1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học ở huyện văn bàn, tỉnh lào cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục

148 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đổi mới giáo dục theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, ngày 09/5/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động thanh tra g

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ VĂN TĨNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

Ở HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI THEO TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ VĂN TĨNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

Ở HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI THEO TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tiến Hùng

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn:“Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày 9 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Tĩnh

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành nhất, tác giả xin trân trọng cảm ơn các Tập thể Lãnh đạo, giảng viên và chuyên viên của Trường Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình đào tạo

Đặc biệt,tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS

TS Nguyễn Tiến Hùng, người đã tận tâm, tận tình chỉ dẫn các phương pháp

triển khai các nhiệm vụ trong suốt quá trình nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thiện luận văn đúng thời hạn và đảm bảo theo yêu cầu

Tác giả xin trân thành cảm ơn Phòng GD&ĐT huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai, Ban lãnh đạo, giáo viên các trường Tiểu học trong huyện đã nhiệt tình, trách nhiệm trong việc cung cấp những thông tin xác thực để giúp tác giả thu được những minh chứng quan trọng trong phân tích đánh giá thực trạng quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục hòa nhập của Phòng GD&ĐT huyện Văn Bàn phục

vụ nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý trong luận văn

Mặc dù đã thực sự nỗ lực cố gắng,xong do năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế cho nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy,

cô, các nhà khoa học và những người quan tâm để giúp luận văn thêm hoàn thiện và có giá trị thiết thực, cũng như giúp tác giả có được các bài học quý báu trong chặng đường tiếp theo

Tác giả xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019

Tác giả

Đỗ Văn Tĩnh

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Câu hỏi nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Phạm vi nghiên cứu 3

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1.Nghiên cứu ngoài nước 5

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Quản lý giáo dục 11

1.2.3 Quản lý nhà trường 12

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.2.4 Kiểm tra, thanh tra Giáo dục và Đào tạo 16

1.2.5 Trường Tiểu học 22

1.3 Một số vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động KTNB ở trường Tiểu học 24

1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ KTNB trường học 24

1.3.2 Nội dung KTNB trường học 25

1.3.3 Nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường học 27

1.3.4 Quản lý hoạt động KTNB trường học 28

1.4 Nội dung quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học 30

1.4.1 Xây dựng kế hoạch KTNB trường Tiểu học 30

1.4.2 Tổ chức quản lý hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học 32

1.4.3 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện KTNB trường Tiểu học 37

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học 41

1.5.1 Nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên về hoạt động kiểm tra nội bộ 41

1.5.2 Năng lực quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học của cán bộ quản lý 41

1.5.3 Cơ sở vật chất phục vụ cho quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học 42

1.5.4 Quy định của hệ thống văn bản và công tác chỉ đạo của cán bộ quản lý giáo dục các cấp 42

1.6 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động KTNB ở trường Tiểu học 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI 45

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 45

2.1.1 Vị trí địa lý, dân số 45

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 45

2.1.3 Sơ lược về các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 46

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 50

2.2.1 Mục đích khảo sát 50

2.2.2 Nội dung khảo sát 51

2.2.3 Đối tượng khảo sát 51

2.2.4 Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu 51

2.3 Hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 53

2.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 53

2.3.2 Thực trạng hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 57

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 72

2.4.1 Thực trạng nhận thức tầm quan trọng về công tác quản lí hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 72

2.4.2 Thực trạng quản lí hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 73

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lí hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 78

2.5.1 Những ưu điểm trong công tác quản lí hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 78

2.5.2 Những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lí hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 79

2.5.3.Nguyên nhân của thực trạng quản lí hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 82

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI 83

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động KTNB ở các trường tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 83

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 83

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 83

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 83

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 84

3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 84

3.2.1 Biện pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc làm tốt công tác KTNB trường Tiểu học cho Hiệu trưởng và cán bộ tham gia hoạt động KTNB trường Tiểu học 84

3.2.2 Biện pháp thứ hai: Chỉ đạo xây dựng kế hoạch công tác KTNB trường học đảm bảo tính toàn diện, bám sát thực tế và yêu cầu phát triển của ngành GD và ĐT huyện Văn Bàn 86

3.2.3 Biện pháp thứ ba: Tăng cường công tác tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học 88

3.2.4 Biện pháp thứ tư: Đổi mới phương thức chỉ đạo, tăng cường điều kiện vật chất, thiết bị cho công tác quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học đáp ứng đổi mới GD 90

3.2.5 Biện pháp thứ năm: Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động KTNB trường Tiểu học và về quản lý hoạt động KTNB trường Tiểu học cho cán bộ quản lý, giáo viên thực hiện nhiệm vụ KTNB trường học 93

3.2.6 Biện pháp thứ sáu: Tăng cường sự phối hợp quản lý hoạt động KTNB giữa các cấp quản lý trong hệ thống giáo dục các trường Tiểu học 95

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 97

3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 98

3.4.1 Các bước tiến hành khảo nghiệm 98

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 99

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

1 Kết luận 106

2 Khuyến nghị 107

2.1 Đối với UBND tỉnh Lào Cai 107

2.2 Đối với Sở GD và ĐT tỉnh Lào Cai 107

2.3 Đối với UBND huyện Văn Bàn 107

2.4 Đối với Phòng GD và ĐT 108

2.5 Đối với các trường Tiểu học 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả xếp loại HS Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai giai

đoạn 2015 - 2018 48 Bảng 2.2 Thống kê xếp loại cán bộ quản lý các trường Tiểu họchuyện Văn

Bàn, tỉnh Lào Cai năm học 2017 - 2018 49 Bảng 2.3 Thống kê đội ngũ GV tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 49 Bảng 2.4 Nhận thức chung về hoạt động KTNB của CBQL và GV tiểu học

huyện Văn Bàn 53 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL và GV tiểu học huyện Văn Bàn về nội

dung hoạt động KTNBTH 55 Bảng 2.6 Đánh giá mức độ đạt mục tiêu KTNBTH ở các trường Tiểu học

huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 57 Bảng 2.7 Đánh giá mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung Hiệu

trưởng tự kiểm tra công tác quản lý trường học ở các trườngTiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 59 Bảng 2.8 Đánh giá mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung Hiệu

trưởng kiểm tra giáo viên 62 Bảng 2.9 Đánh giá mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung Hiệu

trưởng kiểm tra việc học tập và rèn luyện của HS 64 Bảng 2.10 Đánh giá mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung Hiệu

trưởng kiểm tra cán bộ, nhân viên trong trường 67 Bảng 2.11 Đánh giá về mức độ phù hợp của các phương pháp và hình thức

KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 69 Bảng 2.12 Ý kiến đánh giá về phẩm chất và năng lực đội ngũ làm công tác

KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 71 Bảng 2.13 Nhận thức tầm quan trọng về công tác quản lí hoạt động KTNB

ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 72

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 2.14 Thực trạng đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động KTNBTH 73 Bảng 2.15 Đánh giá mức độ sử dụng các biện pháp quản lý hoạt động

KTNB trường tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 75 Bảng 2.16 Đánh giá hiệu quả sử dụng các biện pháp quản lý hoạt động

KTNB trường tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 77 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 99 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 101

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm tra trong quản lý 18 Biểu đồ 2.1 Kết quả xếp loại HS Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai

năm học 2017 - 2018 48 Biểu đồ 2.2 Thống kê đội ngũ GV tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai

giai đoạn 2015 - 2018 50 Biểu đồ 2.3 Mức độ đạt mục tiêu KTNBTH ở các trường Tiểu họchuyện

Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 58 Biểu đồ 2.4 Thực trạng mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung

Hiệu trưởng tự kiểm tra công tác quản lý trường học 61 Biểu đồ 2.5 Thực trạng mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung

Hiệu trưởng kiểm tra giáo viên 63 Biểu đồ 2.6 Thực trạng mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung

hiệu trưởng kiểm tra việc học tập và rèn luyện của HS 66 Biểu đồ 2.7 Thực trạng mức độ cần thiết và mức độ thực hiện nội dung

Hiệu trưởng kiểm tra cán bộ, nhân viên trong trường 68 Biểu đồ 2.8 Thực trạng đánh giá về phẩm chất và năng lực đội ngũ làm

công tác KTNB ở các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 72 Biểu đồ 2.9 Đánh giá mức độ sử dụng các biện pháp quản lý hoạt động

KTNB 76 Biểu đồ 2.10 Đánh giá hiệu quả sử dụng các biện pháp quản lýhoạt động

KTNBTH 78 Biểu đồ 3.1 Tương quan mức độ cần thiết và mức độ khả thi của cácbiện

pháp quản lý hoạt động KTNB các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 103

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở nước ta, đổi mới quản lý giáo dục nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đã và đang là một nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo theo định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá

Việt Nam giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu và đã có một sự đầu tư đáng kể Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém Công tác thanh tra, kiểm tra đánh giá giáo dục còn nhiều hạn chế; những hiện tượng tiêu cực, như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục, trong học tập, tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan kéo dài, chậm được khắc phục

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và

“Giáo dục và Đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng vào xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam” Để đạt được mục tiêu trên, nghị quyết 29-

NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 29) đã chỉ rõ hệ thống các nhiệm vụ,

giải pháp, trong đó nhấn mạnh “Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch”

Thực hiện đổi mới giáo dục theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, ngày 09/5/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục, ngành giáo dục và đào tạo đổi mới các hoạt động thanh tra theo hướng chuyển nội dung từ thanh tra chuyên môn sang thanh tra công tác quản lý với nhiều nội dung trong đó có nội dung thanh tra công tác kiểm tra nội bộ (KTNB) trường học

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai là một huyện khó khăn với 22 xã và 01 thị trấn, diện tích đất tự nhiên hơn 142,63 nghìn ha và dân số trên 87 nghìn người;

tỷ lệ hộ nghèo (năm 2018) trên 40%, tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 60%, giao thông đi lại khó khăn (trung tâm huyện cách trung tâm thành phố 75 km), điều kiện kinh tế, xã hội gặp rất nhiều khó khăn, chất lượng giáo dục và đào tạo của huyện thấp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội

Theo tác giả, có rất nhiều nguyên nhân song một trong những nguyên nhân sâu xa đó là nhà quản lý chưa quan tâm chú trọng đến công tác KTNB; chưa xây dựng được kế hoạch kiểm tra khoa học phù hợp với thực tế nhà trường; chưa công khai kết quả kiểm tra; chưa có biện pháp chấn chỉnh, tư vấn, thúc đẩy sau kiểm tra

Qua công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp đối với các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Văn Bàn cho thấy: Cán bộ quản lý một số nhà trường chưa phát huy nhiệm vụ được giao; một số đơn vị chưa thực hiện công tác KTNB theo các văn bản quy định, hoạt động KTNB còn mang tính hình thức, hiệu quả công tác KTNB chưa cao, chưa kịp thời phát hiện những hạn chế trong công tác quản lý

Để hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện văn Bàn thực sự hiệu quả giúp cho nhà trường hướng đến sự thay đổi đáp ứng được yêu cầu quản lý chất lượng hiện nay

Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các

trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về hoạt động kiểm tra nội bộ và thực trạng về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ của các trường Tiểu học huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục; đề xuất một số biện pháp cụ thể

về quản lý hoạt động KTNB nhằm góp phần tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng dạy và học tại các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động KTNB của Hiệu trưởng các trường Tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động KTNB của Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học

- Thực trạng hoạt động KTNB của Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai

- Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KTNB của Hiệu trưởng các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Văn Bàn tỉnh

Lào Cai

5 Câu hỏi nghiên cứu

1 Vai trò của công tác quản lý hoạt động KTNB như thế nào?

2 Để nâng cao hiệu quả của hoạt động KTNB đối với các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai cần những biện pháp quản lý như thế nào?

6 Giả thuyết khoa học

Công tác kiểm tra nội bộ của Hiệu trưởng ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai hiện nay còn nhiều hạn chế, nếu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động KTNB một cách đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn của các nhà trường thì hiệu quả quản lý hoạt động KTNB của Hiệu trưởng tại các trường Tiểu học sẽ được nâng cao góp phần giữ vững kỷ cương nề nếp trong nhà trường, xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh, chất lượng giáo dục được nâng cao đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục

7 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động KTNB của Hiệu trưởng các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai;

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Giới hạn phạm vi khảo sát: Đề tài tiến hành khảo sát trên 31trường tiểu học trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; thu thập số liệu điều tra từ năm học 2016-2017 đến năm học 2017-2018

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản

lí hoạt động kiểm tra nội bộ nhà trường; phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài

8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi

8.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn với một số lãnh đạo của các trường để tìm hiểu rõ hơn những vấn đề liên quan đến hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường Tiểu học

8.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý, phân tích số liệu từ các mẫu phiếu điều tra thu được

Thống kê các số liệu lấy được từ giáo viên, phó Hiệu trưởng, Hiệu trưởng các trường Tiểu học đánh giá theo nội dung bảng hỏi

Kết luận thông qua phân tích kết quả số liệu điều tra

9 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các

trường Tiểu học theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học

trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các

trường Tiểu học huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục

Phần kết luận và khuyến nghị

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA

NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIÊU CHUẨN

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1.Nghiên cứu ngoài nước

Có thể thấy, hoạt động KTNB trường học được gọi theo nhiều cách khác nhau và được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, các nghiên cứu đều thống nhất rằng quy trình KTNB trường học được thực hiện hoàn toàn bởi nhân viên của nhà trường, được thành lập thành một nhóm đánh giá chuyên biệt Những nhóm này thường bao gồm các giáo viên và các thành viên thuộc Ban quản lý của nhà trường

Tác giả Ah-Teck, J C., & Starr, K C với công trình nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục tại Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng đến cải thiện môi trường giáo dục” tại Hà Lan [2014- Tạp chí Journal of Educational

Administration, 52(6), 833 -849] đã tập trung nghiên cứu việc Hiệu trưởng ở các trường thuộc Mauritius (Hà Lan) sử dụng hệ thống dữ liệu quản lý chất lượng nội bộ trong việc đưa ra quyết định cải thiện môi trường giáo dục Kết quả nghiên cứu của các tác giả cũng cho thấy việc quản lý chất lượng KTNB rất quan trọng và nó còn quan trọng hơn khi các Hiệu trưởng sử dụng kết quả đó trong các quyết định của mình trong quá trình quản lý nhà trường

Trong một nghiên cứu với tên: “Đánh giá kiểm tra nội bộ” (Local

Education Authority), tác giả Davies, D and Rudd, P (2001) người Mỹ đã đề cập về các nhân tố tác động đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học của các trường học Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Lãnh đạo trường học có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định việc thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo quản lý tốt sẽ duy trì hoạt động KTNB và hướng tới tầm nhìn rõ ràng cho sự phát triển của giáo dục

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Các tác giả Hall, C., & Noyes, A người Anh (2007), nghiên cứu về “Ảnh hưởng của kiểm tra nội bộ trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân” Các tác giả đã phân tích về nhận thức của

giáo viên và hiểu biết của họ đối với quy trình tự đánh giá chất lượng khi chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTNB trường học Bên cạnh đó, họ xem xét mối liên hệ giữa Thanh tra viên và giáo viên thuộc nhóm KTNB trường học thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo viên và Ban lãnh đạo trường học hưởng ứng và thực hiện tốt công tác KTNB trường học, không những thế KTNB trường học được giáo viên sử dụng như một công cụ, biện pháp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân

Các nghiên cứu về hoạt động KTNB trường học của một số nước đã chỉ

ra rằng:

- Các thành viên chuyên trách trong nhóm đánh giá nội bộ của nhà trường chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kiểm tra và quá trình KTNB ở trường học;

- Đánh giá nội bộ trường học có tác động tích cực đến hoạt động của trường học, gia tăng thành tích học tập của học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, mặc dù những ảnh hưởng tích cực này phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ chế quản lý;

- Các nghiên cứu thực hiện tại Đan Mạch, Anh, Phần Lan, Xcốt-len và Thụy Điển chỉ ra rằng: Ở tất cả các nghiên cứu này đã cho thấy rằng, giáo viên tin là đánh giá, KTNB có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến quá trình giảng dạy của

họ cũng như chất lượng học tập của học sinh và KTNB đem lại nhiều lợi ích hơn các biện pháp đánh giá từ bên ngoài

Như vậy, từ một số nghiên cứu trên đây có thể thấy, KTNB trường học được các nhà quản lý giáo dục ở nước ngoài rất coi trọng Công tác KTNB trường học được đánh giá cao trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, cũng như nâng cao chất lượng học tập của học sinh và việc KTNB

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trường học được giáo viên cho rằng quan trọng hơn và có tác động nhiều hơn đến hoạt động của trường so với những cuộc kiểm tra từ bên ngoài (thanh tra) Đồng thời các nghiên cứu trên đây cũng cho thấy vai trò của Hiệu trưởng trong việc quyết định, tổ chức KTNB trường học tại các nước này

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, hoạt động KTNB trường học cũng được nhiều học giả nghiên cứu, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Đồng thời, Chính phủ còn xây dựng, tổ chức hệ thống thanh tra, kiểm tra từ Trung ương (Bộ GD&ĐT), đến địa phương và các cơ sở dạy học và giáo dục trên cả nước và điều hành hệ thống đó bằng các quy định pháp luật, các Nghị định, Thông tư…

Tác giả Hà Sĩ Hồ với công trình “Những bài giảng về quản lý trường học”, đã chỉ ra rằng: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng, vì quá trình quản

lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản

lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược

chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…” Ông khẳng định “Quản lý

mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và quản lý trở thành quản lý quan liêu” [11]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang chỉ ra rằng: “… kiểm tra là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc, chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoặc tiếp theo (năm học) việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ” Ông kết luận: “… kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý Không có kiểm tra không

có quản lý” [16]

Trong công tác quản lý nhà trường, các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Sỹ Tiến đã đưa ra các nguyên tắc chung của quá trình Dạy -

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Học, từ đó chỉ ra một số biện pháp quản lý nhà trường Trong đó biện pháp thanh tra, kiểm tra là một trong những biện pháp hữu hiệu để duy trì hoạt động của nhà trường đi đúng mục tiêu, kế hoạch đã định ra cho nhà trường trong từng thời kỳ phát triển [20]

Cùng với đó, một số công trình nghiên cứu của các học viên thuộc ngành quản lý giáo dục đã đánh giá về một số biện pháp, sáng kiến quản lý hoạt động KTNB trường học nói chung và KTNB trường Tiểu học nói riêng Tuy nhiên các đề tài, nghiên cứu này thường nghiên cứu công tác KTNB trường học trong phạm vi các trường trong một Huyện của Phòng GD&ĐT thuộc Sở GD&ĐT

của một tỉnh Cụ thể: Đề tài “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng KTNB trường Trung học cơ sở” của tác giả Nguyễn Duy Hưng Đề tài này đề

cập đến thực trạng công tác KTNB trường học của trường Trung học cơ sở Quang Yên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Đồng thời tác giả đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng KTNB trường học như: Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; xây dựng kế hoạch và nội dung kiểm tra phù hợp; xây dựng lực lượng KTNB; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cả về chuyên môn và nghiệp vụ KTNB trường học; tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho công tác KTNB trường học… Đồng thời tại các Phòng GD&ĐT của các tỉnh thành trong cả nước đều có các báo cáo Tổng kết công tác KTNB trường học thuộc phạm vi quản lý của Phòng, tại các báo cáo này cũng nêu lên những ưu điểm và những hạn chế trong công tác KTNB trường học tại địa phương và đề ra phương hướng, kế hoạch cho năm học tiếp theo về công tác KTNB trường học (“ Báo cáo Tổng kết công tác kiểm tra nội bộ trường học năm học 2015-2016 của phòng GD&ĐT Cẩm Khê”; “ Báo cáo Tổng kết công tác KTNB trường học năm học 2015 của huyện Kiến Thụy”…)

Như vậy có thể thấy, công tác KTNB trường học được thực hiện thường xuyên tại các trường phổ thông nói chung và tại các trường Tiểu học nói riêng Tuy nhiên những công trình nghiên cứu tổng thể nhằm nâng cao chất lượng

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quản lý hoạt động KTNB trường học trong đó có trường Tiểu học chưa thực sự nhiều Trong thời gian tới ngành Quản lý giáo dục cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực này, nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng quản lý quá trình dạy và học trong nhà trường tốt hơn

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát của loài người Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội Quản lý là một phạm trù khách quan là một tất yếu lịch sử Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về quản lý dưới góc độ khác nhau

Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trường”.[25]

F.W Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải 7 chuyên môn hóa và phải QL chặt chẽ”, “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [22]

Theo Harol Koonzt: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu

đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [14]

Theo lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” [15]

Trong Từ điển Việt Nam có nêu: Quản lý là“tổ chức vàđiều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [19]

Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là một quá trình hoạt động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [29]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra khái niệm: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [31]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: HĐ QL là:

“Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[35]

Có thể thấy bản chất chung của khái niệm QL là một quá trình tác động

có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường QL tồn tại trong mọi quá trình HĐ của xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức XH vận hành và phát triển trong khái niệm QL, ta cần chú ý các yếu tố sau: Chủ thể QL: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động QL Nó trả lời câu hỏi: Ai QL Khách thể QL: là những đối tượng tiếp nhận các tác động QL

+ Khách thể QL có thể là người, trả lời câu hỏi: QL ai?

+ Khách thể QL có thể là vật, trả lời câu hỏi: QL cái gì?

+ Khách thể thể QL là việc, trả lời câu hỏi: QL việc gì?

Mục tiêu QL: là căn cứ để chủ thể tạo ra những tác động QL lên đối tượng QL Quá trình QL mang tính tổng hợp, không tuân theo những quy định cứng nhắc mà phải mềm dẻo linh hoạt

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Về chức năng của quản lý: Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa của hoạt động quản lý Có nhiều cách để phân chia chức năng quản lý, song về bản chất chung, quản lý đều thực hiện các chức năng sau:

+ Chức năng Lập kế hoạch

+ Chức năng Tổ chức

+ Chức năng Chỉ đạo và kiểm tra

Các chức năng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý khép kín, tạo hiệu quả trong quá trình quản lý

Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức, có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển đối tượng

quản lý thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

1.2.2 Quản lý giáo dục

Nghiên cứu về vấn đề này, có thể thấy các khái niệm về QLGD cũng hết sức phong phú Có thể nêu lên một số khái niệm là: Theo P.V Khudominxly:

“QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục

đích bảo vệ việc GD, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ” [34]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là những hệ thống tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ GD) nhằm làm cho

hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình D-H, GD thế hệ trẻ, đưa GD đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [29]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức,

có hướng đích của chủ thể QL lên hệ thống GD nhằm tạo ra tính vượt trội/ tính trồi (emergence) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động”[30] Cũng theo tác giả Trần Kiểm: “Cũng có thể định nghĩa QLGD là HĐ tự giác

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của chủ thể QL nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực GD (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển GD, đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội.”[30]

Như vậy, quản lý giáo dục cũng như quản lý xã hội là hoạt động có ý

thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích nhất định của mình: Quản

lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật và chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục

- Đặc điểm chung của quản lý: Quản lý bao giờ chia thành chủ thể và đối tượng của quản lý; quản lý bao giờ cũng liên quan đến trao đổi thông tin

và đều có mối liên hệ ngược; quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi; quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật; quản lý gắn liền với quyền lực, lợi ích và danh tiếng;

- Đặc điểm riêng của lĩnh vực QLGD:

+ QLGD gắn liền với quá trình giáo dục và đào tạo con người, đặc biệt là lao động sư phạm của các nhà giáo;

+ QLGD gắn liền với quyền lực của nhà nước trong việc điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục, thông qua việc xây dựng, ban hành và chấp hành các văn bản như luật, điều lệ, các quy trình, quy chế chuyên môn sư phạm;

Sản phẩm của giáo dục có tính chất đặc thù là hình thành và phát triển nhân cách cho người học, nên QLGD phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn những sai sót trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được tạo ra những

“phế phẩm” trong giáo dục

1.2.3 Quản lý nhà trường

1.2.3.1 Khái niệm về nhà trường

Có nhiều quan niệm về nhà trường, tuy nhiên ở đây chỉ xét 2 quan điểm

là quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng Mác - LêNin về nhà trường nói chung và quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà trường Việt Nam nói riêng

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ Dưới quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng Mac - LêNin thì nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện các chức năng truyền thụ kinh nghiệm xã hội cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng xã hội

+ Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà trường ở Việt Nam: “Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của đất nước mình Vì vậy cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi… phải dạy cho họ có ý chí tự lập tự cường quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” Người cho rằng học tập ở nhà trường chính là yếu tố quyết định đến việc xây dựng đất nước, phục vụ đắc lực cho nâng cao dân trí, đẩy lùi giặc dốt Tầm quan trọng của nhà trường là không thể phủ nhận

Như vậy, nhà trường có thể coi là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong

hệ thống tổ chức xã hội, đóng vai trò tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội

Trong bối cảnh hiện nay, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân có ích cho tương lai Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được cung ứng những nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện những chức năng của mình mà không một thiết chế nào có thể thay thế được Là một thiết chế riêng biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo những kinh nghiệm

xã hội cần thiết cho mọi nhóm dân cư của xã hội đó Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được mục đích xã hội đó đặt ra cho các nhóm dân cư, được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của

xã hội đó

Quá trình sư phạm là quá trình kiến tạo các điều kiện và cơ hội để các cá nhân lĩnh hội, chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, thực hiện xã hội hóa nhân cách

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của mình Nhà trường kiến tạo các kinh nghiệm xã hội thông qua quá trình sư phạm, hay nói cách khác nhà trường là thiết chế chủ yếu để thực hiện quá trình

sư phạm

1.2.3.2 Quản lý nhà trường

Mỗi nhà trường ở Việt Nam đều có hình thức quản lý với chế độ một thủ trưởng, tức là mỗi nhà trường đều có một hiệu trường và hội đồng giáo viên là chủ thể quản lý trực tiếp vận hành hệ thống giáo dục thực hiện các mục tiêu giáo dục chung Bản chất của quản lý trường học là quản lý quá trình giáo dục theo nghĩa rộng

Đối tượng của quản lý nhà trường là các thành tố cấu thành nhà trường vận động xung quanh trục quá trình giáo dục Do đó, đối tượng quản lý nhà trường có thể hiểu là tất cả các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và những nguồn lực được huy động, sử dụng cho quá trình đó Nội dung của quản lý nhà trường được xác định cho từng loại chủ thể quản lý Các chủ thể quản lý bên ngoài nhà trường: Các cấp quản lý, quản lý nhà trường theo trách nhiệm và phạm vi quyền hạn của mình, trong đó các chủ thể quản lý chủ yếu là các chủ thể nằm trong cơ cấu dọc của bộ máy quản lý giáo dục theo phân cấp quản lý Phân cấp quản lý giáo dục ở nước ta sắp xếp từ cấp Bộ (Bộ GD & ĐT) rồi đến các Sở, các Phòng giáo dục… hay còn gọi là quản lý nhà nước về giáo dục

Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy - học, tức

là làm sao đưa được hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục

Bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý nhà trường là những tập hợp tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, xã hội đóng góp,

do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

hiện có chất lượng mục tiêu và có kế hoạch đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới [20]

Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường

* Quản lý nhà trường bao gồm hai tác động sau:

- Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường:

Đó là tác động quản lý của cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, hoặc những chỉ dẫn, những quyết định của các thực thế bên ngoài nhà trường, nhưng có liên quan trực tiếp đến hoạt động của nhà trường, như cộng đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng giáo dục, nhằm định hướng cho sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó;

- Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường: Bao gồm các hoạt động quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học - giáo dục, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa trường học và cộng đồng

Như vậy quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định

đó là nhà trường (đơn vị quản lý giáo dục) Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục Vì vậy quản lý nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo

Có thể khẳng định, nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục, nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường

Có nhiều quan niệm khác nhau về kiểm tra trong quản lý:

+ Harold Koontz: Kiểm tra là đo lường, chấn chỉnh các hoạt động của bộ phận cấp dưới, để tin chắc rằng các mục tiêu và các kế hoạch thực hiện mục tiêu đó đang được hoàn thành;

+ Robert J.Mockler: Kiểm tra là quản trị, là một nỗ lực có hệ thống, nhằm thiết lập những hệ thống, những phản hồi thông tin, nhằm so sánh những kết quả thực hiện với định mức đã đề ra, và để đảm bảo rằng các nguồn lực đang được sử dụng có hiệu quả nhất, để đạt được mục tiêu của tổ chức;

+ Kenneth A.Merchant: Kiểm tra bao gồm tất cả các hoạt động mà nhà quản trị thực hiện để đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch;

+ Theo Nguyễn Hữu Luận (Khoa Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính Quốc gia), kiểm tra là một khái niệm rộng, được thể hiện ở nhiều góc độ như:

Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, hiệu quả hơn;

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật;

Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính nhà nước Trong trường hợp này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền lực nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội

Từ những quan niệm trên có thể thấy: Kiểm tra được hiểu là việc xác lập các tiêu chuẩn, đo lường các kết quả để phát hiện ưu điểm, nhược điểm, từ đó

đề ra các giải pháp để phát huy ưu điểm, sửa chữa, điều chỉnh những lệch lạc, sai lầm, nhằm đảm bảo tổ chức vận hành theo đúng mục tiêu

1.2.4.1.2 Đặc điểm của kiểm tra trong quản lý

- Kiểm tra là một quá trình;

- Kiểm tra là một chức năng của quy trình quản lý;

- Kiểm tra thể hiện quyền hạn và trách nhiệm của nhà quản lý đối với hiệu lực và hiệu quả của tổ chức;

- Kiểm tra là một quy trình mang tính phản hồi

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm tra trong quản lý

1.2.4.1.3 Vai trò của kiểm tra trong quản lý

- Thông qua kiểm tra mà nhà quản lý nắm được tiến độ, mức độ thực hiện công việc của các thành viên trong một bộ phận của tổ chức và của các bộ phận trong một tổng thể của cơ cấu tổ chức;

- Thông qua kiểm tra người quản lý nắm và kiểm soát được chất lượng các công việc được hoàn thành, từ đó phát hiện những ưu điểm và hạn chế trong toàn bộ hoạt động của tổ chức và quy trình quản lý, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp hướng tới mục tiêu

1.2.4.1.4 Các loại hình kiểm tra

Gồm kiểm tra trước khi hoạt động xảy ra,kiểm tra trong khi thực hiện và kiểm tra sau khi thực hiện

- Kiểm tra trước hoạt động: Kiểm tra từ trước khi hoạt động xảy ra, bằng cách tiên liệu những vấn đề có thể xảy ra để ngăn chặn trước Giúp cho tổ chức

Hành động uốn nắn

So sánh thực trạng với chuẩn

Hành động phát huy

Hành động

xử lý

Chưa

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thực hiện kế hoạch chính xác, dự liệu được những vấn đề có thể ảnh hưởng từ thời điểm lên kế hoạch cho đến khi thực hiện Kiểm tra lường trước dựa vào dự báo, dự đoán về sự biến đổi của môi trường;

- Kiểm tra trong khi thực hiện: Bằng cách theo dõi trực tiếp diễn biến trong quá trình thực hiện kế hoạch Mục đích là nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trở ngại khi thực hiện để đảm bảo tiến độ dự kiến;

- Kiểm tra sau khi thực hiện: Bằng cách đối chiếu kết quả thực hiện với

kế hoạch và mục tiêu ban đầu Mục đích nhằm đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện kế hoạch, rút kinh nghiệm Nhược điểm của loại hình kiểm tra này là độ

trễ về thời gian

1.2.4.2 Kiểm tra, thanh tra giáo dục

1.2.4.2.1 Thanh tra giáo dục

* Khái niệm:

Là thanh tra chuyên ngành về giáo dục, thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước về giáo dục nhằm bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong

lĩnh vực giáo dục [3]

* Vai trò của Thanh tra Giáo dục:

Thanh tra Giáo dục là một bộ phận trong ba bộ phận hợp thành tổ chức quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT (Điều 99 Luật giáo dục 2005) Thanh tra Giáo dục được tổ chức ở Trung ương thuộc Bộ GD&ĐT và ở địa phương thuộc Sở GD&ĐT tạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Thanh tra Giáo dục thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi

quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật [3]

* Nhiệm vụ của thanh tra giáo dục

- Thanh tra việc thực hiện chính sách và pháp luật về giáo dục;

- Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục; qui chế chuyên môn, qui chế thi cử, cấp văn bằng,

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chứng chỉ; việc thực hiện các qui định về điều kiện cần thiết bảo đảm chất lượng giáo dục ở các cơ sở giáo dục;

- Thực hiện nhiệm vụ giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực giáo dục theo qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo;

- Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục theo qui định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

- Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục theo qui định của pháp luật về chống tham nhũng;

- Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về giáo dục; đề nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách và qui định của Nhà nước về giáo dục;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật [3]

1.2.4.2.2 Mối liên hệ giữa kiểm tra và thanh tra giáo dục

Dựa trên những phân tích về kiểm tra và thanh tra giáo dục cho chúng

ta thấy:

- Kiểm tra và thanh tra giáo dục giống nhau về mục đích là tạo lập kênh thông tin phản hồi trong quản lí; phát hiện, phân tích, đánh giá thực tiễn một cách chính xác, khách quan, trung thực, làm rõ đúng sai, nguyên nhân dẫn đến sai phạm nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lí vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý

- Kiểm tra và thanh tra giáo dục có những điểm khác nhau:

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nội dung

Về tổ chức

Do thủ trưởng cơ quan trực tiếp (Hiệu trưởng) quyết định thành lập

Là hệ thống tổ chức nhà nước do pháp luật quy định

Cơ quan, tổ chức, cá nhân cấp dưới với những công việc và hoạt động của cấp Thanh tra

cả hai từ thanh tra, kiểm tra

1.2.4.3 Kiểm tra nội bộ, kiểm tra nội bộ trường học

Kiểm tra nội bộ là một trong những chức năng cơ bản của quản lý.Đó là

hoạt động nghiệp vụ mà người quản lý ở bất kỳ cấp nào cũng phải thực hiện để biết rõ những kế hoạch, mục tiêu đề ra trên thực tế đã đạt được đến đâu và như thế nào Từ đó đề ra những biện pháp động viên, giúp đỡ, uốn nắn và điều

chỉnh nhằm thúc đẩy các cá nhân và tổ chức phát triển

Kiểm tra nội bộ trường học là hoạt động xem xét và đánh giá các hoạt

động giáo dục, điều kiện dạy - học, giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường nhằm mục đích phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, phát triển nhà trường,

phát triển người giáo viên và học sinh nói riêng

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Kiểm tra nội bộ trường học, về thực chất gồm hai hoạt động:

+ Hiệu trưởng tiến hành kiểm tra công việc, hoạt động, mối quan hệ của các thành viên, bộ phận và những điều kiện, phương tiện phục vụ dạy học và giáo dục trong nhà trường;

+ Việc tự kiểm tra của các bộ phận, cá nhân trong trường và tự kiểm tra công tác quản lý của hiệu trưởng

1.2.5 Trường Tiểu học

1.2.5.1 Trường Tiểu học

Tiểu học là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, dưới bậc Trung học cơ sở, kéo dài 5 năm từ lớp 1 đến lớp 5

Vị trí trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân: Trường Tiểu học

là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng [4]

* Nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học:

- Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT ban hành;

- Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ

em bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lý các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách;

- Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ GD&ĐT và nhiệm vụ giáo dục đào tạo của địa phương;

- Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục;

- Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh;

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng;

- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục;

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [4]

1.2.5.2 Hiệu trưởng trường Tiểu học

Hiệu trưởng trường Tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường Hiệu trưởng do Trưởng Phòng GD&ĐT bổ nhiệm đối với trường Tiểu học công lập, công nhận đối với trường Tiểu học tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của các cấp có thẩm quyền [4]

Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng trường Tiểu học phải đạt chuẩn Hiệu trưởng trường Tiểu học;

- Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:

+ Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

+ Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;

+ Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

+ Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;

+ Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật,

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;

+ Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp

và các chính sách ưu đãi theo quy định;

+ Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng

xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối

lý nhà trường

- KTNB trường học là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong nhà trường; đồng thời KTNB trường học còn giúp Hiệu trưởng có thông tin chính xác về thực trạng của đơn vị mình, từ đó xác định được nguyên nhân và biện pháp khắc phục những hạn chế cũng như phát huy những điểm tích cực của đối tượng quản lý

- Mặt khác kiểm tra cũng chính là để nhà quản lý nhìn nhận được ưu điểm, hạn chế của công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành có khoa học hay khả thi

không Theo đó có biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3.1.2 Nhiệm vụ của KTNB trường học

- Kiểm tra: Đó là việc xem xét thực hiện nhiệm vụ của đối tượng kiểm

tra so với các qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật và các hướng dẫn của các cấp quản lý Yêu cầu của kiểm tra là phải tỉ mỉ, rõ ràng, chỉ rõ những điều làm được, chưa làm được của đối tượng kiểm tra Còn đối với người được kiểm tra thì cảm thông, hợp tác, chấp nhận việc làm của ban kiểm tra

- Đánh giá: Là việc xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện các

nhiệm vụ theo qui định, phù hợp với bối cảnh và đối tượng để xếp loại đối tượng kiểm tra Yêu cầu của đánh giá là khách quan, chính xác, công bằng đồng thời định hướng, khuyến khích tạo cơ sở cho sự tiến bộ của đối tượng

kiểm tra

- Tư vấn: Nêu được những nhận xét, gợi ý giúp cho đối tượng kiểm tra

thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của mình Yêu cầu của tư vấn là các ý kiến tư vấn phải sát thực, khả thi giúp cho đối tượng kiểm tra nâng cao chất

lượng công việc của mình

- Thúc đẩy: Là hoạt động kích thích, phát hiện, phổ biến các kinh nghiệm

tốt, những định hướng mới và kiến nghị với các cấp quản lý nhằm hoàn thiện dần hoạt động của đối tượng kiểm tra, góp phần phát triển hệ thống giáo dục quốc dân Yêu cầu của thúc đẩy là người kiểm tra phải phát hiện, lựa chọn được kinh nghiệm (của đối tượng kiểm tra, của người khác, của mình…); phổ biến được kinh nghiệm tốt, những định hướng mới cho đối tượng kiểm tra và

có những kiến nghị xác đáng đối với các cấp quản lý nhằm phát triển tổ chức,

phát triển cá nhân trong đơn vị

1.3.2 Nội dung KTNB trường học

Hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường rất phong phú, phức tạp

và nhiều mặt Hiệu trưởng có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ công việc, hoạt động, mối quan hệ, kết quả của toàn bộ quá trình dạy học - giáo dục và những

điều kiện phương tiện của nó, không loại trừ mặt nào

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

* Nội dung KTNB trường phổ thông được xác định cụ thể như sau:

- Về xây dựng đội ngũ, bao gồm: Số lượng và cơ cấu; chất lượng (nguồn đào tạo, trình độ tay nghề, thâm niên); các hoạt động phối hợp của tập thể sư phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy của trường; nền nếp hoạt động (tổ chức, trật tự kỷ cương, kế hoạch); công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng;

- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính:Việc xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất (đất đai, phòng ốc, thư viện, thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học, dụng cụ thể dục thể thao, sân chơi, bãi tập, khu vực vệ sinh, khu để xe, khu bán trú (nếu có) …); việc xây dựng cảnh quan trường học, vệ sinh học đường, môi trường sư phạm; công tác tài chính (chế độ kế toán, tài chính, công khai các nguồn thu chi trong ngân sách và các nguồn huy động khác);

- Về kế hoạch phát triển giáo dục: Thực hiện chỉ tiêu số lượng học sinh từng khối lớp và toàn trường; phổ cập giáo dục; qui chế tuyển sinh; duy trì sĩ

số, chống lưu ban bỏ học; hiệu quả đào tạo;

- Về hoạt động và chất lượng giáo dục, đào tạo: Hoạt động và chất lượng giáo dục đạo đức học sinh; hoạt động và chất lượng giảng dạy, học tập các bộ môn văn hóa và các mặt giáo dục khác;

- Tự kiểm tra công tác quản lý của hiệu trưởng: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch (kế hoạch năm học, học kỳ, kế hoạch tháng của nhà trường và các

bộ phận); việc phân công, sử dụng, quản lý đội ngũ; công tác KTNB trường học; chỉ đạo công tác hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường; thực hiện chế độ chính sách của Nhà nước đối cán bộ, giáo viên, học sinh; việc thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; công tác tham mưu, xã hội hóa giáo dục; quản lý và tổ chức giáo dục học sinh; quan hệ phối hợp công tác giữa nhà trường và các đoàn thể; tổ chức khoa học lao động quản lý nhà trường

Ngoài ra, hiệu trưởng còn cần tự kiểm tra, đánh giá lề lối làm việc, phong cách tổ chức và quản lý của chính mình, tự đánh giá khách quan phẩm

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chất, năng lực và uy tín của mình để tự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của người cán bộ quản lý trường học

* Bên cạnh đó, nội dung KTNB trường học bao gồm:

- Kiểm tra toàn diện nhà trường;

- Kiểm tra thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên;

- Kiểm tra hoạt động của tổ, khối chuyên môn;

- Kiểm tra hoạt động của bộ phận thư viện, thiết bị;

- Kiểm tra công tác bán trú (nếu có);

- Kiểm tra tài chính;

- Kiểm tra hoạt động của bộ phận văn thư hành chính;

- Kiểm tra hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh;

- Tự kiểm tra công tác quản lý của hiệu trưởng

1.3.3 Nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường học

KTNB trường học cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khách quan Đây là nguyên tắc hàng đầu của kiểm tra

- Nguyên tắc đảm bảo tính đối tượng: Kết quả kiểm tra phải phản ánh đúng thực trạng về đối tượng kiểm tra Tránh định kiến, suy diễn cũng như tránh làm hình thức, giả tạo

- Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển: Kiểm tra phải có tác dụng đôn đốc thúc đẩy việc thực hiện được tốt hơn Kiểm tra phải giúp cho nhà quản lý nâng cao hiệu quả quản lý nhờ những thông tin xác thực về hoạt động của đối tượng quản lý và hoạt động của các cấp quản lý trong nhà trường

- Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả: Nghĩa là các lợi ích mà kiểm tra mang lại phải lớn hơn các chi phí cùng hậu quả do kiểm tra gây ra

- Nguyên tắc đảm bảo tính thường xuyên, kịp thời

- Nguyên tắc đảm bảo tính công khai Đó là sự thể hiện dân chủ trong quản lý Cần phải động viên, thu hút cá nhân, đơn vị tham gia vào quá trình

Ngày đăng: 04/02/2020, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w