giúp duy trì mối quan hệ tốt đẹp và đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp

Khi sử dụng kỹ năng phản hồi, GV có thể lặp lại nội dung câu hỏi hoặc lặp lại cảm xúc nhằm giúp học sinh ý thức hơn về nội dung và tình cảm trong ngôn từ của các em Có hai cách phản hồi cơ bản là phản hồi lặp, phản hồi cảm xúc

- Kỹ năng cung cấp thông tin

Kỹ năng cung cấp thông tin là khả năng đáp ứng nhu cầu về thông tin của học sinh, giúp học sinh thu được những thông tin khách quan, có giá trị để giải quyết vấn

đề của học sinh

Trong tư vấn học đường, GV cần phân biệt sự khác nhau giữa việc cung cấp thông tin và việc dạy học sinh điều gì đó theo kiểu cố gắng áp đặt ý tưởng lên học sinh

Trang 32

Sự cung cấp thông tin của GV đối với học sinh thể hiện qua một số điểm sau: Cung cấp thông tin để mở rộng vấn đề cần xem xét ở học sinh; Cung cấp thông tin

mà không thuyết phục học sinh; Cung cấp thông tin mà không bao chứa áp đặt lời khuyên; Cung cấp thông tin không ẩn chứa thái độ của cán bộ tư vấn đối với thông tin; Cung cấp thông tin không hướng tới cách giải quyết vấn đề

- Kỹ năng hóa giải im lặng

Im lặng là không thể hiện phản ứng, thái độ hay lời nói Trong tư vấn học đường, kỹ năng hóa giải im lặng là khả năng nhận biết lý do sự im lặng của học sinh, khuyến khích học sinh nói ra vấn đề của mình

Trong bối cảnh tư vấn học đường, nếu GV để học sinh duy trì tình trạng im lặng lâu sẽ dẫn đến tình trạng lệ thuộc của học sinh vào GV Điều này sẽ dẫn đến sự

bế tắc truyền thông trong quá trình tư vấn

Để xử lý im lặng, GV luôn sử dụng những từ “im lặng”, “ nói”, “không nói” Đây là những từ chốt để học sinh ý thức về trạng thái im lặng không nói của mình

GV có thể khơi gợi để học sinh thấy rằng GV luôn sẵn sàng

* Nhóm kỹ năng chuyên biệt của tư vấn học đường

- Kỹ năng phát hiện sớm

Kỹ năng phát hiện sớm là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để tìm tòi cho thấy học sinh có những vấn đề về hành vi, cảm xúc cần được phải trợ giúp hoặc những vấn đề nổi cộm của học sinh toàn trường cần được can thiệp kịp thời

Trong tư vấn học đường, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời cho học sinh có vấn đề về hành vi và cảm xúc có thể giảm thiểu những tác hại sau này của những rối loạn thần kinh cũng như giảm thiểu về những chi phí chăm sóc sức khỏe nói chung

Từ những phân tích trên chúng ta quan niệm:

Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng: Nhận diện những vấn đề nổi cộm của học sinh toàn trường, nhận diện những học sinh có vấn đề về hành vi, cảm xúc, đánh giá những dữ liệu thu được dựa trên việc kết hợp các nguồn thông tin khác nhau, lên kế hoạch sử dụng các dữ liệu đã được sàng lọc; Cung cấp cho nhà trường,

GV, cha mẹ học sinh, phòng ngừa theo dõi và trợ giúp kịp thời

- Kỹ năng đánh giá tâm lý học sinh

Kỹ năng đánh giá tâm lý học sinh là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thu thập những dữ liệu chính xác về đặc điểm tâm lý của học sinh (năng lực, tính cách,

Trang 33

điểm mạnh, điểm yếu, mức độ khó khăn tâm lý…) để có kế hoạch trợ giúp can thiệp kịp thời và hiệu quả

Trong tư vấn học đường đánh giá tâm lý học sinh là một việc làm cần thiết để thu thập số liệu cho việc phòng ngừa, can thiệp đảm bảo tư vấn chính xác, giúp học sinh nhận thức được bản thân từ đó nâng cao năng lực giải quyết những khó khăn, vướng mắc đang gặp phải

- Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động phòng ngừa trong nhà trường

Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động phòng ngừa trong nhà trường là

sự vận dụng kinh nghiệm, tri thức, vào thiết kế, triển khai và đánh giá việc áp dụng những chính sách toàn trường nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các nguy cơ gặp khó khăn/ rối loạn tâm lý ở học sinh

Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng:

Thu thập, phân tích, đánh giá những vấn đề nổi cộm của học sinh trong trường (bạo lực học đường, căng thăng, lo hãi trước kỳ thi)

Lựa chọn vấn đề cần thiết có thể tổ chức các chương trình phòng ngừa hiệu quả và huy động nguồn lưc

Thiết kế các chương trình phòng ngừa và triển khai toàn trường: Xác định mục tiêu, đối tượng xây dựng nội dung, thời gian, cách thức thực hiện, nhân lực

- Kỹ năng can thiệp

Kỹ năng can thiệp là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào việc xây dựng và triển khai những kế hoạch trợ giúp kịp thời, phù hợp với những tình huống tư vấn, giúp học sinh có những cuộc sống tâm lý cân bằng và ổn định

Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng:

Lập kế hoạch can thiệp cụ thể, phù hợp với vấn đề và hoàn cảnh của học sinh: Xác định mục tiêu, kết quả mong muốn, lựa chọn các biện pháp can thiệp thích hợp

và đoán trước các trở ngại có thể

Tiến hành can thiệp kịp thời và hiệu quả theo mục tiêu

Theo dõi, giám sát can thiệp

Đánh giá kết quả can thiệp và điều chỉnh: đối chiếu kết quả với mục tiêu đặt

ra, trên cơ sở đó điều chỉnh các can thiệp cũ hoặc đề ra can thiệp mới

Trang 34

- Kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục

Kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục là sự vận dụng trí thức, kinh nghiệm vào việc kết nối các nguồn lực trong gia đình, nhà trường, cộng đồng một cách hiệu quả để hỗ trợ học sinh trong việc tự giải quyết vấn đề

Chúng ta đều hiểu tầm quan trọng của việc thiết lập duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác giữa GV và các lực lượng giáo dục trong nhà trường đối với hiệu quả của công việc của cán bộ tư vấn học đường, những hệ thống hỗ trợ tự nhiên tại gia đình và cộng đồng đem lại hiệu quả rất lớn

Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng:

Xác định rõ tầm quan trọng, mức độ ảnh hưởng của các lực lượng giáo dục đối với việc cải thiện tình trạng của học sinh

Xác định mục tiêu, lên kế hoạch tổng thể

Kết nối các lực lượng theo mục tiêu chung

Kiểm tra kết quả và điều chỉnh

- Kỹ năng lập và lưu trữ hồ sơ tâm lý của học sinh

Kỹ năng lập và lưu trữ hồ sơ tâm lý của học sinh là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm và sự lưu giữ đầy đủ và khoa học những thông tin về học sinh, đảm bảo tính

bí mật và an toàn, để có thể theo dõi giám sát những thay đổi, tiến bộ của học sinh và làm cơ sở cho những kế hoạch trợ giúp, can thiệp nếu có trong tương lai

Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng:

Thiết kế biểu mẫu lưu trữ rõ ràng, khoa học

Lưu thông tin một cách an toàn và bí mật

Cập nhật thường xuyên những thay đổi của học sinh hoặc những can thiệp mới của GV làm công tác tư vấn

c) Phương pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Phương pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn: Phù hợp với nội dung, kết hợp các hình thức nghe giảng, thảo luận và thực hành Dành nhiều thời gian cho việc trao đổi theo nhóm, soạn bài tập giảng, sử dụng thiết bị, thiết kế kiểm tra theo hướng đổi mới

Trang 35

Tổ chức biên soạn các tài liệu bồi dưỡng, xây dựng băng hình các tiết dạy minh hoạ sử dụng chung đảm bảo thống nhất về chương trình, nội dung và phương pháp

Tùy theo đặc điểm đối tượng người học và tình hình thực tế ở địa phương, nhà quản lý có thể chỉ đạo giảng viên tham gia bồi dưỡng có thể lựa chọn các phương pháp bồi dưỡng sau đây:

- Phương pháp thuyết trình: Báo cáo viên cung cấp kiến thức chuyên đề, phân tích, giải thích, lý giải về kiến thức mới những vấn đề thuộc chuyên môn các lĩnh vực khác nhau, về kỹ năng tư vấn học đường

- Phương pháp nêu vấn đề: Đây là phương pháp bồi dưỡng nhằm phát huy tính tích cực của người học Để thực hiện phương pháp này GV làm công tác tư vấn học đường trọng các hội nghị, hội thảo, tập huấn cần đưa ra những vấn đề mà bản thân gặp khó khăn, vướng mắc trong công tác tư vấn học đường để cùng chia sẻ, để

có những giải pháp thích hợp

- Phương pháp làm việc nhóm: Tạo ra môi trường học tập theo nhóm để GV chia sẻ kiến thức kinh nghiệm về nâng cao kỹ năng tư vấn học đường và vai trò trách nhiệm của GV trong thời kỳ đổi mới giáo dục

- Phương pháp xử lý tình huống: Báo cáo viên thiết kế các tình huống để nâng cao kỹ năng tư vấn học đường cho GV, giúp GV trải nghiệm, xử lý tình huống

- Phương pháp tự học, tự nghiên cứu: Báo cáo viên cung cấp tài liệu và hướng dẫn GV tự học, tự nghiên cứu tài liệu Báo cáo viên có thể kiểm tra, đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của GV thông qua bài tiểu luận, bài thu hoạch, bài kiểm tra…

d) Hình thức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

thường có các hình thức sau đây:

- Bồi dưỡng tại chỗ: Là tổ chức bồi dưỡng ngay tại trường nơi GV đang công tác

- Bồi dưỡng tập trung: Tổ chức bồi dưỡng theo khóa hay theo từng đợt, từng chu kỳ tại các trường sư phạm hay các cơ sở BDGV

- Bồi dưỡng từ xa: Thông qua các giáo trình, tài liệu hoặc các phương tiện công nghệ thông tin để hỗ trợ bồi dưỡng tại chỗ

Trang 36

- Ngoài những hình thức trên, hiện nay phương thức tự bồi dưỡng đang được

đề cao Việc tự học, tự bồi dưỡng nhằm thực hiện phương châm "học thường xuyên, học suốt đời" là chiến lược mang tính toàn cầu đang được Liên Hợp Quốc phát động

1.3.2 Sở Giáo dục và Đào tạo với vai trò tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV các trường phổ thông

1.3.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo

Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo Điều 2 của Thông

tư liên tịch số 11/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 29 tháng 5 năm 2015 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố

Theo qui định tại Thông tư 31/2017/TT-BGĐT của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trường THPT đã quy định rõ về đối tượng áp dụng, nội dụng và hình thức thực hiện và CSVC phục vụ công tác tư vấn học đường cho học sinh

Theo Thông tư 31/2017/TT-BGĐT của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT có chức năng: + Chỉ đạo, tổ chức thực hiện Thông tư 31/2017/TT-BGĐT của Bộ GD&ĐT tại các nhà trường thuộc phạm vi quản lý

+ Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác tư vấn tâm lý tại các nhà trường thuộc phạm vi quản lý

+ Nghiên cứu, tham mưu Ủy ban nhân dân các cấp về chế độ chính sách liên quan để hỗ trợ, động viên các cán bộ, GV kiêm nhiệm thực hiện công tác tư vấn tâm

lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương

+ Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ công tác

tư vấn tâm lý học sinh đối với cán bộ, GV kiêm nhiệm, hợp đồng chuyên trách công tác tư vấn tâm lý và các cán bộ Đoàn, Đội, GV chủ nhiệm và các thành viên khác thực hiện công tác tư vấn tâm lý trong nhà trường

Trang 37

+ Tổ chức sơ kết, tổng kết, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo định kỳ từng năm học hoặc báo cáo đột xuất về việc thực hiện Thông tư 31 trong các nhà trường thuộc phạm vi quản lý đối với vấn đề bồi dưỡng tư vấn học đường

1.3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường được thực hiện theo 04 nội dung chính, tuy nhiên đối với việc bồi dưỡng cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn cần phải được thực hiện linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn Cụ thể như sau:

a Lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Trong hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV ở THPT thì việc xây dựng

kế hoạch bồi dưỡng là vấn đề trước nhất và mang tính định hướng cho mọi hoạt động

Kế hoạch đó phải thể hiện được các yêu cầu chủ yếu sau:

1) Khảo sát tình hình đội ngũ GV THPT vùng đặc biệt khó khăn để phân loại thành các nhóm khác nhau nhằm định hướng các nội dung và hình thức bồi dưỡng cho mỗi nhóm Có thể tổ chức việc khảo sát và phân loại theo các cách tiếp cận sau:

- Phân loại theo nội dung bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên vùng đặc biệt khó khăn: Việc phân loại nội dung bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ bao gồm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; bồi dưỡng năng lực, phương pháp sư phạm; bồi dưỡng việc sử dụng phương tiện và thiết bị dạy học cho giáo viên vùng đặc biệt khó khăn

- Phân loại theo mục tiêu bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ: bồi dưỡng nâng cao; bồi dưỡng chuẩn hoá; bồi dưỡng hoàn chỉnh, kỹ năng, nghiệp vụ TVHĐ cho giáo viên vùng đặc biệt khó khăn

- Phân loại theo đối tượng bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn: bồi dưỡng CBQL, GV trực tiếp tham gia công tác TVHĐ, bồi dưỡng

GV phụ trách công tác Đoàn; bồi dưỡng GV làm công tác chủ nhiệm lớp tại các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn

- Phân loại theo tính chất và quy mô giáo viên THPT vùng đặc biệt khó khăn: bồi dưỡng GV cốt cán, bồi dưỡng đại trà,

- Phân loại theo kế hoạch thời gian: bồi dưỡng dài hạn; ngắn hạn; bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ; bồi dưỡng theo chuyên đề cho giáo viên THPT vùng đặc biệt khó khăn,

Trang 38

2) Xác định mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên THPT vùng đặc biệt khó khăn

Cần chỉ ra hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên vùng đặc biệt khó khăn nhằm vào đối tượng nào, bồi dưỡng để người tham dự bồi dưỡng thu nhận được những kiến thức, kỹ năng và có thái độ như thế nào Nói cụ thể hơn là sau bồi dưỡng thì đội ngũ giáo viên vùng đặc biệt khó khăn đạt được mức độ như thế nào so với mục tiêu đề ra

3) Dự kiến các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên vùng đặc biệt khó khăn

Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng được chọn ai,

ở đâu để làm giảng viên, chi phí cho mọi hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ sẽ ở nguồn nào, tài liệu và phương tiện vật chất khác (như hội trường máy móc thiết bị, ) được khai thác ở đâu, thời lượng để thực hiện chương trình bồi dưỡng và tổ chức vào thời gian nào trong năm học,

4) Dự kiến các biện pháp và hình thức hiện mục tiêu bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên THPT vùng đặc biệt khó khăn

Dự kiến các biện pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên là việc làm cũng không kém phần quan trọng Việc này được thực hiện khi thực hiện chương trình bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường Nó thể hiện việc tổ chức bồi dưỡng tập trung cả thời gian, hay tập trung từng giai đoạn, tổ chức thành lớp hay theo nhóm, ở tại huyện hay tổ chức kết hợp với tham quan thực tế, và cuối cùng

là biện pháp đánh giá như thế nào?

b Tổ chức triển khai các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn là quá trình triển khai, thực hiện một hoạt động cụ thể trong kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn đã được xác định Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn cần trả lời các câu hỏi

cơ bản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả?

Trang 39

Do đó, để tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn tốt, Giám đốc Sở GD&ĐT cần phân tích kế hoạch bồi dưỡng thành các công việc cụ thể: Ra quyết định tổ chức khóa bồi dưỡng, triệu tập học viên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá kết quả đầu vào, kết thúc, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán

- Mối quan hệ phối hợp chỉ đạo giữa Giám đốc Sở GD&ĐT, nhà trường và

GV trong hoạt động tổ chức bồi dưỡng năng lực TVHĐ cho GV THPT

- Thực hiện quy trình hóa: Mỗi công việc hay hoạt động được phân chia logic theo các bước, trình tự nhất định

- Phân công trách nhiệm thực hiện từng công việc cụ thể

- Phối hợp các đơn vị, bộ phận và các cá nhân trong quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

- Tiến hành thực hiện các hoạt động bồi dưỡng (tổ chức bồi dưỡng) kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

- Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho

kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, có vai trò cùng với chức năng

tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của Giám đốc Sở GD&ĐT tới nhà trường, những GV THPT nhằm biến đổi những yếu tố chung của tổ chức, hệ thống và nhà trường thành nhu cầu của mọi GV, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng

để tập luyện, rèn luyện nâng cao năng lực cá nhân Do vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở

để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ

Trang 40

cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

Chức năng chỉ đạo là một chức năng quản lý quan trọng và cần thiết cho việc thực hiện hoá các mục tiêu bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn, do đó trong chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng phải quát triệt phương châm “duy trì - ổn định - đổi mới - phát triển” trong các hoạt động bồi dưỡng Như vậy, chức năng chỉ đạo của Giám đốc Sở GD&ĐT trong hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn bao gồm các nội dung sau:

(1) Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ bồi dưỡng

kỹ năng TVHĐ của nhà trường tới GV

(2) Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích các GV tích cực triển khai, duy trì các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn một cách hệ thống nhằm nâng cao năng lực cho lực lượng GV TVHĐ

(3) Giám sát hoạt động bồi dưỡng, đánh giá những kết quả đã đạt được và những kết quả chưa đạt được và có biện pháp sửa chữa những tồn tại trong hoạt động bồi dưỡng để nâng cao chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT vùng đặc biệt khó khăn

(4) Thúc đẩy các hoạt động phát triển Giám đốc Sở GD&ĐT chỉ đạo Ban Giám hiệu các trường khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để GV tích cực tham gia bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ

Chức năng chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ Directing (điều hành) và thuật ngữ Leading (lãnh đạo), do đó, chỉ đạo vừa có ý nghĩa ra chỉ thị để điều hành vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ (ảnh hưởng tới quá trình hình thành động cơ làm việc) của GV tham gia bồi dưỡng trong toàn bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản lý

Thực hiện quyền chỉ huy (giao việc) và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ bồi dưỡng cũng như tác động có ảnh hưởng tới các thành viên khác phải đảm bảo phù hợp, thiết thực và cụ thể với khả năng và trình độ của từng GV Việc thực hiện thường xuyên, đôn đốc, động viên và kích thích đối tượng tích cực tham gia bồi dưỡng có tác dụng như quá trình như quá trình tạo động cơ bồi dưỡng cho mọi thành viên

Ngày đăng: 04/02/2020, 10:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w