1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái bản sinh sản tại đà bắc hòa bình

86 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Gordon 2004 trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lượng con cai sữa do một nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất khả năng sinh sản của lợn nái.. Ở Việt

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––––––––

DƯƠNG MẠNH HÙNG

ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ

CHĂN NUÔI LỢN NÁI BẢN SINH SẢN

TẠI ĐÀ BẮC - HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––––––––

DƯƠNG MẠNH HÙNG

ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ

CHĂN NUÔI LỢN NÁI BẢN SINH SẢN

TẠI ĐÀ BẮC - HÒA BÌNH

Ngành: Chăn nuôi

Mã số: 8.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Duy Hoan

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là

trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học Viên

Dương Mạnh Hùng

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS.TS Nguyễn Duy Hoan, người hướng dẫn khoa học đã quan tâm và hướng dẫn tận tình trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của tôi

Tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào tạo - Đào tạo sau Đại học, các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y trường đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng anh chị em cán bộ Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Hòa Bình, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đà Bắc, Ủy ban nhân dân xã Hiền Lương, Giáp Đắt, Mường Chiềng, Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Đà Bắc đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu và thực hiện

đề tài

Lời cảm ơn chân thành tôi xin được gửi tới Lãnh đạo và toàn thể cán bộ Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Hòa Bình, nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện về thời gian cho tôi trong quá trình học tập, cũng như trong giai đoạn thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đà Bắc, Uỷ ban nhân dân các xã Hiền Lương, Giáp Đắt và Mường Chiềng là các cơ quan quản lí nhà nước trên địa bàn tôi triển khai, thực hiện đề tài đã tạo điều kiện và giúp đỡ về nhân lực, vật lực tốt nhất

để tôi hoàn thành bản luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng đề cương và thực hiện bản luận văn này Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận Văn

Dương Mạnh Hùng

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Khái niệm về lợn bản địa 3

1.1.2 Giống lợn và phương thức ăn chăn nuôi 3

1.2 Năng suất sinh sản của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 6

1.2.1 Năng suất sinh sản của lợn nái 6

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 10

1.3 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con theo mẹ và các yếu tố ảnh 15

1.3.1 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con theo mẹ 15

1.3.2 Đặc điểm về sự phát triển của cơ quan tiêu hóa lợn con 15

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của lợn con 17

1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

1.5.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 27

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 30

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.3.1 Nội dung 1: Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn bản tại một số xã 30

2.3.2 Nội dung 2: Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất sinh sản của lợn Bản tại một số xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Nội dung 1: Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn bản tại một số xã 30

2.4.2 Nội dung 2: Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất sinh sản của lợn Bản tại một số xã của huyện Đà bắc, tỉnh Hòa Bình 31

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Kết quả điều tra thực trạng chăn nuôi lợn Bản tại một số xã của huyện 37

3.1.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn Bản ở các xã của huyện Đà Bắc 37

3.1.2 Phương thức và tập quán chăn nuôi lợn Bản tại huyện Đà Bắc 40

3.1.3 Vệ sinh, phòng bệnh trong chăn nuôi lợn Bản Đà Bắc - Hòa Bình 47

3.1.4 Kết quả điều tra về một số đặc điểm sinh lý và năng suất sinh sản của lợn Bản Đà Bắc 49

3.2 Kết quả ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất sinh sản của lợn Bản tại một số xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 52

3.2.1 Tổng hợp các chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn Bản Đà Bắc 52

3.2.2 Một số chỉ tiêu kỹ thuật trên đàn lợn mẹ 56

3.2.3 Tỷ lệ nuôi sống của lợn con 57

3.2.4 Khả năng sinh trưởng của lợn con 58

3.2.5 Hiệu quả kinh tế 62

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CS : Cộng sự ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

ĐC : Đối chứng

GĐ : Giai đoạn

KL : Khối lượng

SS : Sơ sinh TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TN : Thí nghiệm VAC : Vườn, ao, chuồng VACR : Vườn, ao, chuồng, rừng

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng và cơ cấu giống lợn được nuôi tại Đà Bắc 37

Bảng 3.2 Số lượng và quy mô lợn Bản nuôi tại nông hộ tại huyện Đà Bắc 38

Bảng 3.3 Cơ cấu đàn lợn Bản tại 03 xã nghiên cứu 39

Bảng 3.4 Tập quán và phương thức chăn nuôi 41

Bảng 3.5 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn Bản 48

Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh sản của lợn Bản Đà Bắc 49

Bảng 3.7 Tổng hợp năng suất sinh sản của lợn Bản Đà Bắc 52

Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu kỹ thuật trên đàn lợn mẹ 57

Bảng 3.9 Tỷ lệ nuôi sống của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 57

Bảng 3.10 Khối lượng lợn con theo mẹ tại các thời điểm 58

Bảng 3.11 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Bản Đà Bắc giai đoạn từ sơ sinh đến khi cai sữa 60

Bảng 3.12 Sinh trưởng tương đối của lợn Bản Đà Bắc giai đoạn từ sơ sinh đến khi cai sữa 61

Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế khi áp dụng các biện pháp tổng hợp (tính trên 1 ổ) 63

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Loại hình chăn nuôi lợn Bản tại 03 xã khảo sát 42Hình 3.2 Kiểu chuồng chăn nuôi lợn Bản tại 03 xã khảo sát 43Hình 3.3 Phương thức chăn nuôi lợn Bản tại 3 xã khảo sát 44Hình 3.4 Biểu đồ số con sơ sinh, số con sơ sinh sống và số con cai sữa của

lợn Bản Đà Bắc ở lô thí nghiệm và lô đối chứng 54Hình 3.5 Đồ thị khối lương lợn con theo mẹ tại các thời điểm từ sơ sinh khi

cai sữa 59Hình 3.6 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn Bản Đà Bắc, giai đoạn từ sơ

sinh đến cai sữa 60Hình 3.7 Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn Bản Đà Bắc, giai đoạn từ sơ

sinh đến cai sữa 62

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành chăn nuôi chiếm vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, đồng thời tạo việc làm, góp phần làm tăng thu nhập cho người dân Cùng với sự phát triển của

xã hội theo hướng giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế, nước ta đã có nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển như: giao đất, giao rừng, khuyến khích nông dân làm kinh tế VAC, VACR nhờ vậy mà nông nghiệp đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Chăn nuôi an toàn và bền vững là hướng nghiên cứu được quan tâm nhiều trong những năm qua Khuyến khích các hộ chăn nuôi nên sử dụng con giống bản địa và khai thác nguồn thức ăn phong phú, có sẵn, rẻ tiền ở địa phương thay vì phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp Khuyến cáo chăn nuôi theo cả hai hướng, đó là chăn nuôi thâm canh trong các trang trại tập trung quy mô lớn và chăn nuôi theo hướng truyền thống Hiện nay, Nhà nước khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi theo hướng truyền thống do các giống nội địa rất phong phú, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện và tập quán chăn nuôi theo các vùng khác nhau, đáp ứng được nhu cầu đa dạng về sản phẩm Ngoài ra, việc sử dụng các giống bản địa vào thực tiễn sản xuất nhằm bảo tồn đa dạng sinh học cũng là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách phát triển chăn nuôi hiện nay

Tại huyện Đà Bắc - tỉnh Hòa Bình, trong các xóm, bản của người dân tộc Mường, dân tộc Dao, dân tộc Tày lợn Bản được nuôi từ rất lâu đời cho tới nay vẫn được nuôi rộng rãi Trước năm 1990, lợn nuôi được thả rông ra bên ngoài hoặc thả trong rừng Từ năm 1993, người Kinh đến các bản này và gọi chúng là lợn “Bản”,

từ đó đến nay tên này được gọi thông dụng Lợn bản đang được nuôi phổ biến, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh thuộc các xã như: Mường Chiềng, Giáp Đắt, Hiền Lương Một số tác giả nghiên cứu cho biết: Giống lợn địa phương tại đây đẻ ít con, tỉ lệ nuôi sống thấp, chậm lớn, khoảng cách lứa đẻ thưa,…

Nhiều năm qua, số lượng lợn Bản trên địa bàn huyện có xu hướng giảm do công tác quản lý thú y, chăm sóc nuôi dưỡng chưa được quan tâm sát sao, nên số

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

lợn con giai đoạn theo mẹ bị hao hụt và còi cọc chậm lớn Cùng với kỹ thuật chăn nuôi chưa được cải tiến nên hiệu quả kinh tế thấp Giống lợn này cần được bảo tồn

và phát triển nhằm mục đích khai thác những ưu điểm quý của chúng như chịu đựng kham khổ, thích nghi tốt ở điều kiện chăn nuôi quảng canh, chất lượng thịt thơm ngon Chính vì vậy, việc áp dụng một số giải pháp kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt là công

tác quản lý và công tác thú y là hết sức cần thiết Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái Bản sinh sản tại Đà Bắc – Hòa Bình”

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu tổng quát:

Thông qua áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất sinh sản

và hiệu quả trong chăn nuôi lợn nái, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn Bản tại Đà Bắc - Hòa Bình

Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện năng suất sinh sản của lợn mẹ thông qua nâng cao tỷ lệ nuôi sống, sinh trưởng của lợn con giai đoạn theo mẹ

+ Góp phần đề xuất quy trình chăn nuôi lợn Bản sinh sản đạt năng suất và hiệu quả cao để các hộ chăn nuôi áp dụng

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Số liệu nghiên cứu của đề tài này sẽ là tài liệu quan trọng đóng góp vào cơ sở

dữ liệu về các giống lợn bản địa ở Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các cơ quan có thẩm quyền triển khai bảo tồn và sử dụng tốt hơn tiềm năng của lợn bản địa nói chung và lợn Bản Đà Bắc

- Hòa Bình nói riêng

Góp phần xây dựng quy trình chăn nuôi lợn bản sinh sản đạt hiệu quả cao qua

đó nâng cao hiệu quả kinh tế, giúp nông dân xóa đói, giảm nghèo

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Khái niệm về lợn bản địa

Khái niệm lợn bản địa: Việt Nam là nước có nhiều giống lợn rất đặc trưng cho từng vùng sinh thái như vùng đồng bằng châu thổ có lợn Ỉ, lợn Móng Cái, lợn Lang Hồng Các vùng núi và trung du có các giống lợn Mường Khương, lợn Mẹo (lợn Bản H’Mông), lợn Táp Ná, lợn Hạ Lang, Lợn Vân Pa… Qua đây có thể cho thấy lợn bản địa là lợn có nguồn gốc, xuất sứ tại các địa phương, có đặc điểm ngoại hình

và khả năng sản xuất tương đối đồng nhất, được người dân chăn nuôi trong một thời gian dài tại địa phương

Lợn bản địa ở Hoà Bình là giống lợn đã có tại đây từ hàng trăm năm, do có nhiều ưu điểm nên được các dân tộc Mường, Dao trong tỉnh Hoà Bình chăn nuôi đã

Giống lợn nái địa phương, tại các tỉnh phía Bắc các giống như Móng Cái, Mường Khương, nhóm lợn Lang vẫn được sử dụng phổ biến trong sản xuất Tuy nhiên, trong nhiều năm do chưa được chú ý chọn lọc và cải tiến năng suất nên năng suất, chất lượng chưa cao Tăng khối lượng dưới 300 g/con/ngày, tỷ lệ nạc từ 37-38%, ước tính nước ta hiện nay có khoảng 540 ngàn lợn nái nội

Hiện nay, đàn lợn đực giống chủ yếu là lợn ngoại và lợn lai, còn lợn nội hầu như rất ít Trong đó, về cơ cấu đàn đực giống giữa các miền cũng khác nhau: miền Nam lợn Pietrain và lai Pietrain x Duroc chiếm tỷ lệ cao (trên 68%), còn lại là các giống thuần Yorkshire, Landrace, Duroc, lai Yorkshire x Landrace, Pietrain x Landrace và Master; miền Bắc chủ yếu là con lai Landrace x Yorkshire; sau đó là

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các giống thuần Landrace, Yorkshire, Duroc và một số giống của PIC

1.1.2.2 Phương thức chăn nuôi

Đặc điểm nổi bật nhất trong thời gian qua của ngành chăn nuôi lợn nước ta là bên cạnh phương thức chăn nuôi truyền thống, chăn nuôi trang trại tập trung hình thành và có xu hướng ngày càng phát triển, nhất là từ khi có nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại Đây là xu thế phổ biến trên toàn thế giới và là hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quan trọng trong sản xuất chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ở nước ta nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thịt lợn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Việc sử dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau tùy vào điều kiện kinh tế và trình độ chăn nuôi của từng hộ gia đình, từng đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi vùng Hiện nay ở nước ta đang tồn tại cả ba phương thức chăn nuôi lợn, gồm:

 Chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ

Đây là phương thức chăn nuôi phổ biến trong cả nước, chiếm khoảng 75 –

80 % về đầu con, nhưng sản lượng chỉ chiếm khoảng 65 – 70 % tổng sản lượng thịt lợn sản xuất cả nước; quy mô chăn nuôi dao động từ 1-10 con/hộ; thức ăn đầu tư chủ yếu là tận dụng sản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ các sản phẩm trồng trọt và sản phẩm ngành nghề phụ (làm đậu, nấu rượu, làm mì) do đó giảm chi phí đầu tư thức ăn; con giống chủ yếu là giống địa phương hoặc giống có

tỷ lệ máu nội cao (F1: nội x ngoại) Phương thức này có năng suất chăn nuôi thấp, khả năng tham gia thị trường của sản phẩm thấp do lợi nhuận chia cho thương lái (chi phí thu gom, vận chuyển, kiểm dịch và chất lượng) Đặc biệt với phương thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, các cơ quan chức năng cũng như người chăn nuôi không thể kiểm soát được đầu vào (giống, thức ăn) và đầu ra (lợn giống, lợn thịt) trong chăn nuôi lợn, do đó gây nên những rủi ro tiềm tàng về con giống, về dịch bệnh, về

vệ sinh an toàn thực phẩm… nên có thể nói rằng chăn nuôi lợn Việt Nam chưa có tính bền vững cao Phương thức chăn nuôi lợn nông hộ nhỏ lẻ đang có xu hướng giảm dần và trong tương lai sẽ không tồn tại hoặc được cải tiến dần thành chăn nuôi gia trại

 Chăn nuôi gia trại

Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm chăn nuôi truyền thống và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến Mục đích chăn nuôi đã mang đậm tính hàng hóa Đặc trưng của phương thức này là: quy mô đàn lợn từ 10 - 30 nái, hoặc từ

10 - 50 lợn thịt/gia trại có mặt thường xuyên; ngoài các phụ phẩm nông nghiệp thì

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

có khoảng 40 % thức ăn công nghiệp được sử dụng nuôi lợn; con giống chủ yếu là con lai có từ 50-75 % máu lợn ngoại trở lên; công tác thú y và chuồng trại đã được chú trọng Phương thức chăn nuôi nuôi này phổ biến ở các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng (Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam) và phát triển mạnh hầu khắp trong những năm gần đây Năng suất chăn nuôi theo phương thức gia trại tiến bộ hơn nhiều so với phương thức chăn nuôi nông hộ, tuy nhiên năng suất vẫn chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường nhất là nhu cầu về chất lượng thịt

 Chăn nuôi trang trại

Phương thức chăn nuôi này được phát triển mạnh trong những năm gần đây, tính đến năm 2017, cả nước có 17.475 trang trại chăn nuôi lợn (trong đó 4.990 trang trại lợn nái và 12.485 trang trại lợn thịt chiếm 42,2%/tổng số trang trại chăn nuôi Trong đó, miền Bắc có 7182 trang trại, chiếm 41,1%, miền Nam có 10.293 trang trại, chiếm 58,9% Vùng có nhiều trang trại chăn nuôi lợn là Đông Nam Bộ: 6081 trang trại, chiếm 34,8%; tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng: 4508 trang trại, chiếm 25,8%; Đồng bằng sông Cửu Long: 2412 trang trại, chiếm 13,8%; Đông Bắc: 1240 trang trại, chiếm 7,1%; Bắc Trung Bộ: 1153 trang trại, chiếm 6,6%; Tây Nguyên

996 trang trại, chiếm 5,7% Các vùng ít phát triển là Tây Bắc, chỉ có 262 trang trại, chiếm 1,5% tổng số trang trại chăn nuôi lợn trên toàn quốc Phương thức chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 15-20% về đầu con, 25-30% về sản lượng thịt; quy mô từ trên 50 nái hoặc trên 300 lợn thịt có mặt thường xuyên (có trường hợp 11 ngàn lợn nái bố mẹ/1 trại) Yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi lợn công nghiệp rất khắt khe, chỉ có thể sử dụng thức ăn công nghiệp, con giống chủ yếu là lợn ngoại 2 máu hoặc

3 máu, áp dụng công nghệ chuồng trại tiên tiến như: chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sưởi ấm cho lợn con, hệ thống máng ăn, núm uống

tự động… Nhờ đó mà năng suất chăn nuôi được nâng cao, khối lượng xuất chuồng bình quân trên 90 kg/con Chăn nuôi công nghiệp bằng các giống cao sản nhập ngoại là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho các thành phố lớn hiện nay và người tiêu dùng cả nước cũng như xuất khẩu trong tương lai Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì chăn nuôi lợn theo phương thức công nghiệp

ở nước ta vẫn còn trong tình trạng thấp kém cả về trình độ công nghệ và năng suất chăn nuôi, khả năng cạnh tranh sản phẩm thịt lợn còn thấp do việc thiếu quản lý hàm lượng các hoạt chất sinh học trong thức ăn công nghiệp, kỹ thuật giết mổ và chế biến thịt lợn còn nhiều hạn chế

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đã dành nhiều công sức cho việc nghiên cứu các giống lợn địa phương của Việt Nam (Lê Viết Ly, 1999; Trần Thanh Hải và Lê Đình Phùng, 2009) Đặc điểm nổi bật của các giống lợn địa phương là thích nghi với các điều kiện môi trường sinh thái từng vùng, với các điều kiện chăn nuôi nông hộ, có khả năng kháng bệnh cao, sử dụng được thức ăn giàu chất xơ nhưng nghèo dinh dưỡng, thịt thơm ngon (Lê Viết Ly, 1999; Nguyễn Ngọc Phục và

do nên năng xuất không cao, tình hình dịch bệnh không kiểm soát được và thực tế

đã có dịch bệnh xảy ra vì vậy việc phát triển đàn cũng gặp khó khăn

1.1.2.3 Một số hiểu biết về lợn Bản

Lợn Bản là nguồn gen quý được nuôi khắp hầu hết tại các tỉnh miền núi phía bắc, trong đó khá phổ biến ở Điện Biên, Hòa Bình, Sơn La Ở Hòa Bình, lợn Bản thể hiện rõ nét thông qua đàn lợn nái có đặc điểm là lông đen, dài, cứng, da có màu đen tuyền, có trường hợp đen cả mõm và vú, bốn chân Tai lợn nhỏ, dựng đứng, chân nhỏ, đi bằng móng, mắt tinh nhanh, mặt nhỏ, mõm dài, nhọn Đuôi dài nhỏ, lưng hơi võng hoặc thẳng, mình ngắn, lợn trưởng thành bụng gọn, không sệ, vú to

và nổi rõ Dáng lợn đi nhanh nhẹn, khả năng leo đồi rừng khoẻ và nhanh, đặc biệt

có khả năng luồn lách trong các bụi rậm và trốn chạy nhanh, khả năng rũi đất rất khoẻ để tìm kiếm thức ăn Tuổi đẻ lứa đầu của lợn Bản Điện Biên là 451 ngày (Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh, 2010), lợn Bản Hoà Bình có tuổi đẻ lứa đầu

là 388,96 ngày (Vũ Đình Tôn và Phan Đăng Thắng, 2009) Đối với lợn thịt được nuôi bán chăn thả, thời gian nuôi tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng hộ, thường là 4 - 6 tháng (lợn đạt 7 - 15 kg) hoặc 12 tháng tuổi (khối lượng đạt 40 - 50 kg) khi đó đạt yêu cầu giết thịt làm thực phẩm hoặc bán

1.2 Năng suất sinh sản của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng

1.2.1 Năng suất sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản lợn nái là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi lợn nái Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm rất nhiều chỉ tiêu: Số con đẻ ra, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, Do đó, để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải xác định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng Các chỉ

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái từ lứa

đẻ đầu tiên đến lứa đẻ cuối cùng

Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: Số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm Một

số tác giả cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản cho phép đánh giá lợn nái bao gồm: Tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con/ổ, thời gian động dục trở lại Các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm: Số trứng rụng,

tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa

Theo Gordon (2004) trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lượng con cai sữa

do một nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất khả năng sinh sản của lợn nái Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số lượng lợn con cai sữa của 1 nái/năm là: Tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh), tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau

Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá trên các mặt: Chu kỳ động dục, tuổi thành thục sinh dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa, số con sơ sinh/lứa Ở Việt Nam, Tiêu chuẩn nhà nước về lợn giống (TCVN 1980-1981, TCVN 1982-1981) đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái tại các cơ sở giống nhà nước là: Số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày, khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách lứa đẻ đối với nái

Như vậy, năng suất sinh sản lợn nái được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu chính sau:

- Tuổi phối giống lần đầu:

Là số ngày được tính từ khi lợn nái được sinh ra đến ngày được phối giống lần đầu Tuổi phối lần đầu là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự thành thục về tính

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cũng như thành thục về thể chất của lợn nái Một số nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng đáng kể của tuổi phối giống lần đầu lên năng suất sinh sản của con nái bao gồm các chỉ tiêu: Số thai, tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra/lứa và tuổi sử dụng của lợn nái Lợn nái có tuổi phối giống lần đầu thấp thì số con đẻ ra/lứa thấp hơn

ở lứa đầu và lứa thứ 2, nhưng tuổi sử dụng con nái dài hơn so với những con cái hậu bị có tuổi phối giống cao hơn

- Tuổi đẻ lứa đầu:

Là số ngày được tính từ khi lợn nái được sinh ra đến ngày lợn đẻ lần đầu Đây

là một chỉ tiêu rất quan trọng có liên quan chặt chẽ đến tuổi phối giống lần đầu, nó cho biết độ tuổi bắt đầu khai thác khả năng sinh sản của lợn nái Tuổi đẻ lứa đầu càng sớm thì thời gian sử dụng lợn nái càng dài

Tuổi đẻ lứa đầu là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng đẻ sớm của lợn nái Tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái phụ thuộc vào tuổi phối giống lần đầu, tỷ lệ phối giống lần đầu có chửa và thời gian mang thai (Holm và cs, 2004) Tuổi đẻ lứa đầu có hệ

số di truyền thấp nên chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố ngoại cảnh Chỉ tiêu này có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Bởi nếu lợn nái bị đưa vào khai thác quá sớm khi thể vóc phát triển chưa hoàn thiện thì số trứng rụng ít, dẫn đến số con đẻ ít, khối lượng sơ sinh thấp, tỷ lệ chết cao, hao hụt lợn nái lớn làm ảnh hưởng đến lứa đẻ tiếp theo Ngược lại, nếu đưa nái vào khai thác quá muộn thì sẽ làm giảm năng suất sinh sản của lợn nái, thời gian sử dụng nái giảm và giảm hiệu quả chăn nuôi

- Số con đẻ ra/ổ:

Số con đẻ ra/ổ là tổng tất cả số con đẻ ra còn sống, số con chết khi sinh và số thai chết lưu Chỉ tiêu này đánh giá số trứng được thụ tinh và kỹ thuật phối giống cũng như kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái mang thai Số con đẻ ra nhiều hay

ít phụ thuộc vào số hợp tử được hình thành và khả năng nuôi thai của lợn mẹ Chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp h2 = 0,10 - 0,15; có tương quan kiểu hình thuận và chặt chẽ với số con sơ sinh sống, r = 0,92 (Rothschild và Bidanel, 1998) Do vậy,

nó quyết định nhiều đến số con đẻ ra còn sống/ổ hay nói cách khác nâng cao được

số con đẻ ra/ổ cũng có ý nghĩa góp phần nâng cao được số con còn sống/ổ Số con

đẻ ra/ổ khác nhau qua các lứa đẻ và tuân theo một quy luật, lứa đầu không cao sau đó tăng lên ở lứa thứ 2, tương đối ổn định ở các lứa tiếp theo đến lứa 6-7 sau

đó giảm dần

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Số con sơ sinh sống/ổ:

Đối với lợn nái, số con sơ sinh sống là tính trạng quan trọng nhất, là chìa khóa quyết định năng suất, chất lượng đàn nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái Số con

sơ sinh sống/ổ là một chỉ tiêu đánh giá sức sống của thai, khả năng nuôi thai của lợn

mẹ và kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái trong thời kỳ mang thai Chỉ tiêu này có tương quan di truyền thuận và chặt chẽ với số con cai sữa, r =0,81 (Rothschild và Bidanel, 1998) Do vậy, việc chọn lọc nâng cao số con sinh ra còn sống/ổ sẽ góp phần quyết định đến việc tăng số con cai sữa/ổ và số con cai sữa/nái/năm

- Số con để nuôi/ổ:

Là số con sơ sinh sống/ổ được để lại nuôi Trên thực tế, một số trường hợp trong đàn có con sơ sinh bị yếu, dị tật… hay số con sơ sinh sống/ổ nhiều hơn số vú của nái (thường người ta chỉ để lại số con nuôi tới cai sữa <= số vú của nái), người

ta sẽ loại thải những con yếu và tách một số con đem gửi nuôi nái khác (số con chuyển ghép) Số con để nuôi/ổ = Số con sơ sinh sống/ổ - Số con chuyển ghép - Số con loại thải

Số con để nuôi/ổ có hệ số di truyền thấp (h2 = 0,064-0,076) nên chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, có sự liên quan chặt chẽ với số vú, khả năng nuôi con, sức khoẻ của lợn nái và trình độ kỹ thuật của cơ sở chăn nuôi

- Khối lượng sơ sinh/ổ:

Chỉ tiêu này phụ thuộc vào số con sơ sinh/ổ và khối lượng sơ sinh/con, chỉ tiêu này có tương quan di truyền thuận và chặt chẽ với số con sơ sinh/ổ, r = 0,65 (Rosthchild và Bidanel, 1998)

- Khối lượng sơ sinh/con:

Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh là chỉ tiêu thể hiện khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi Chỉ tiêu khối lượng sơ sinh/con có liên quan đến số con

đẻ ra còn sống/ổ và có ảnh hưởng đến mức độ tăng khối lượng của lợn con trong giai đoạn theo mẹ và sau cai sữa

Mối quan hệ giữa khối lượng sơ sinh/con và khối lượng cai sữa/con đã được một số tác giả công bố: Khối lượng sơ sinh/con có ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể

và tăng khối lượng/ngày đêm của lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (Deen và Bilkei, 2004), khối lượng cơ thể và mức tăng khối lượng/ngày của lợn con ở các giai

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đoạn từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi và từ 3 đến 8 tuần tuổi tăng theo khối lượng sơ sinh/con (Phan Xuân Hảo, 2007) Theo Gondron (2004) khối lượng sơ sinh có ảnh hưởng tới tăng khối lượng của lợn con ở giai đoạn theo mẹ cũng như giai đoạn sau cai sữa

- Số con cai sữa/ổ:

Số con cai sữa/ổ là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào sức sống của lợn con trong thời gian theo mẹ, tính nuôi con khéo của lợn mẹ và điều kiện quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng của các cơ sở chăn nuôi đối với lợn mẹ và lợn con Chỉ tiêu số con cai sữa/ổ có tương quan kiểu hình thuận với số con sơ sinh sống/ổ

- Khối lượng cai sữa/con:

Khối lượng cai sữa/con giúp đánh giá mức độ tăng khối lượng của lợn con trong giai đoạn theo mẹ và khả năng nuôi con của lợn nái Khối lượng cai sữa/con, phụ thuộc vào độ đồng đều của đàn lúc sơ sinh, tỉ lệ nuôi sống, độ đồng đều khi cai sữa, khối lượng cai sữa toàn ổ và số con cai sữa/ổ

- Khối lượng cai sữa/ổ:

Khối lượng cai sữa/ổ là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, đánh giá năng suất và chất lượng sữa mẹ, khả năng nuôi con của lợn mẹ và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Chỉ tiêu này phụ thuộc vào số con cai sữa/ổ, số ngày cai sữa, giống, lứa đẻ và khối lượng sơ sinh

- Khoảng cách lứa đẻ:

Là số ngày từ ngày đẻ của lứa đẻ này đến ngày đẻ của lứa đẻ tiếp theo Bao gồm: Thời gian nuôi con, thời gian chờ phối, thời gian mang thai Trong đó, thời gian mang thai thường cố định hoặc biến đổi rất nhỏ nên khoảng cách hai lứa đẻ phụ thuộc vào thời gian nuôi con và thời gian chờ phối

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái

a) Các yếu tố di truyền

Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố Một số tác giả nghiên cứu trên lợn Landrace và Yorkshire, nhận thấy yếu tố giống ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng số con/ổ (số con sơ sinh,

số con sơ sinh sống, số con cai sữa), khoảng cách lứa đẻ và khối lượng toàn ổ giai đoạn sơ sinh, cai sữa (Trần Thị Minh Hoàng và cs, 2008) Theo Đặng Vũ Bình (1999), khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại (Landrace và Yorkshire) nuôi tại Xí nghiệp lợn giống Mỹ Văn cho thấy giống chỉ ảnh hưởng tới số con để nuôi (P<0,05)

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Lợn thuộc các giống khác nhau thì sự thành thục về tính cũng khác nhau Sự thành thục về tính ở các giống lợn có tầm vóc và khối lượng nhỏ thường sớm hơn

so với các giống lợn có tầm vóc và khối lượng lớn Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xuất hiện lúc 3-4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6-7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild và Bidanel, 1998) Giống lợn Meishan (MS) có tuổi thành thục về tính sớm, năng suất sinh sản cao và chức năng làm mẹ tốt So với giống lợn Large White, lợn MS đạt tuổi thành thục về tính sớm hơn khoảng 100 ngày và có số con

sơ sinh nhiều hơn 2,4-5,2 con/ổ

Các chỉ tiêu sinh sản thường có hệ số di truyền thấp, tuổi đẻ lứa đầu với h2=0,27 (Rydhmer và cs, 1995), hệ số di truyền đối với tính trạng số con sơ sinh/ổ và số con cai sữa/ổ của một số công bố đều dao động 0,03-0,12 Trong đó, số con sơ sinh/ổ có

h2=0,03 (Imboonta và cs, 2007), h2 = 0,12 (Schneider và cs, 2011), số con cai sữa/ổ có

h2=0,11 (Schneider và cs, 2011) Khối lượng sơ sinh/ổ có h2=0,07 (Grandinson và cs, 2005) và h2=0,18 (Schneider và cs, 2011), khối lượng sơ sinh/con có h2=0,44 (Schneider và cs, 2011), khối lượng cai sữa/ổ có h2=0,21 (Lundgren và cs, 2010) và

h2=0,22 (Schneider và cs, 2011) Khoảng cách giữ hai lứa đẻ có h2=0,08 (Rydhmer và

cs, 1995) Các chỉ tiêu sinh sản có hệ số di truyền thấp nên năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng lớn bởi tác động của các yếu tố môi trường

Trong chọn lọc nhân thuần, đối với các tính trạng năng suất sinh sản thường đạt tiến bộ di truyền chậm hơn so với nhóm các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thịt Ngoài ra, năng suất sinh sản của lợn nái cũng chịu ảnh hưởng của cận huyết Khi hệ

số cận huyết ở lợn nái tăng thêm 10% thì số con đẻ ra sẽ giảm khoảng 0,29 con/ổ Tại các trang trại nuôi lợn nái, tỉ lệ lợn con chết khi sơ sinh khoảng 6 - 8%, đây là các trường hợp thai chết ngay trước lúc sinh hoặc trong khi đẻ Tuy nhiên, lợn nái nhạy cảm stress nhiệt có tỉ lệ chết sơ sinh cao hơn Tỉ lệ lợn con sơ sinh bị dị dạng hay khuyết tật di truyền chiếm 1% Những dị tật này có thể do các yếu tố môi trường hay di truyền gây ra và hội chứng stress được xem như là một biến dị di truyền ảnh hưởng đến tỉ lệ này

b) Các yếu tố ngoại cảnh

- Chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản, thời gian sử dụng

và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái Để đạt năng suất sinh sản tốt nhất thì

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cái hậu bị và lợn nái cần được cung cấp chế độ dinh dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối thành phần các chất dinh dưỡng

Nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải lợn cái so với lợn cái hậu bị được nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống

Lợn nái ăn gấp đôi lượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở ngày phối giống so với bình thường có tác dụng làm tăng số lượng trứng rụng và số con

đẻ ra/ổ Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái đẻ lứa đầu

Zimmerman và cs (1996), cho biết, các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa tới phối giống trở lại có ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Cho ăn mức năng lượng cao trong vòng 7-10 ngày của chu kỳ động dục trước khi phối giống, số trứng rụng đạt được tối đa Tuy nhiên, nếu tiếp tục cho ăn với mức năng lượng cao vào đầu giai đoạn có chửa sẽ làm tăng tỷ lệ chết phôi và giảm số lượng lợn con sinh ra trong ổ Cho lợn ăn quá nhiều gây lãng phí thức ăn, giảm hiệu quả kinh tế và tăng khả năng chết thai Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng khẩu phần

ăn của lợn nái thiếu vitamin, khoáng có thể gây chết toàn bộ phôi

Mức ăn của lợn nái trong giai đoạn nuôi con và giai đoạn chờ phối sau cai sữa cũng ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của chúng Mức ăn trong giai đoạn nuôi con không ảnh hưởng tới tỷ lệ rụng trứng, số con trong mỗi lứa đẻ tiếp theo và tỷ lệ hao hụt của lợn con Tuy nhiên, mức ăn cao trong giai đoạn chờ phối sau cai sữa có ảnh hưởng tích cực tới tỷ lệ rụng trứng và số con sơ sinh/ổ của lứa đẻ tiếp theo

- Mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng

Mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Ảnh hưởng quan trọng nhất của mùa vụ là giảm tỷ lệ phối giống có chửa và giảm tỷ lệ đẻ của lợn nái Bên cạnh đó, mùa vụ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái như lợn nái chậm thành thục về tính, thời gian phối lại sau cai sữa kéo dài, tỷ lệ chết thai cao hơn, tỷ lệ sảy thai tăng lên và số con sơ sinh/ổ giảm Nhiều nghiên cứu đã chia các ảnh hưởng của mùa vụ thành hai nhóm, bao gồm ảnh hưởng của quang kỳ và ảnh hưởng của nhiệt độ Stress nhiệt vào thời điểm phối giống có thể ảnh hưởng đến quá trình rụng trứng và làm mất cân bằng nội tiết của các lợn nái, do đó làm tăng tỷ lệ không đậu thai của lợn nái Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20% và do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái Ngoài ra, stress nhiệt còn ảnh hưởng đến quá trình tiết sữa của

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

lợn nái trong giai đoạn nuôi con Các gia súc tiết sữa có những cơ chế đặc biệt điều tiết giảm tiết sữa khi phải chịu đựng các bức xạ nhiệt từ môi trường nhiệt độ cao Mùa vụ ảnh hưởng đến lượng thức ăn tiêu thụ của lợn nái trong giai đoạn tiết sữa Koketsu và cs (1997), phân tích các nhân tố ảnh hưởng bằng chương trình

“General Linear Model” của SAS cho thấy, nái đẻ vào mùa hè và mùa xuân có thời gian từ cai sữa đến phối có chửa lứa tiếp theo là dài nhất, trong đó nái đẻ vào mùa

hè có khối lượng cai sữa/lứa thấp hơn nái đẻ vào mùa xuân Lorvelec và cs (1998), nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sinh sản của lợn nái Large White đã đưa ra kết luận: Số con sơ sinh/lứa của lợn nái trong mùa khô, mát cao hơn 25% so với mùa lạnh, ẩm ướt

Theo Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng (2009), yếu tố mùa vụ ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng sinh sản như: Số con sơ sinh, số con sơ sinh

sống, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, Pholsing và cs

(2009), nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Pietrain tại Thái Lan chỉ ra rằng các tính trạng sinh sản ít bị thay đổi trong cùng điều kiện khí hậu

- Ảnh hưởng của lợn đực và phương thức phối

Lợn đực có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, ảnh hưởng của

cá thể đực giống đối với tỷ lệ thụ thai là rõ rệt Nếu sử dụng đực giống quá già hoặc quá non cũng sẽ làm giảm số con trong một lứa đẻ Có thể tăng thêm tỷ lệ thụ thai

và số con sơ sinh/ổ bằng cách sử dụng tinh của nhiều đực cho một nái (phối kép) Điều này tạo cơ hội để sử dụng tối đa lợn đực có khả năng thụ tinh và khả năng phù hợp trên lợn cái

- Chế độ nuôi nhốt, điều kiện chuồng trại

Chế độ nuôi nhốt lợn nái ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái và lợn cái hậu bị Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt hoàn toàn có thế gây chậm động dục hoặc lợn cái không động dục Để khắc phục vấn đề này, không nên nuôi nhốt lợn cái hậu

bị hoàn toàn mà thả chúng ra bên ngoài trước thời kỳ phối giống (Zimmerman và cs,

1996) Những cái hậu bị được nuôi theo nhóm có thời gian thành thục về tính ngắn hơn

so với nuôi nhốt cá thể hoặc nuôi riêng biệt từng lợn cái hậu bị Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu khuyến cáo không nên nuôi lợn cái giai đoạn hậu bị tách biệt đàn

Mật độ và điều kiện vệ sinh chuồng trại cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y thì tuổi động dục lần đầu của lợn nái sẽ bị chậm ít nhất một tháng Để đạt kết quả tốt thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều về giống, tuổi,

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

khối lượng Giai đoạn nuôi hậu bị, lợn cái nhốt chung sẽ tốt hơn nuôi riêng biệt từng con và phải đảm bảo diện tích tối thiểu 0,8-1 m2/con

- Ảnh hưởng của lứa đẻ

Yếu tố lứa đẻ ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê rõ rệt đến tất cả các tính trạng năng suất sinh sản (Trần Thị Minh Hoàng và cs, 2008; Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng, 2009)

Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba Số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng Ngoài ra, lợn nái kiểm định (lứa thứ nhất) có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản

Một số nghiên cứu đề cập ảnh hưởng của lứa đẻ đến số con sơ sinh/ổ; số con

sơ sinh/ổ thấp nhất ở lứa thứ nhất, tăng dần và đạt tối đa ở lứa thứ ba, lứa thứ tư và lứa thứ năm, sau đó giảm dần ở các lứa tiếp theo Theo Tretinjak và cs, (2009) số con sơ sinh/ổ thường thấp nhất ở lứa thứ nhất, tăng lên và đạt cao nhất ở lứa thứ 3 đến lứa thứ 5

Về khả năng tiết sữa, nhiều tác giả đã chỉ ra rằng sản lượng sữa của những lợn nái kiểm định thấp hơn khoảng 20% so với những lợn nái đẻ từ lứa hai trở lên Sự khác biệt này có thể do lượng thức ăn tiêu thụ thấp hơn và nhu cầu đáp ứng cho tăng trưởng tiếp tục của lợn nái kiểm định Thông thường, khả năng tiết sữa và nuôi con của lợn nái được đánh giá thông qua khối lượng lợn con 21 ngày tuổi/ổ Chỉ tiêu năng suất này đạt cao nhất ở lứa thứ hai, rồi giảm dần trong các lứa tiếp theo (Rydhmer và cs, 1989) Như vậy, khi đánh giá di truyền trên các tính trạng số con

sơ sinh sống/ổ và khối lượng 21 ngày tuổi/ổ, cần theo dõi ghi chép chính xác, đầy

đủ các yếu tố ảnh hưởng như tuổi phối giống lần đầu hay lứa đẻ của lợn nái

- Thời gian cai sữa

Năng suất sinh sản của lợn nái bị ảnh hưởng lớn bởi thời gian cai sữa, đặc biệt các chỉ tiêu như: Tỷ lệ đẻ, số con đẻ ra, khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian sử dụng lợn nái, Phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài Giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con trong ổ, lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày

có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Gordon, 2004)

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con theo mẹ và các yếu tố ảnh hưởng

1.3.1 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con theo mẹ

Sau khi được sinh ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con sẽ phải trải qua 4 giai đoạn (bú sữa, thành thục, trưởng thành và già cỗi) Giai đoạn bú sữa rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới khối lượng lợn con cai sữa Nếu nuôi dưỡng tốt lợn con ở giai đoạn này

sẽ làm tăng khả năng sinh sản của lợn mẹ và làm cơ sở cho quá trình sinh trưởng của lợn con những giai đoạn tiếp theo

Đặc điểm sinh trưởng của lợn con: Lợn con có khả năng sinh trưởng rất mạnh, thể hiện bằng khả năng tăng khối lượng của cơ thể Sau khi đẻ ra 1 tuần khối lượng lợn con gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, đến khi cai sữa ở 60 ngày tuổi gấp 10-

15 lần Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt chẽ với khối lượng

sơ sinh Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa càng lớn Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh cao là cần thiết, làm tiền đề cho khối lượng cai sữa Tốc độ sinh trưởng của lợn con lớn nhất ở 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần và giảm nhanh hơn cho đến 60 ngày tuổi Điều này phù hợp với quy luật tiết sữa của lợn mẹ (cao nhất về số lượng và chất lượng ở 21 ngày sau đẻ, giảm dần đến 45 ngày sau đó giảm rất nhanh) Mặt khác sau 21 ngày tuổi, lượng sắt trong máu lợn con rất thấp do lượng dự trữ trong gan đã hết làm cho lợn con mắc bệnh thiếu máu, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát dục của lợn Để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng mà dinh dưỡng từ sữa mẹ giảm, cần tập cho lợn con ăn sớm vào giai đoạn từ 7 - 10 ngày tuổi Việc này có tác dụng rất lớn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, vừa đảm bảo đáp ứng dinh dưỡng cho con vừa làm giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm cho lợn con quen dần với các loại thức ăn sau này

1.3.2 Đặc điểm về sự phát triển của cơ quan tiêu hóa lợn con

Thời kỳ này đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa con đó chính là sự phát triển rất nhanh của bộ máy tiêu hóa nhưng chưa hoàn thiện về chức năng Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Trong thời gian bú sữa trọng lượng bộ máy tiêu hóa lợn con tăng lên từ 10 - 5 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài ruột già tăng lên 40 - 50 lần Tuyến tụy ở 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, trọng lượng của gan gấp 3 lần so với khi sơ sinh Lúc đầu dạ dày chỉ nặng 6 - 8 gam

và chứa được 35 - 50 gam sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và 60 ngày tuổi đã nặng 150 gam và chứa được 700 - 1000 gam sữa

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Sự chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một số men trong đường tiêu hóa heo con bị hạn chế Theo Kavasnhixki dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có axít HCl ở dạng tự do, vì lượng axít này tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch Ngoài sự thiếu HCl tự do còn có sự giảm axít trong dịch vị thức ăn liền với HCl làm cho hàm lượng HCl tự

do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu HCl tự

do trong dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng ỉa chảy ở lợn con Cũng theo tác giả này thì khả năng tiêu hóa protein của lợn con tùy thuộc vào lượng axít tự do ở trong dạ dày và sau 3 tuần tuổi thì lợn con có khả năng này Tuyến tụy bắt đầu hoạt động trong thời kỳ bào thai và bào thai càng lớn hoạt động tuyến tụy càng tăng lên, dịch tụy cũng được phân tiết tăng lên theo tuổi

Men tiêu hóa tinh bột amylaza tụy có ngay ở thời kỳ sơ sinh song hoạt lực thấp và tăng cao dần ở 4 - 6 tuần tuổi, đây là loại men có vai trò rất quan trọng trong tiêu hóa tinh bột do lượng men lớn và thời gian tiếp cận với cơ chất dài Maltaza và sacraza thì những tuần đầu sau khi sinh hàm lượng thấp và sau đó tăng dần đạt mức cao ở 5 - 6 tuần tuổi Khả năng tiêu hóa tinh bột của heo con trong 4 tuần tuổi đầu còn kém chỉ đạt 50% lượng tinh bột ăn vào, khoảng tuần 5 - 6 khả năng tiêu hóa tinh bột tương đối hoàn thiện

Men tiêu hóa mỡ (lipaza): men này hoạt động mạnh ngay từ khi mới sinh ra

và tương đối ổn định trong suốt thời kỳ bú sữa

Men tiêu hóa protein: men pepsin có ngay từ khi sơ sinh và tăng dần tới 5 - 6 tuần tuổi Men tripsin ở thời kỳ bào thai lúc 2 tháng tuổi đã có tripsin, thai càng lớn hoạt tính của tripsin càng cao, khi mới đẻ hoạt tính của tripsin rất cao để bù lại khả năng tiêu hóa kém của pepsin dạ dày

Tập cho heo con ăn sớm: tập cho heo con ăn sớm và cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho heo con là khâu quan trọng nhất để có thể đạt được năng suất chăn nuôi cao

Theo Vũ Đình Tôn (2009), tập ăn sớm cho heo con nhằm bổ sung chất dinh dưỡng cho heo con, tránh được thời kỳ khủng hoảng xảy ra vào giai đoạn sau 3 tuần tuổi, tạo điều kiện cho cơ quan tiêu hóa phát triển và sớm hoàn thiện hơn Bảo đảm được dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng hơn, bù đắp những yếu tố hạn chế ở sữa lợn

mẹ Sớm cho sản phẩm và đạt khối lượng lúc cai sữa cao, theo một nghiên cứu của Pháp thì khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng 57% của thức ăn tập ăn, 38% thức ăn của sữa mẹ, 5% của khối lượng sơ sinh Có điều kiện cai sữa sớm cho heo con từ

đó nâng cao số lứa đẻ của lợn nái

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của lợn con

a) Các yếu tố di truyền

- Ảnh hưởng của giống:

Tốc độ sinh trưởng của lợn phụ thuộc vào khả năng và cách thức sinh tổng hợp protein mà 2 yếu tố này hoạt động theo sự điều khiển của các gen sinh trưởng trong cơ thể (Wood và cs, 1987) Đã có nhiều nghiên cứu được công bố cho thấy các giống lợn khác nhau có khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt khác nhau Theo Giang Hồng Tuyến và cs (2007) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt của 2 nhóm giống Móng Cái MC3000 và MC15 đã cho biết nhóm giống có ảnh hưởng rõ rệt (P<0,001) đến khối lượng bắt đầu, khối lượng kết thúc và tăng khối lượng trung bình/ngày Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng tăng khối lượng, năng suất thịt của lợn Móng Cái, Thuộc Nhiêu và Phú Khánh cũng cho thấy sự khác nhau rõ rệt với mức P<0,001 (Nguyễn Văn Đức, 1999)

Các chỉ tiêu tăng khối lượng trung bình/ngày, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, thu nhận thức ăn/ngày có hệ số di truyền ở mức trung bình (h2 = 0,31) (Clutter và Brascamp, 1998), các chỉ tiêu tỉ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỉ lệ nạc hoặc tỉ lệ thịt nạc/thịt xẻ, độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có hệ số di truyền cao (h2 = 0,3-0,6) (Sellier, 1998) Theo Ducos (1994), trong số các chỉ tiêu thân thịt thì

hệ số di truyền của tỉ lệ móc hàm là thấp nhất (h2 = 0,3-0,35) và chiều dài thân thịt

là cao nhất (h2 = 0,56-0,57) Các tính trạng thuộc chất lượng thịt như khả năng giữ nước (tỉ lệ mất nước), màu sắc thịt, cấu trúc cơ, thành phần hoá học của cơ, pH45 và pH24 sau khi giết thịt có hệ số di truyền ở mức h2 = 0,1-0,3 (Sellier, 1998) Bên cạnh

hệ số di truyền, mối tương quan giữa các tính trạng cũng cần được xem xét Tương quan di truyền giữa một số cặp tính trạng là thuận và chặt chẽ như giữa tăng khối lượng và thu nhận thức ăn (r = 0,65) (Clutter và Brascamp, 1998), tỉ lệ nạc với diện tích cơ thăn (r = 0,65), bên cạnh đó là các tương quan nghịch và chặt như giữa tỉ lệ nạc với độ dày mỡ lưng (r = - 0,87) (Stewart và Schinckel, 1989), tỉ lệ mất nước với pH24 (r = - 0,71) Các chỉ tiêu thân thịt như tỉ lệ móc hàm, tỉ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn là khác nhau ở các giống lợn khác nhau Cụ thể: lợn Landrace có chiều dài thân thịt dài hơn so với lợn Large White khoảng 1,5

cm, ngược lại tỉ lệ móc hàm ở Large White lại cao hơn so với Landrace (Sather và

cs, 1991; Hammell và cs, 1993); lợn Hampshire có thân thịt nhiều nạc hơn nhưng thường ngắn hơn và có khối lượng lớn hơn so với lợn Large White (Smith và cs, 1990; Berger và cs, 1994)

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nhiều nghiên cứu trên các giống lợn bản địa cũng cho biết khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt giữa các giống lợn là khác nhau Trong một nghiên cứu, Vũ Đình Tôn và cs (2012) cho biết khả năng tăng khối lượng ở giai đoạn 30, 60 và 90 ngày tuổi giữa lợn Bản thuần và lợn Móng Cái lai lợn Bản có sự sai khác với mức ý nghĩa P<0,05; Nghiên cứu trên lợn Khùa và lợn Khùa lai lợn Rừng của Nguyễn Ngọc Phục và cs (2010) cho biết hầu hết các chỉ tiêu về sinh trưởng, cho thịt (ngoại trừ tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ xương, tỷ lệ da) đều có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05), nhưng chất lượng thịt sai khác không có ý nghĩa (P>0,05)

Nhiều nghiên cứu đi sâu về bản chất di truyền của giống đó là ảnh hưởng của các gen Các tính trạng nuôi vỗ béo, thân thịt và chất lượng thịt cũng bị chi phối bởi một số gen như gen halothan và gen Rendement Napoli (Le Roy và cs, 1999) Rất nhiều công trình nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ tiêu thân thịt và chất lượng thịt với gen halothan đã được công bố Lợn có phản ứng halothan dương tính (nn) cho thân thịt nạc hơn so với lợn có phản ứng halothan âm tính (NN, Nn) (Phan Xuân Hảo, 2002) Tính nhạy cảm với halothan chủ yếu làm giảm nhanh pH trong cơ sau khi giết thịt Nghiên cứu của Đỗ Võ Anh Khoa và cs (2010) cũng cho thấy mối liên quan giữa các đa hình gen H-FABP (heart-fatty acid binding protein) và HAL với các chỉ tiêu chất lượng thịt như khả năng giữ nước của lợn lai Yorkshire x Landrace

Kuryl và cs (2003) đã chứng minh có mối tương quan giữa đa hình gen Leptin với tính trạng chất lượng thịt của nhiều giống lợn khác nhau Kết quả cho thấy kiểu gen Leptin TT liên quan tới tỷ lệ nạc cao, mỡ đùi thấp Nguyễn Văn Cường và cs (2003) cũng đã công bố có sự sai khác di truyền của gen PIT1 và gen Leptin liên quan đến chất lượng thịt ở lợn Nguyễn Văn Nơi và cs (2010) cho biết lợn đực rừng Thái Lan và lợn nái địa phương Pác Nặm mang gen GHRH dạng đồng hợp tử AA có tốc độ tăng khối lượng/ngày cao nhất (tháng thứ 7 đến 8) cao hơn so với lợn mang kiểu gen AB và BB

b) Các yếu tố ngoại cảnh

- Phương thức nuôi dưỡng:

Có ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của lợn con (theo dõi 3 phương thức nuôi dưỡng là bú mẹ, bú mẹ + sữa bổ sung và nuôi hoàn toàn nhân tạo thì tăng trọng lần lượt là 237 g, 324 g và 576 g/ngày) Mức năng lượng chung cho lợn con hàng ngày ở 1 tuần tuổi là 965 Kcal, ở 3 tuần tuổi là 1430 Kcal/kgTA Ở Việt Nam, mức năng lượng trao đổi thức ăn cho lợn con 10 – 20 kg là 3000 Kcal/kg với lợn nội, 3200 Kcal/kg với lợn lai và lợn ngoại Nhật Bản đưa ra mức năng lượng trao

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đổi (ME) cho lợn có khối lượng cơ thể từ 1 – 5 kg là 0,850 Mcal/ngày; 5 – 10 kg là 1,41 Mcal/ngày và 10 – 30 kg là 3,58 Mcal/ngày

Việc cai sữa sớm cho lợn con hiện nay đã khá phổ biến, đặc biệt là đối với lợn ngoại (21 - 28 ngày) Người ta đã thấy có mối tương quan thuận giữa khối lượng cai sữa và khối lượng lúc 56 ngày tuổi Tuy nhiên đối với lợn con được nuôi hoàn toàn bằng thức ăn thay thế sữa (cai sữa ở 1 ngày tuổi) thì có khối lượng 56 ngày tuổi rất cao nhưng có khả năng sinh trưởng ở giai đoạn tiếp theo lại kém, chất lượng thịt không cao

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng:

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối lên các tính trạng sinh trưởng, khả năng cho thịt và chất lượng thịt lợn Mối quan hệ giữa năng lượng và protein là yếu tố quan trọng giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng khối lượng, tỷ lệ nạc, mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn nuôi thịt Tốc độ tăng khối lượng, chất lượng thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các vitamin với nhau và giữa vitamin với protein và khoáng Bên cạnh đó hàng loạt nghiên cứu đã xác nhận tác dụng của việc bổ sung các axit amin giới hạn vào khẩu phần ăn của lợn nuôi thịt đã làm tăng chỉ tiêu tăng khối lượng, đồng thời tiết kiệm được thức ăn và protein Chẳng hạn, bổ sung lysin đủ nhu cầu vào khẩu phần cho lợn sẽ làm cơ bắp phát triển nâng cao tỷ lệ nạc

- Ảnh hưởng của chăm sóc nuôi dưỡng:

Mật độ, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn Nhiệt độ chuồng nuôi thấp hoặc cao hơn nhiệt độ giới hạn thích ứng cho phép đều là các yếu tố bất lợi đối với sinh trưởng của lợn thịt Các yếu tố stress trong thời gian chăn nuôi cũng ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất, sức sản suất và chất lượng thịt của lợn Phương thức nuôi (nuôi nhốt hay nuôi thả rông) cũng ảnh hưởng đến cấu trúc cơ và ảnh hưởng đến chất lượng thịt của lợn

Nhiệt độ chuồng nuôi thấp hoặc cao hơn nhiệt độ giới hạn thích ứng cho phép đều là các yếu tố bất lợi đối với sinh trưởng của lợn thịt Các yếu tố stress trong thời gian chăn nuôi cũng ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất, sức sản xuất và chất lượng thịt lợn Theo Stanley E Curstis (1996), khi nhiệt độ chuồng nuôi tăng trên mức tối ưu thì lợn thịt giảm tăng khối lượng và tăng chi phí thức ăn

- Ảnh hưởng của tính biệt và thiến:

Lợn cái, lợn đực hay lợn đực thiến đều có tốc độ phát triển và cấu thành của

cơ thể khác nhau Lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn cái và đực thiến Tuy

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái và lợn đực thiến Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợn đực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn (Campell và cs, 1985), Perez và Desmoulin (1975) khi nghiên cứu trên đối tượng lợn thí nghiệm giống Large White

có khối lượng từ 18 đến 99 kg, cho biết giới tính có ảnh hưởng đến tốc độ tăng khối lượng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn và độ dày mỡ lưng

- Ảnh hưởng của mùa vụ:

Khả năng sản xuất của lợn phụ thuộc rất lớn vào lượng thức ăn thu nhận, mà lượng thức ăn thu nhận chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nhiệt độ theo mùa vụ Trong điều kiện khí hậu thay đổi lớn giữa các mùa (đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm) Khi nhiệt độ môi trường lớn hơn nhiệt độ cơ thể, thì sẽ tăng cơ chế thoát nhiệt, khi nhiệt

độ môi trường xuống dưới nhiệt độ cơ thể thì cơ thể lợn tăng cường quá trình trao đổi chất, làm tăng thân nhiệt để sưởi ấm cơ thể vì vậy tăng thu nhận thức ăn Theo Stanley Cursti (1996), khi nhiệt độ thấp hơn 10oC so với nhiệt độ tối ưu thì nhu cầu thức ăn/ 1 lợn nái/ngày đêm tăng 0,68 kg; với lợn choai có khối lượng trung bình 36

kg khi nhiệt độ giảm 7oC so với nhiệt độ tối ưu thì nhu cầu thức ăn tăng 0,11 kg/con/ngày Điều này cho thấy, ảnh hưởng của mùa vụ đến lượng thức ăn tiêu thụ

là rõ rệt Theo Gourdine và cs (2006), trong suốt giai đoạn mùa hè lượng thức ăn tiêu thụ giảm 20% ở giống lợn Yorkshire và 14 % ở giống lợn bản địa do sức chịu nóng của lợn Yorkshire kém hơn giống lợn bản địa

- Ảnh hưởng của thời gian nuôi vỗ béo:

Cơ chế sinh tổng hợp của cơ thể sống phụ thuộc vào tuổi và vào từng giai đoạn của con vật Sự thay đổi thành phần hoá học của mô cơ, mô mỡ lợn chủ yếu xảy ra trong giai đoạn trước 4 tháng tuổi Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn người ta đề ra 3 phương thức nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi thời gian nuôi ngắn, khối lượng giết thịt nhỏ hơn phương thức nuôi lấy nạc mỡ, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn 2 phương thức kia Nghiên cứu trên lợn Khùa giết thịt ở 12 tháng tuổi và 18 tháng tuổi, Nguyễn Ngọc Phục và cs (2010) đã chứng minh rằng có sự khác nhau giữa các chỉ tiêu năng suất, chất lượng thịt giữa 2 thời điểm giết mổ

1.4 Một số đặc điểm của chế phẩm sinh học probiotic

1.4.1 Định nghĩa về Probiotic

Lịch sử nghiên cứu về probiotic được đánh dấu bằng các công trình của hai nhà khoa học nổi tiếng: Eli Metchnikoff (nhà sinh học người Nga thuộc viện

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Pasteur-Paris) Metchnikoff (1907) đã chỉ ra rằng, khả năng sống lâu của những người Cossack, Bulgaria liên quan đến việc sử dụng các sản phẩm sữa lên men mà sau này chính ông đã phân lập được các chủng vi khuẩn lactic và đặt tên là

Lactobacillus bulgaricus Theo Metchnikoff sự phụ thuộc của các vi sinh vật (VSV)

đường tiêu hóa vào thức ăn mở ra khả năng có thể thay đổi quần thể vi sinh vật này theo hướng có lợi cho sức khỏe con người và vật nuôi Đó là ý tưởng đầu tiên mở đường cho các nghiên cứu sản xuất và sử dụng các sản phẩm probiotic, chất bổ sung vi sinh vật sống có tác dụng tăng cường sức khỏe vật nuôi và con người thông qua việc cải thiện sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột (Fuller, 1989)

Nếu thuật ngữ “kháng sinh” “antibiotic” có nghĩa là chống lại sự sống, thì khái niệm “probiotic” có ý nghĩa là “vì sự sống” (theo ngôn ngữ Hy Lạp) Thuật ngữ này được Parker sử dụng lần đầu tiên vào năm 1974 để chỉ “những vi sinh vật

và những chất làm cân bằng hệ vi sinh vật ruột” (Fuller, 1989) Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về probiotic (Sanders, 2003)

Như vậy có thể hiểu chế phẩm Probiotic là một sản phẩm mà trong đó có chứa một số lượng lớn các vi sinh vật có ích, khi được bổ sung vào thức ăn sẽ làm cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi cho hệ vi sinh vật có ích trong đường ruột, giúp tăng cường tiêu hoá thức ăn và phòng ngự rối loại tiêu hoá và bệnh đường ruột

Theo tiến sỹ Stephanien Blum Sperisen (trưởng bộ phần miễn dịch học thuộc khoa dinh dưỡng và sức khoẻ của Trung tâm Nghiên cứu Nestles Thụy Sỹ) thì probiotic là nhóm vi sinh vật có ích cho sức khoẻ đối lập với nhóm vi khuẩn có hại gây bệnh trong đường ruột Đường ruột khoẻ mạnh là yếu tố cơ bản để tăng cường

hệ miễn dịch, do đường ruột là cơ quan miễn dịch lớn nhất của cơ thể

1.4.2 Tác dụng của chế phẩm probiotic

Các ý kiến đều cho rằng việc sử dụng chế phẩm probiotic như là nguồn thức

ăn bổ sung trong chăn nuôi sẽ tạo được sự “bảo hộ” tốt đối với hệ sinh thái đường ruột, giúp cho hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa duy trì được sự cân bằng theo hướng có lợi cho vật chủ Trên cơ sở này ngăn ngừa sự rối loạn tiêu hóa, một mắt

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

xích quan trọng gây ra bệnh đường ruột làm ảnh hưởng đến tăng sức đề kháng và tốc độ sinh trưởng của vật nuôi

Cho đến nay những nhân tố nào góp phần tạo nên một hệ VSV cân bằng hoặc làm rối loạn sự cân bằng của hệ VSV đường ruột cũng chưa được hiểu đầy đủ

1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.5.1.1 Đặc điểm ngoại hình của các giống lợn bản địa

Các giống lợn bản địa của Việt Nam rất phong phú và được phân bố khắp các vùng của đất nước, tại mỗi vùng có những giống với các nét đặc trưng riêng Theo định nghĩa về giống của FAO: “Các nhóm có ngoại hình giống nhau có thể được xem là giống khác nhau nếu như xa nhau về địa lý” Theo định nghĩa này thì Việt Nam hiện có khoảng 26 giống lợn bản địa (Tạ Thị Bích Duyên và cs, 2013) Trong đó, các tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc có số lượng các giống lợn bản địa nhiều nhất so với các vùng sinh thái khác của cả nước với 13 giống; khu vực đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ có 4 giống; khu vực các tỉnh Trung và Nam Trung Bộ hiện còn 4 giống; Tây Nguyên có 2 giống và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long chỉ còn 2 giống

Nghiên cứu các giống lợn bản địa Việt Nam, Tạ Thị Bích Duyên và cs (2013) cho biết, lợn bản địa có đặc điểm ngoại hình đa dạng, được phân biệt tập trung thành 5 nhóm chính gồm: (1) nhóm lợn đen bao gồm lợn đen toàn thân và lợn đen có vệt trắng ở đầu, 4 chân, chót đuôi, nhóm này chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất

cả các nhóm (16 giống); (2) nhóm lợn lang lông đen và loang trắng cố định ở vùng bụng kéo dài xuống đùi và 4 chân (3 giống); (3) nhóm lợn lang có các đốm đen trên thân (4 giống); (4) nhóm lợn Hung bao gồm lợn có màu hung nâu toàn thân hoặc hung nhạt (2 giống); (5) nhóm lợn có da và lông toàn thân màu trắng (2 giống)

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nghiên cứu về “Giống lợn bản địa Việt Nam” Nguyễn Văn Đức (2012) đã tổng hợp mô tả đặc điểm ngoại hình của một số giống lợn bản địa tương đối phổ biến tại Việt Nam Kết quả cho thấy, lợn Móng Cái có tầm vóc trung bình, ngắn mình, cổ ngắn, tai nhỏ, lưng võng, bụng sệ, màu đen, trừ 6 điểm trắng (đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi nằm giữa trán, mõm trắng, cuối đuôi có chùm lông trắng, bụng trắng, bốn chân trắng và đặc biệt là có khoang trắng nối giữa 2 bên hông với nhau vắt qua vai trông giống như cái “Yên ngựa” Giống lợn Ỉ có lông da đen bóng, lông nhỏ, thưa; đầu hơi to, mặt cong và nhăn, trán hẹp, mắt híp, nọng cổ

và má chảy sệ, mõm to bè, ngắn, càng già mõm càng dài và cong lên, môi dưới thường dài hơn môi trên; vai tương đối nở, ngực sâu, thân mình ngắn hơn so với loại hình lợn ỉ pha; chân thấp, chân trước thẳng, chân sau hơi bị nghiêng, lợn nái thường đi chữ bát; bụng sệ hầu như bụng luôn quét trên mặt đất Lợn Mường Khương có lông thưa, mềm, màu đen hoặc nâu, có một đốm trắng ở giữa đầu, chân

và cuối đuôi, mõm dài thẳng hay hơi cong, trán nhăn, tai to, hơi cúp về phía trước như Landrace lai với các giống lợn bản địa khác Giống lợn Táp Ná có nhiều nét giống lợn Móng Cái, nhưng có những nét khác biệt như lông và da đen, ngoại trừ

6 điểm trắng: giữa trán, 4 cẳng chân, chóp đuôi, đầu to vừa phải, tai hơi rủ cúp xuống, mặt thẳng, mặt không nhăn nheo như lợn Ỉ

- Các nghiên cứu về ngoại hình trên lợn Bản:

Lợn Bản được phát hiện ở hầu hết các huyện vùng núi cao của tỉnh Hòa Bình

và phần lớn tập trung ở huyện Đà Bắc, Cao Phong, Lạc Sơn, Mai Châu và Tân Lạc Lợn Bản được đồng bào dân tộc Mán và Mường nuôi từ rất lâu đời với phương thức nuôi thả tự do, một số ít nuôi nhốt Ước tính số lượng lợn Bản Hòa bình hiện nay có khoảng 30.000 - 32.000 con nhưng đã bị pha tạp nhiều Lợn có tầm vóc nhỏ, thân hình thanh chắc, mình ngắn, tai nhỏ dựng đứng, lưng thẳng hoặc hơi võng, lông da đen tuyền, lông dài và cứng, chân nhỏ, đi móng, mắt tinh nhanh, mặt nhỏ, mõm dài nhọn Lợn Bản khác với lợn Lũng Pù là lúc trưởng thành chỉ đạt 45-50 kg, bụng không sệ, thân hình gọn và đặc trưng là 4 móng chân màu trắng khác với lợn Lũng

Pù là trắng từ khuỷu chân xuống đến móng Lợn Bản thường có 7-8 vú (Quách Văn Thông, 2009; Vũ Đình Tôn và Phan Đăng Thắng, 2009)

1.5.1.2 Năng suất sinh sản của các giống lợn bản địa

Phần lớn các giống lợn bản địa có tuổi động dục lần đầu sớm, năng suất sinh sản thấp (5 - 8 con/lứa) số lứa đẻ/nái/năm từ 1,1 - 1,5 lứa Tuy nhiên, cũng có giống lợn như Móng Cái có khả năng sinh sản cao (10 - 15 con/lứa), mỗi năm đẻ từ 1,5 - 2 lứa

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý, sinh dục của một số giống lợn bản địa như tuổi động dục lần đầu, khối lượng động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, khối lượng phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian phối giống trở lại đã được một số tác giả công bố, tuy nhiên các nghiên cứu thường không đầy đủ các chỉ tiêu trên một giống lợn

Theo Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh (2010) thì tuổi động dục lần đầu

và tuổi đẻ lứa đầu của lợn Bản tại Điện Biên là khá muộn lần lượt là 336,91 và 451,4 ngày Tuổi phối giống lần đầu của lợn Lang Hạ tại Cao Bằng là 219,90 ngày (Từ Quang Hiển và cs, 2004) Một nghiên cứu khác đối với lợn đen của các tỉnh phía Bắc, tác giả Nguyễn Mạnh Cường và cs (2010) công bố tuổi động dục lần đầu

là 162,0 ngày Tác giả Phạm Hữu Doanh (1995) cho biết lợn Móng Cái có tuổi động dục lần đầu là 120,18 ngày, khối lượng động dục lần đầu là 23,40 kg và tuổi phối giống lần đầu là 186,5 ngày

Nghiên cứu khả năng sinh sản của giống lợn Kiềng Sắt tại Quảng Ngãi cho thấy tuổi động dục lần đầu trung bình lúc 146,87 ngày, khối lượng cơ thể khi động dục lần đầu là 9,77 kg/con (Hồ Trung Thông và cs, 2011) Theo Trần Văn Do và cs (2005), lợn Vân Pa có khối lượng cơ thể khi động dục lần đầu là 15 kg Trong khi

đó, các kết quả nghiên cứu của Lê Viết Ly và cs (1999), Vũ Đình Huy và Hoàng Gián (1999) cho thấy lợn Móng Cái có tuổi dộng dục lần đầu ở 120,0 ngày tuổi, sớm hơn so với lợn nái Kiềng Sắt (146,87 ngày tuổi) Tuy nhiên, khối lượng cơ thể khi động dục lần đầu của lợn nái Móng Cái khá cao 39,54 kg Như vậy có thể thấy

sự sai khác về tuổi động dục lần đầu và khối lượng cơ thể khi động dục lần đầu giữa các giống lợn bản địa là rất lớn Thời gian phối giống trở lại sau cai sữa đối với các giống lợn bản địa thường ít được theo dõi một cách chính xác thường cao hơn các giống lợn ngoại Nghiên cứu trên một số giống lợn khác như lợn Lang Hạ là 8,59 ngày (Từ Quang Hiển và cs, 2004) và lợn Mẹo Sơn La là 7,8 ngày (Trần Thanh Vân

và Đinh Thu Hà, 2005); lợn Bản nuôi tại Điện Biên là 13,53 ngày (Phan Xuân Hảo

và Ngọc Văn Thanh, 2010)

Nhiều nghiên cứu đã được công bố cho thấy, các chỉ tiêu số con sinh ra/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ của phần lớn giống lợn bản địa đạt được thường là thấp (ngoại trừ lợn Móng Cái) Các chỉ tiêu này ở lợn Kiềng Sắt trung bình của 3 lứa đầu lần lượt là 6,86; 6,56 và 6,56 con (Hồ Trung Thông và cs, 2011); Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phục và cs (2010) trên lợn Khùa cho thấy các chỉ tiêu về

số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ lần lượt là 6,54, 6,33 và 5,67

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

con; nghiên cứu trên lợn Bản nuôi tại Điện Biên các chỉ tiêu này lần lượt là 5,86 con, 5,76 con và 5,55 con (Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh, 2010)

Nghiên cứu trên giống lợn Táp Ná tại Cao Bằng, lợn Cỏ A Lưới đều có số con sinh ra/ổ là 7,91 con (Nguyễn Văn Trung và cs, 2009; Phạm Khánh Từ và cs, 2009); lợn Sóc Tây Nguyên có số con sơ sinh sống/ổ 6-10 con (Trương Tấn Khanh, 2009) và lợn Vân Pa chỉ đạt 5,03 con (Trần Văn Do và cs, 2009)

Theo công bố của Nguyễn Văn Trung và cs (2009) thì khối lượng sơ sinh/con ở lợn Táp Ná đạt trung bình 0,60 kg, Phạm Khánh Từ và cs (2009) công

bố kết quả nuôi bảo tồn giống lợn Cỏ A Lưới tại Trường Đại học Nông lâm Huế thì khối lượng sơ sinh là 0,57 kg Kết quả này cho thấy khối lượng sơ sinh/con của các giống lợn trên là tương đối cao Một số nghiên cứu trên một số giống lợn khác cho thấy khối lượng sơ sinh/con là rất thấp như Trần Văn Do (2009) cho biết lợn Vân

Pa nuôi bảo tồn tại Trường trung cấp Nông nghiệp Quảng Trị có khối lượng sơ sinh/con rất nhỏ và chỉ đạt 0,29 kg; lợn Sóc nuôi bảo tồn tại Tây Nguyên chỉ đạt 0,3-0,45 kg/con (Trương Tấn Khanh, 2009)

Thông báo về chỉ tiêu khối lượng sơ sinh/ổ của một số giống lợn bản địa cho thấy chỉ tiêu này rất thấp Chỉ tiêu này ở lợn Bản Điện Biên là 2,90 kg (Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh, 2010); ở lợn kiềng sắt là 2,82 kg (Hồ Trung Thông và cs, 2011)

- Các nghiên cứu về sinh sản đối với lợn Bản:

Các nghiên cứu trên lợn Bản còn rất hạn chế Năm 2009, Vũ Đình Tôn và Phan Đăng Thắng (2009) nghiên cứu sự phân bố, đặc điểm và năng suất sinh sản của lợn Bản nuôi tại tỉnh Hòa Bình cho biết: Lợn Bản được nuôi phổ biến trong các

hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đa phần là dân tộc Mường tại các xã vùng cao tỉnh Hoà Bình, lợn có ưu điểm là có sức đề kháng cao với dịch bệnh, chất lượng thịt thơm ngon Lợn có đặc điểm đặc trưng là lông đen, dài, cứng, da đen tuyền, 4 bàn chân và bụng có thể trắng Tai nhỏ, dựng đứng, chân nhỏ đi móng, mặt nhỏ, mõm dài, lưng hơi võng hoặc thẳng, mình dài Tuổi đẻ lứa đầu là 13 tháng tuổi Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của giống thấp, số con đẻ ra trung bình chỉ 5,58 con/ổ ở lứa

1, cao nhất là 9,06 con/ổ ở lứa 4 (P<0,05) Khối lượng sơ sinh trung bình chỉ 0,43 kg/con, khối lượng lúc cai sữa ở 86,33 ngày tuổi là 5,05 kg/con Khoảng cách giữa

2 lứa đẻ dài, tới 241 ngày và thời gian phối giống trở lại tới 40,46 ngày Nghiên cứu đặc điểm sinh học, tính năng sản xuất của lợn Bản nuôi tại Tân Lạc, tác giả Quách Văn Thông (2009) cho biết: tuổi phối giống lần đầu là 208,02 ngày khi lợn đạt 32,80 kg, tuổi đẻ lứa đầu 394,80 ngày, số con sơ sinh/ổ 7,26 con, số con sơ sinh

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sống/ổ 6,63 con, khối lượng sơ sinh/con 0,42 kg, số con cai sữa/ổ 5,95 con, khối lượng cai sữa/con 5,2 kg ở thời gian cai sữa là 82,07 ngày

Có thể nói, chưa có nhiều nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Bản, các nghiên cứu cũng chủ yếu là điều tra khảo sát về khả năng sinh sản của giống lợn này Do vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi cần tiến hành lựa chọn lợn đực và lợn cái, bố trí thí nghiệm và theo dõi đầy đủ các chỉ tiêu để đánh giá chính xác năng suất sinh sản của lợn Bản

- Nghiên cứu sinh trưởng, năng suất thịt đối với lợn Bản:

Các nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, cho thịt của lợn Bản còn rất hạn chế Vũ Đình Tôn và Phan Đăng Thắng (2009) nghiên cứu trên lợn Bản nuôi tại tỉnh Hòa Bình cho biết: tăng khối lượng của lợn con từ sơ sinh tới cai sữa chỉ đạt 1,49 kg/tháng Nghiên cứu đặc điểm sinh học, tính năng sản xuất của lợn Bản nuôi tại Tân Lạc, Quách Văn Thông (2009) cho biết: khối lượng lợn lúc 4 tháng tuổi đạt 6,51 kg, 5 tháng tuổi 8,85 kg, 6 tháng tuổi 12,10 kg và đến 8 tháng tuổi là 22,60 kg Khối lượng giết thịt ở 25,70 kg thì tỷ lệ thịt móc hàm (71,67%), thịt xẻ (61,89%)

Cũng như lợn Lũng Pù, lợn Bản chưa được nghiên cứu đầy đủ về khả năng sản xuất và đặc biệt là cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về chất lượng thịt Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh tưởng, năng suất và chất lượng thịt của giống lợn này đối với cả lợn đực thiến và lợn cái

- Nghiên cứu về tỷ lệ hao hụt lợn con theo mẹ và các biện pháp khắc phục

Ở nước ta có một số nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn mẹ Trong đó, các tác giả đều quan tâm đến tính mắn đẻ, khả năng sản xuất của lợn mẹ (Nguyễn Ngọc Phục và cs, 2005; Phan Xuân Hảo, 2008; Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng, 2009) và đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của cá thể lợn

mẹ và ảnh hưởng của ngoại cảnh trong việc đánh giá tính trạng năng suất sinh sản

về tính trạng số con cai sữa/ổ và khoảng cách lứa đẻ (Phan Xuân Hảo, 2008; Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng, 2009)

Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng (2009 ) đã nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của 5 dòng lợn cụ kỵ nuôi tại trại lợn giống hạt nhân Tam Điệp, kết quả cho thấy các nhân tố giống, lứa đẻ, mùa vụ đều có ảnh hưởng tới tính trạng số con cai sữa/ổ (P<0,001): Giống VCN03 có số con cai sữa/ổ thấp nhất (8,99 con/ổ), sau đó lần lượt là VCN04 (9,17 con/ổ), VCN02 (9,74 con/ổ),

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

VCN01 (10,45 con/ổ) và cao nhất là VCN05 (11,19 con/ổ); Số con cai sữa/ổ vào mùa xuân cao hơn các mùa khác trong năm

Năng suất sinh sản của đàn lợn nái nuôi ở Việt Nam còn thấp so với thế giới Giải pháp để nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái, nhất là chỉ tiêu số con cai sữa/ổ được nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm Nhiều nghiên cứu tập trung về quản lý, dinh dưỡng, môi trường, chuồng trại,… đã thu được kết quả nhất định trong việc nâng cao tỷ lệ hao hụt lợn con trong thời gian theo mẹ

Trong các thí nghiệm bổ sung các chất có mùi thơm và khẩu phần thức ăn cho lợn con theo mẹ và sau cai sữa Nghiên cứu của Trần Quốc Việt và Vũ Duy Giảng (2001) cho thấy bổ sung 5% glucose vào khẩu phần thức ăn cho lợn con tập ăn và cai sữa đã làm tăng tính ngon miệng, nâng cao khả năng thu nhận thức ăn của lợn con từ 10-12% góp phần tăng năng suất chăn nuôi lợn nái nuôi con từ 5 - 7% Bổ sung 6 % glucose ở dạng bột, trộn trực tiếp vào thức ăn tập ăn cho lợn con từ 7-28 ngày tuổi làm tăng số con và khối lượng cai sữa theo thứ tự là 8,48 % và 10,74 %

Bổ sung 0,15 % bột gấc (tương đương với mức bổ sung 5280 UI VTM A/kg thức ăn tinh hỗn hợp) cho lợn nái chửa kỳ hai (80-114 ngày) làm tăng số con còn sống và còn sống sau 24 giờ, khối lượng sơ sinh cao hơn lô bổ sung vitamin A tổng hợp, bổ sung 0,5% và 1,0% bột gấc (Nguyễn Hữu Tào, 2010) Sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược với liều lượng 1000 g/tấn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, trộn ở dạng khô cho lợn nái ăn từ khi đẻ đến cai sữa, kết quả cho thấy số con cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/ổ tăng 3,87 và 7,90% (Phạm Sỹ Tiệp và cs, 2008)

1.5.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.5.2.1 Năng suất sinh sản của lợn bản địa

Theo Subalini và cs (2010), nghiên cứu trên lợn Village của Sri Lanka cho biết tuổi để lứa đầu của giống lợn này là 9,50 tháng, khoảng cách lứa đẻ là 8,91 tháng, số con sơ sinh sống/ổ 6,44 con, thời gian cai sữa 3,21 tháng Lợn Moo Lat

ở Lào có tuổi động dục lần đầu (182-197 ngày), khối lượng động dục lần đầu là 21-31 kg, khối lượng phối giống lần đầu là 42-48 kg, tuổi phối giống lần đầu lớn hơn 360 ngày, số lứa đẻ/nái/năm 1,5 lứa và có số con sơ sinh sống/ổ 7-8 con Thời gian cai sữa khoảng 3 tháng lợn đạt khối lượng 7,8 kg/con (Soukanh Keonouchanh và cs, 2011)

Nghiên cứu khả năng sinh sản của một số giống lợn bản địa Mexico, Lemus

và cs (2003) cho biết lợn Hairless có số con sinh ra/ổ: 6,36 con, số con sơ sinh sống/ổ: 6,04 con, khối lượng sơ sinh/ổ: 6,32 kg, khối lượng sơ sinh/con: 1,01 kg, số con cai sữa/ổ: 4,2 con, khối lượng cai sữa/ổ: 21,35 kg, khối lượng cai sữa/con: 5,25

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

kg, tuổi đẻ lứa đầu: 534,64 ngày, thời gian mang thai: 113,38 ngày, thời gian cai sữa: 40,30 ngày, thời gian động dục trở lại: 11,39 ngày, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 159,60 ngày; lợn Cuino có số con sinh ra/ổ: 5,97 con, số con sơ sinh sống/ổ: 5,36 con, khối lượng sơ sinh/ổ: 4,95 kg, khối lượng sơ sinh/con: 0,82 kg, số con cai sữa/ổ: 4,95 con, khối lượng cai sữa/ổ: 20,72 kg, khối lượng cai sữa/con: 3,93 kg, tuổi đẻ lứa đầu: 558,57 ngày, thời gian mang thai: 113,40 ngày, thời gian cai sữa: 36,19 ngày, thời gian động dục trở lại: 10,78 ngày, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 158,23 ngày

Các nghiên cứu trên cũng cho thấy, các giống lợn bản địa của một số nước cũng cho năng suất sinh sản thấp

1.5.2.2 Khả năng sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt lợn

Theo Subalini và cs (2010), nghiên cứu trên lợn Village của Sri Lanka cho thấy, khối lượng trưởng thành của lợn cái là 44,00 kg, con đực 50,62 kg Nghiên cứu trên lợn Moo Lat của Lào, Soukanh Keonouchanh và cs (2011), cho biết khối lượng cơ thể của lợn đạt 21-31 kg với thời gian nuôi từ 182 đến 197 ngày Tác giả này cũng cho biết rằng, khả năng tăng khối lượng của lợn đực thấp hơn của lợn cái, trung bình khối lượng cơ thể lợn đực là 20,5 kg với thời gian nuôi 170-200 ngày

Ngoài ra, công bố của nhiều nhà khoa học đã xác nhận các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn là khác nhau ở các giống khác nhau

Theo Townsend và cs (1978), ở lợn rừng giá trị L* (37,72) thấp hơn và giá trị a* (15,68) cao hơn so với lợn Yorkshire (tương ứng 47,47 và 12,42), lợn lai F1 giữa lợn rừng và Yorkshire (tương ứng 45,85 và 13,59) Marchiori và De Felicio (2003) cũng cho biết thịt lợn rừng có độ đỏ hơn, thậm chí sẫm màu hơn do có nhiều myoglobin Chỉ tiêu pH ở thịt thăn lợn rừng giảm chậm hơn so với lợn ngoại thuần

và lợn lai với lợn rừng, giá trị pH giảm từ 6,18 xuống 5,57 sau 24 giờ ở lợn rừng và

từ 6,09 xuống 5,46 ở thăn thịt lợn ngoại

Nghiên cứu của Müller và cs (2000) tỷ lệ mất nước do bảo quản ở thịt lợn rừng là 5,67%, con lai 1/2 và 1/4 lợn rừng tương ứng 1,78 và 1,95 Razmaite và cs (2009) cũng cho biết tỷ lệ mất nước do bảo quản ở con lai 1/2 lợn rừng là 1,78% và 1/4 lợn rừng là 4,7%, tỷ lệ mất nước do chế biến từ 40,4 -39,9% Các nghiên cứu khác cho biết tỷ lệ mất nước do giải đông của lợn lai 1/2 và 1/4 lợn rừng từ 5,7 -7,1% (Razmaite

và cs, 2009), tỷ lệ mất nước do chế biến của lợn lai 1/4 lợn rừng là 25,3%

Müller và cs (2000) cũng cho biết tỷ lệ mất nước do bảo quản ở thịt lợn rừng cao hơn so với lợn Meishan (1,89), Pietrain (1,45%), (Rừng x Meishan) và (Rừng x Pietran) và hai thế hệ con lai với lợn rừng Tương tự, lợn lai 1/2 lợn rừng có tỷ lệ

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mất nước bảo quản cao hơn lợn lai 1/4 lợn rừng, tỷ lệ mất nước do giải đông ở nhóm lai 1/4 lợn rừng cao hơn nhóm lai 1/2 lợn rừng, tỷ lệ mất nước do chế biến của 2 nhóm lợn tương đương nhau (Razmaite và cs, 2009)

Các giá trị về độ dai của thăn thịt lợn đã được công bố trong nhiều nghiên cứu khác về lợn rừng lai với lợn Châu Âu Townsend và cs (1978) cho biết độ dai

cơ thăn tăng dần khi tỷ lệ lai với lợn rừng tăng dần, trong đó lợn Yorkshire thuần có

độ dai 4,37 kg/cm2, lợn lai F1 (lợn rừng x Large White) 4,51 kg/cm2 và lợn rừng thuần 6,49kg/cm2 Tuy nhiên, độ dai cơ thăn của lợn lai 1/4 lợn rừng được công bố bởi Nii và cs (2005) là 5,2 kg/cm2 và của Andersson và Eklund (1998) là 4,8 kg/cm2 Một số kết luận khác của Peinado và cs (2008); Leach và cs (1996); Ellis và

cs (1998) nghiên cứu trên lợn ngoại chỉ ra rằng độ dai của thăn thịt tăng lên theo khối lượng giết mổ

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Lợn Bản (lợn nái chửa, lợn nái nuôi con, lợn con theo mẹ giai đoạn từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi) ở một số xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện ở 03 xã: Mường Chiềng, Giáp Đắt và Hiền Lương thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nội dung 1: Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn Bản tại một số xã của

huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn Bản tại địa phương, trong đó tập trung điều tra chi tiết tại 03 xã: Mường Chiềng, Giáp Đắt và Hiền Lương của huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình

2.3.2 Nội dung 2: Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất

sinh sản của lợn Bản tại một số xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

+ Nội dung 2.1: Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất

sinh sản của lợn Bản tại một số xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật như: biện pháp quản lý và biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động lên lợn mẹ giai đoạn mang thai, nuôi con và lợn con theo

mẹ nhằm nâng cao năng suất sinh sản của lợn mẹ

+ Nội dung 2.2: Tính hiệu quả kinh tế khi áp dụng một số biện pháp kỹ thuật

cho lợn Bản trong giai đoạn từ sơ sinh đến khi cai sữa

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung 1: Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn bản tại một số xã của

huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các Báo cáo kinh tế, các Chủ chương, chính

sách phát triển kinh tế - xã hội của Sở Nông nghiệp & PTNT, Phòng Nông nghiệp, Trạm Chăn nuôi và Thú y, Trạm Khuyến nông huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình

Số liệu sơ cấp: Từ công tác điều tra trực tiếp tại các hộ nông dân có chăn nuôi

lợn Bản Thu thập số liệu theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA bằng các câu hỏi được chuẩn bị trước theo từng nội dung cần điều tra và cá phiếu điều tra

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mở để người dân có thể tự điền theo các vấn đề được gợi ý Số hộ điều tra 60 hộ thuộc 03 xã: Mường Chiềng, Giáp Đắt, Hiền Lương của huyện Đà Bắc, mỗi xã điều tra ngẫu nhiên 20 hộ có nuôi lợn Bản

Các chỉ tiêu đánh giá: Số lượng và cơ cấu đàn lợn nuôi tại địa phương, số hộ nuôi lợn Bản, quy mô chăn nuôi lợn/hộ, phương thức chăn nuôi lợn của người dân địa phương…

Sử dụng phương pháp điều tra có sự tham gia của các chủ gia trại và hộ dân chăn nuôi: Số liệu được thu thập thông qua phiếu điều tra với bộ câu hỏi chuẩn hóa, các câu hỏi được soạn sẵn dưới dạng câu hỏi mở, câu hỏi gợi ý xoay quanh các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giống (mua và xuất giống, phương thức phối giống), thức ăn cho lợn (dạng, nguồn thức ăn), tỷ lệ hao hụt ở lợn con giai đoạn theo mẹ, kết hợp với

số liệu thực tế được ghi chép tại các trang gia trại chăn nuôi lợn nái sinh sản

2.4.2 Nội dung 2: Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất

sinh sản của lợn Bản tại một số xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

2.4.2.1 Nội dung 2.1: Ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất sinh sản của lợn Bản tại một số xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

Trên cơ sở điều tra tình hình nuôi lợn Bản tại nội dung 1, tiến hành chọn 40 con lợn nái Bản đã có chửa có tuổi từ 2-3 năm, lứa đẻ từ 2-4, khối lượng tương đương và được nuôi trong điều kiện ngoại cảnh như chuồng trại, sân vườn và các điều kiện khác gần giống nhau, tiến hành phân thành 2 nhóm, mỗi nhóm 20 con lợn nái để ghi chép theo dõi ngay sau khi có chửa Nhóm 1 lô đối chứng gồm: 20 con lợn nái (trong đó có 8 con lợn nái sinh sản ở lứa 2; 7 nái sinh sản ở lứa 3 và 5 nái sinh sản ở lứa 4) Nhóm 2 lô thí nghiệm gồm: 20 con lợn nái với số con ở lứa 2, 3

và 4 lần lượt là 7, 7 và 6 nái

Các hộ được lựa chọn phỏng vấn điều tra ở ba xã là ngẫu nhiên Trong khi

đó, số hộ được chọn bố trí thí nghiệm đảm bảo các hộ nằm trong 3 xã điều tra; hiện đang chăn nuôi lợn Bản; có lợn nái sinh sản ở lứa 2, lứa 3 và lứa 4; phương thức chăn nuôi là bán chăn thả và sẵn sàng đồng ý phối hợp bố trí thí nghiệm

Lợn con được sinh ra từ 40 con lợn nái trên được tiếp tục theo dõi từ khi sơ sinh đến khi cai sữa Trong đó, lợn con được sinh ra ở 20 con lợn nái lô đối chứng được gọi là nhóm đối chứng và lợn con sinh ra ở 20 con lợn nái lô thí nghiệm được gọi là nhóm thí nghiệm

Nhóm thí nghiệm được tác động một số biện pháp sau:

Ngày đăng: 04/02/2020, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình (1999), “Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa Chăn nuôi thú y (1996 - 1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, "Kết quả nghiên cứu KHKT Khoa Chăn nuôi thú y (1996 - 1998), Nxb Nông nghiệp
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp"
Năm: 1999
4. Nguyễn Như Cương, Lê Thị Biên, (2008), “Lợn Ỉ” Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm”, Nxb Nông nghiệp 2008, tr.18-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợn Ỉ” Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm”, "Nxb Nông nghiệp 2008
Tác giả: Nguyễn Như Cương, Lê Thị Biên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp 2008"
Năm: 2008
5. Lê Đình Cường, Lương Tất Nhợ, Đỗ Trung Dũng, Nguyễn Mạnh Thành (2003), Báo cáo một số dặc điểm của giống lợn Mường Khương, Tạp chí Chăn nuôi, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Chăn nuôi
Tác giả: Lê Đình Cường, Lương Tất Nhợ, Đỗ Trung Dũng, Nguyễn Mạnh Thành
Năm: 2003
6. Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Thu Thủy, Đậu Hùng Anh, Nguyễn Đăng Vang (2003), “So sánh tính đa hình gen RYR-1 và gen FSH ở lợn bản địa và lợn ngoại”, Tạp chí Công nghệ sinh học. 1: 39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh tính đa hình gen RYR-1 và gen FSH ở lợn bản địa và lợn ngoại”, "Tạp chí Công nghệ sinh học
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Thu Thủy, Đậu Hùng Anh, Nguyễn Đăng Vang
Năm: 2003
7. Lê Đình Cường, Lương Tất Nhợ, Đỗ Trung Dung, Nguyễn Mạnh Thành và cs (2004), “Một số đặc điểm của giống lợn Mường Khương”, Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi 1990 - 2004, tr. 238-248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của giống lợn Mường Khương”, "Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi 1990 - 2004
Tác giả: Lê Đình Cường, Lương Tất Nhợ, Đỗ Trung Dung, Nguyễn Mạnh Thành và cs
Năm: 2004
8. Lê Đình Cường, Trần Thanh Thuỷ (2006), Nghiên cứu khảo nghiệm một số kỹ thuật thích hợp chăn nuôi lợn sinh sản nông hộ ở huyện Mai Sơn - Sơn La, tỉnh Sơn La, Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài “Nghiên cứu phát triển chăn nuôi phù hợp với điều kiện Trung Du miền núi phía Bắc”, Hà Nội, tháng 4/2006, Tr. 68-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển chăn nuôi phù hợp với điều kiện Trung Du miền núi phía Bắc
Tác giả: Lê Đình Cường, Trần Thanh Thuỷ
Năm: 2006
9. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Quang Tuyên (2010), “Khả năng sinh sản, chất lượng thịt của lợn đen địa phương nuôi tại một số tỉnh miền núi phía Bắc”, Tạp chí Chăn nuôi, Đại học Thái Nguyên, 4-2010: 2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản, chất lượng thịt của lợn đen địa phương nuôi tại một số tỉnh miền núi phía Bắc”, "Tạp chí Chăn nuôi, Đại học Thái Nguyê
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2010
11. Trần Văn Do, Trương Thị Quỳnh và Trần Hạnh Hải (2005), Sinh trưởng phát triển của lợn Vân Pa tại Đakrông, Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Báo cáo tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trần Văn Do, Trương Thị Quỳnh và Trần Hạnh Hải
Năm: 2005
12. Phạm Hữu Doanh (1995), Một số đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của giống lợn bản địa. Kết quả công trình chăn nuôi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả công trình chăn nuôi, NXB Nông nghiệp
Tác giả: Phạm Hữu Doanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp"
Năm: 1995
13. Nguyễn Văn Đức (2012), “Giống lợn bản địa Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi. 11: 19-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống lợn bản địa Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Đức
Năm: 2012
14. Nguyễn Văn Đức, Giang Hồng Tuyến và Đoàn Công Tuân (2004), “Một số đặc điểm cơ bản của giống lợn Táp Ná”, Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi -Viện Chăn nuôi, Số 2 - 2004, tr. 16-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm cơ bản của giống lợn Táp Ná”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi -Viện Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Đức, Giang Hồng Tuyến và Đoàn Công Tuân
Năm: 2004
15. Tạ Thị Bích Duyên, Đặng Hoàng Biên, Nguyễn Văn Trung, Ngô Thị Kim Cúc, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Trọng Ngữ (2013), Một số giống lợn bản địa Việt Nam. Chuyên khảo Bảo tồn và Khai thác nguồn gen vật nuôi Việt Nam, NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ. 52-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Bảo tồn và Khai thác nguồn gen vật nuôi Việt Nam, NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Tác giả: Tạ Thị Bích Duyên, Đặng Hoàng Biên, Nguyễn Văn Trung, Ngô Thị Kim Cúc, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Hữu Cường, Nguyễn Trọng Ngữ
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ". 52-93
Năm: 2013
16. Lê Thanh Hải (1981), “Cơ sở sinh lý và sinh hoá của việc nuôi dưỡng lợn con tách mẹ ở các lứa tuổi khác nhau”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lý và sinh hoá của việc nuôi dưỡng lợn con tách mẹ ở các lứa tuổi khác nhau”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Lê Thanh Hải
Năm: 1981
17. Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh (2010), “Đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của lợn Bản nuôi tại Điện Biên”, Tạp chí khoa học và phát triển, tập VIII (số 2), Tr. 239 - 246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của lợn Bản nuôi tại Điện Biên”, "Tạp chí khoa học và phát triển
Tác giả: Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh
Năm: 2010
18. Phạm Thị Hiền Lương và Mông Thị Xuyến (2009), “Nghiên cứu một số đặc điểm của lợn Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng”, Tạp chí Chăn nuôi, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, 9-09: 2-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm của lợn Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng”, "Tạp chí Chăn nuôi, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Tác giả: Phạm Thị Hiền Lương và Mông Thị Xuyến
Năm: 2009
19. Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Lục Đức Xuân (2004), “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của giống lợn Lang nuôi tại huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng”, Tạp chí chăn nuôi, số 6, tr 4 - 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của giống lợn Lang nuôi tại huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng”, "Tạp chí chăn nuôi
Tác giả: Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Lục Đức Xuân
Năm: 2004
20. Trương Tấn Khanh (2009), Kết quả nghiên cứu bảo tồn lợn Sóc Tây Nguyên. Báo cáo kết quả bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam (2005-2009): 180-187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam
Tác giả: Trương Tấn Khanh
Năm: 2009
22. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc và Dương Duy Đồng (2002), Thức ăn và dinh dưỡng động vật, NXB Nông nghiệp, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thức ăn và dinh dưỡng động vật, NXB Nông nghiệp
Tác giả: Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc và Dương Duy Đồng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp"
Năm: 2002
23. Lê Viết Ly (1999), Bảo tồn quỹ gen lợn Lang Hồng, lợn trắng Phú Khánh, Chuyên khảo Bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam - Tập 1 - Phần gia súc - Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Chăn nuôi, tr 47 - 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam - Tập 1 - Phần gia súc - Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Chăn nuôi
Tác giả: Lê Viết Ly
Năm: 1999
25. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp, NXB Lao động - Xã hội
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội"
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm