1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khám phá mối quan hệ lý thuyết - chính sách của sự phát triển kinh tế địa phương : Phân tích trường hợp của Cardiff và Liverpool

15 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 301,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết đề cập đến mối quan hệ lý thuyết – chính sách của sự phát triển kinh tế, vai trò ảnh hưởng ngày càng gia tăng của các chuyên gia cố vấn học thuật trong việc định hướng các chính sách phát triển kinh tế địa phương và phạm vi mà những chuyên gia này tác động trực tiếp lên việc tạo lập chính sách trong hai trường hợp nghiên cứu ở Cardiff và Liverpool.

Trang 1

Unpacking the Theory – Policy Interface of Local Economic Development: an Analysis of Cardiff and Liverpool, by Philip Boland

Khám phá mối quan hệ lý thuyết - chính sách của sự phát triển kinh tế địa phương : Phân tích trường hợp của Cardiff và Liverpool

Philip Boland

[Bài viết được nộp lần đầu vào tháng 1/2005 và hoàn chỉnh vào tháng 10/2006]

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến mối quan hệ lý thuyết – chính sách của sự phát triển kinh tế Nó mô tả chuỗi đường truyền mà qua đó các kiến thức học thuật về khu vực đô thị cạnh tranh được trình bày, tạo lập và thể chế hóa trong lý thuyết và thực tiễn phát triển kinh tế địa phương Nội dung chính của bài viết là sự nghiên cứu mang tính chất phê bình về vai trò ảnh hưởng ngày càng gia tăng của các chuyên gia cố vấn học thuật trong việc định hướng các chính sách phát triển kinh tế địa phương Đặc biệt, bài viết nêu lên phạm vi mà những chuyên gia này tác động trực tiếp lên việc tạo lập chính sách trong hai trường hợp nghiên cứu ở Cardiff và Liverpool Một nội dung khác cũng được nhắc đến là việc sử dụng chuyên gia của các nhà chức trách địa phương, lý do để lựa chọn một số chuyên gia và phạm vi mà các chuyên gia này hoạt động nhằm giúp dựng lên bối cảnh của chính sách phát triển kinh tế địa phương Bài viết kết thúc bằng việc đưa ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa lý thuyết

và thực tiễn của sự phát triển kinh tế địa phương và sự tương đồng giữa các xu hướng chính sách phát triển kinh tế địa phương ở Cardiff và Liverpool

Lời mở đầu

Một vài năm trước đây, một đồng nghiệp của tôi tại Cardiff – John Lovering đã viết một bài luận chiến chống lại “khuynh hướng địa phương mới”, trong đó ông khẳng định rằng “Chính sách chi phối lý thuyết” (Lovering, 1999) Không chỉ là lý thuyết học thuật cặn kẽ, chính xác nhằm dẫn ra chính sách công, lý thuyết phát triển kinh tế địa phương còn dựa vào một dẫn ngôn trong đó có đưa ra những nội dung chọn lọc về địa phương hóa, chính sách địa phương và sự phát triển địa phương ở một số vùng cụ thể trên thế giới Việc gia tăng “nhóm dịch vụ địa phương” - một nhóm các chuyên gia phát triển kinh tế có tác động lớn trong việc thúc đẩy địa phương trở thành địa điểm phát triển kinh tế (Lovering, 1999, 2001, 2003) Tương tự, Legendijk và Cornford (2000) cũng bàn luận về sự tăng trưởng của “ngành phát triển địa phương” chính bao gồm “sự gia tăng dày đặc” của các cơ sở, tổ chức, cơ quan, văn phòng tư vấn, và giới học thuật, trong đó chú trọng đến tính cạnh tranh của địa phương Với vai trò là các chuyên gia tư vấn về phát triển địa phương, Lagendijk và Cornford (2000) đã nêu ra quy trình mà tri thức và các khái niệm được đưa vào các chính sách phát triển địa phương Đặc biệt, họ nhấn mạnh sự đóng góp có tầm ảnh hưởng lớn của các nhà học thuật và các chuyên gia tư vấn cho “diễn ngôn phát triển địa phương” Trong những năm gần đây, sự chú trọng đã có những thay đổi về mặt quy mô với số lượng lớn các dự án nghiên cứu, sách, báo, các hội thảo và hội thảo chuyên đề về các đô thị và khu vực đô thị Song song với đó là sự xuất hiện của một loạt các tài liệu về chính sách từ chính phủ Anh, các cơ quan địa phương và những người dân địa phương với những ý kiến, quan điểm giống nhau Một số người thể hiện sự đồng tình với các nhà lý luận nổi trội, một số khác lại

Trang 2

hướng theo các dự án nghiên cứu chính thức Bài viết này xem xét mối quan hệ giữa lý thuyết và chính sách

và đặc biệt là vai trò của các chuyên gia học thuật trong việc tác động đến các chính sách phát triển kinh tế địa phương Những chuyên gia này tác động trực tiếp lên các chính sách hay mối quan hệ giữa lý thuyết và chính sách phức tạp và nhiều sắc thái hơn? Một nội dung khác được nhắc tới là việc sử dụng các chuyên gia của các nhà chức trách địa phương, lý do lựa chọn một số chuyên gia này mà không phải là những chuyên gia khác và phạm vi mà các chuyên gia này hoạt động nhằm giúp dựng nên bối cảnh cho các chính sách phát triển kinh tế địa phương

Bài viết được chia thành ba phần Phần đầu tiên đặt ra khung lý thuyết thông qua những thảo luận mang tính chất học thuật về phát triển kinh tế địa phương Phần thứ hai nêu ra mối quan hệ giữa lý thuyết và chính sách ở Cardiff và Liverpool thông qua việc phân tích các tài liệu về chiến lược phát triển kinh tế địa phương

và các bài phỏng vấn với những người có liên quan đến chính sách phát triển kinh tế địa phương Động lực thúc đẩy tôi viết bài này là việc tham gia Hội thảo thường niên năm 2005 của các Đô thị thuộc các đảo về

“Các nền kinh tế năng động và các khu vực đô thị” được tổ chức tại Cardiff Sự kiện này quan trọng đối với

bài viết này của tôi ở hai cấp độ Trước hết, nó là ví dụ về mối quan hệ giữa các nhà lý luận học thuật và các nhà lập chính sách địa phương Điều đặc biệt thú vị không phải là nội dung của bài phát biểu chủ đạo nêu ra bối cảnh nền kinh tế tri thức ở các khu vực đô thị cạnh tranh mà chính là phạm vi lý thuyết phát triển kinh tế

mà chính quyền địa phương và những người tham dự thuộc khu vực công tán thành và không có chỗ cho những câu hỏi thăm dò hay những than phiền mang tính chất phê bình Tiếp đến, phiên họp nổi bật về các chính sách phát triển kinh tế địa phương ở Liverpool và Cardiff đã nêu ra những vấn đề quan trọng hình thành nên cơ sở của bài viết này – cụ thể là vai trò của các nhà lý luận học thuật trong việc tạo lập chính sách Bài viết kết thúc bằng việc đưa ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn trong sự phát triển kinh tế địa phương và sự tuơng đồng trong chính sách phát triển kinh tế địa phương tại Liverpool

và Cardiff

Toàn cầu hóa và sự chuyển đổi của Nhà nước

Toàn cầu hóa là một khái niệm phổ biến trong ngôn ngữ của các nhà lý luận học thuật và các nhà lập chính sách công; hơn nữa, nó đưa ra nền tảng lý thuyết tổng quát cho bài viết này Toàn cầu hóa ám chỉ sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, địa lý và công nghệ tác động lên mối quan hệ giữa không gian, địa điểm ,các cơ sở và con người (xem Amin, 2002, trang 385, Dicken, 2004, trang 17, Jessop, 1999, trang 13; Jones and jones, 2004, trang 410; Pike và nhóm tác giả, 2006, trang 4; Short, 2001, trang 10) Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng có mặt tiêu cực, nó bị cho là thiếu mạch lạc, rõ ràng và nhất quán (Hirst và Thompson,

2002, trang 247; Jessop, 1999, trang 2; Steger, 2003, trang 9) Đặc biệt người ta cũng nghi vấn về khả năng đưa ra những giải thích tổng quát cho các sự kiện toàn cầu của khái niệm này Ví dụ, Cox (2004, trang 188) cho rằng sự phát triển không đồng đều là lý do quan trọng hơn cho những thay đổi diễn ra trong những năm gần đây, trong khi Dicken (2004, trang 7) lại cho rằng toàn cầu hóa là khái niệm mang tính mô phỏng hơn là tính giải thích hay tính nhân quả Ở diện rộng, toàn cầu hóa bị coi là “cuộc chiến ngầm” giữa các nhà toàn cầu hóa và giới hoài nghi Giddens (1999) cho rằng toàn cầu hóa, đặc biệt là sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu là một cái gì đó mới mẻ và mang tính biến đổi đã cách mạng hóa dần môi trường hoạt động của các nhà nước dân tộc Những thay đổi này tạo ra các cơ hội cho sự phát triển kinh tế thông qua thương mại toàn cầu tăng cường và sự kết nối toàn cầu rộng lớn hơn Tuy nhiên, những người khác lại thận trọng với điểm tích cực của toàn cầu hóa này Hirst và Thompson (1999, 2002) cho rằng toàn cầu hóa mang tính thần thoại nhiều hơn là thực tế và đã bị phóng đại bởi những thành phần mà quyền lợi của họ được đảm bảo bất di bất dịch nhằm xây dựng một hệ tư tưởng về tự do mới Họ cũng bác bỏ ý kiến cho rằng nền kinh tế toàn cầu hội nhập đã xuất hiện hòa tan các nền kinh tế và làm suy yếu quyền lực của quốc gia dân tộc Một số người khác lại nêu ra những cảnh báo về toàn cầu hóa và những hạn chế của nó với tư cách là một chu trình và một khái niệm mang tính giải thích (Steger, 2003, trang 16; Went, 2000, trang 43)

Dicken (2004) và Jones and Jones (2004) kêu gọi một phân tích được công bố trên phương diện địa lý nhiều hơn về toàn cầu hóa và đặc biệt là ảnh hưởng của nó đối với mối quan hệ về lãnh thổ giữa nation-state

Trang 3

Dicken (2004, trang 7-9) đặt ra nghi vấn về những bằng chứng mang tính phóng đại và thuộc về thần thoại

có tính chọn lọc của các nhà toàn cầu hóa và những dữ liệu kinh tế định lượng do giới hoài nghi đưa ra Ông cũng chỉ ra rằng các nhà lý luận vẫn cần phải kết hợp một cách hiệu quả các dữ liệu định tính vào sự biến động của nền kinh tế thế giới và các gợi ý cho nhà nước Xa hơn, Jones and Jones (2004, trang 411) đưa ra những diễn giải mang thích chất không gian, vô hướng nhiều hơn về quyền lực nhà nước trong điều kiện toàn cầu hóa, tức là nhà nước sẽ bị tác động như thế nào và sẽ phản ứng như thế nào với những thách thức

mà toàn cầu hóa đưa ra Từ góc độ xã hội học, Jessop (1999, 2002) đã nhận xét về sự chuyển đổi của nhà nước dưới tác động của toàn cầu hóa bao gồm sự biến đổi về mặt phạm vi trong các hoạt động của nhà nước Một số thẩm quyền và quyền lực nhất định của nhà nước đã được chuyển sang cho các tổ chức siêu quốc gia hoặc các tổ chức dưới phạm vi quốc gia Tuy nhiên, ngoài việc quyền lực nhà nước bị thử thách bởi các tổ chức ở các cấp độ khác nhau, vai trò của nhà nước cũng được xác định lại và nó tiếp tục giữ vai trò là tổ chức quyền lực có vai trò quan trọng trong chính trị, kinh tế và hệ tư tưởng (Jessop, 2002, trang 12-15) Tương tự, một phân tích mang tính chất địa lý gần đây của Elden (2005) bác bỏ ý kiến cho rằng toàn cầu hóa gây ra việc xóa bỏ lãnh thổ quốc gia, phân tích này cho rằng quốc gia đang được định hình lại dưới tác động của toàn cầu hóa

Hai ý kiến quan trọng nổi lên ở đây Một là toàn cầu hóa đã tác động đến sức mạnh quyền lực và chức năng của nhà nước và tác động đến quy mô lãnh thổ của nhà nước (Amin, 2004a; Dicken, 2004; Jessop, 2002; Jones and Jones, 2004; Massey, 2004a) Hai là, sự cạnh tranh toàn cầu sâu rộng đã khiến cho các nhà lập chính sách địa phương, khu vực và toàn quốc phải chú trọng tới tính cạnh tranh như là một công cụ kinh tế trọng yếu (Amin, 2002 trang 386-388, 2004b, trang 218; Cõ, 2004, trang 179; Hirst and Thompson, 1999, trang 4; Martin, 2004, trang 149-150; Massey, 2004b; Pike và nhóm tác giả, 2006, trang 10-12) Những vấn

đề này sẽ được xem xét ở phần tiếp theo dưới góc độ phê bình những khái niệm nổi bật trong lý thuyết và thực tiễn phát triển kinh tế địa phương

Quy mô địa lý và tính cạnh tranh kinh tế: chủ nghĩa khu vực mới, các đô thị cạnh tranh và chủ nghĩa khu vực đô thị

Những năm gần đây, những nhà địa lý (Jonas, 2006; Marson và nhóm tác giả., 2005), những nhà phân tích

đô thị và khu vực (Collinge, 2005, 2006) và các nhà hoạch định không gian (Healey, 2004) đã có những nhận thức về lý luận và bản thể quy mô Những định nghĩa được dùng để hiểu về đời sống, các sự kiện, các cấu trúc và các quy trình xã hội, chính trị và văn hóa, ở những hệ thống không gian khác nhau hoặc như Jonas (2006, trang 404) giải thích: “quy mô là một lăng kính mà qua đó có thể suy nghĩ và hành động theo

sự thay đổi” Một chủ đề cụ thể hơn là phạm vi mà toàn cầu hóa đã ảnh hưởng tới chức năng của quốc gia dân tộc và xuất hiện và những mối quan hệ qua lại lẫn nhau giữa các hệ thống cấp bậc giữa các lãnh thổ quốc gia Trong quá khứ, các cuộc tranh cãi tập trung vào việc liệu các quy mô được cố định như là các biên giới lãnh thổ hay thay đổi theo thời kỳ thành các cấp độ mạng lưới, hình thang và đan xen (Brenner, 2001; Brenner và nhóm tác giả, 2003; Howitt, 2003; Marston, 2000; Paasi, 2004; Smith, 2003); một phần ba số quan điểm ủng hộ quy mô không có biên giới do hiến pháp chung của các địa phương và toàn cầu quy định (Amin, 2002, 2004a; Massey, 2004a) Và cuộc tranh cãi gần đây nhất về tính hợp pháp của quy mô như một công cụ tổ chức chung và theo dõi sự trao đổi giữa Marston và nhóm tác giả (2005),Collinge (2006) và Jonas (2006) Rõ ràng với toàn cầu hóa sẽ có những cuộc tranh cãi không bao giờ chấm dứt Mục đính của bài viết này chỉ ra hai vấn đề từ cuộc tranh cãi về quy mô: thứ nhất toàn cầu hóa đã dẫn tới sự tăng lên những khái niệm vô hướng (Brenner, 2001, trang 549); thứ hai là ý kiến khẳng định rằng những khái niệm

về quy mô từ thực tiễn và diễn ngôn về thể chế hóa (Marston, 2000, trang 219-220;Howitt, 2003, trang 139; Paasi, 2004, trang 537) Bài viết này phát triển thêm những vấn đề trên theo phương diện các khái niệm về quy mô khác nhau, như là các vùng, đô thị và các khu vực đô thị được phát triển, hình thành và thể chế hóa như thế nào trong lý thuyết và thực tiễn phát triển kinh tế địa phương

Thêm vào đó, tính cạnh tranh và sự nhấn mạnh về lợi thế cạnh tranh đã nổi lên như một vấn đề về phát triển kinh tế (xem Porter, 1996, 2003; xem Beg, 1999; Camagni, 2002; Malecki, 2002; Turok et al, 2004; Turkok, 2005) Một ý kiến cho rằng lợi thế cạnh tranh của các công ty có thể được mở rộng thành quốc gia, khu vực

Trang 4

và các địa phương nơi mà tính cạnh tranh được định nghĩa dưới dạng năng suất của các công ty trong lãnh thổ đó Một ý kiến khác kết hợp giữa tính cạnh tranh của các công ty với hoạt động kinh tế của cả vùng đó (ví dụ như, mức độ giàu có, thịnh vượng và tiêu chuẩn đời sống) Cạnh tranh đã trở thành một định nghĩa tồn tại khắp nơi trong lý thuyết và thực tiễn phát triển kinh tế bởi vì có ý kiến tranh luận cho rằng, nó sẽ bảo

vệ con đường tới đỉnh cao kinh tế (Begg, 1999, trang 795; Camagni, 2002 trang 2395) Ở vương quốc Anh

có sự xuất hiện các chỉ số cạnh tranh nhằm xếp loại hoạt động của các vùng , khu vực (Cooke, 2004; Huggins, 2003; www.hugginsassosiates.com, www.dtistats.net, www.statistics.gov.uk) Các đô thị cạnh tranh nhất cũng là những đô thị chứa đựng sự tập trung các hoạt động kinh doanh chất xám nhiều nhất Nói theo quan điểm chính trị, chúng cung cấp những công cụ làm bằng chứng có giá trị để so sánh hoạt động cho các thành viên Hội đồng và các viên chức; ngoài ra, chúng còn giúp hợp thức hóa các chính sách nhấn mạnh vào tính cạnh tranh và nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, các diễn ngôn về tính cạnh tranh cũng nhận được một vài sự phản đối gay gắt Các nhà phê bình chỉ trích rằng tính cạnh tranh dựa trên những khái niệm sai và kém phát triển về sự vận động của các nền kinh tế - ví dụ như, chúng không cạnh tranh giống như các công ty trong các nền kinh tế vi mô, đưa ra các quan niệm về mặt lý thuyết (xem Bristow, 2005; Krugman, 1996a, 1996b; Lovering, 2001, 2003; Urwin, 2006) Lovering (2001, trang 350) cũng tranh cãi rằng khi cạnh tranh được áp dụng vào những khối xã hội được xác định về mặt lãnh thỏ như là đô thị, vùng dẫn đến việc mất đi tính chặt chẽ Đối với Krugman (1996a, trang 4-5; 1996b, trang 17-18), cạnh tranh đã trở thành nỗi ám ảnh nguy hiểm giữa các nhà lập chính sách dẫn đến những chính sách sai lệch Một sự chỉ trích khác

là diễn ngôn về cạnh tranh được xây dựng một cách lý tưởng hóa bởi những đối tượng xã hội quyền lực (Bristow, 2005, trang 297-300; Gordon và Buck, 2005, trang 20) Ngoài ra, các phương pháp xếp loại tính cạnh tranh sai lệch dẫn tới việc so sánh nhầm lẫn giữa các khu vực (Bristow, 2005, trang 296)

Tuy nhiên xung quanh cuộc tranh cãi giữa quy mô và tính cạnh tranh, chúng đã trở thành những khái niệm nền tảng trong lý thuyết phát triển kinh tế Kể từ cuối những năm 1990, một cơ sở nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong thời đại toàn cầu hóa, quy mô quốc gia ngày càng trở thành thử thách trong việc phát triển và quản lý kinh tế (xem Cooke và Morgan, 2000; Morgan, 1997, 1998; Porter, 2003; Scott và Storper, 2003) Dựa vào các tình huống cụ thể ở Mỹ (ví dụ như thung lũng Silicon) và Châu Âu (như Emilia-Romagna và Baden-Wurttemberg), các nhà lý luận đã nhấn mạnh sự phát triển khu vực cạnh tranh quyết định sự phát triển kinh

tế Những nền kinh tế tri thức được xem như bàn đạp trong quá trình phát triển kinh tế bởi vì chúng chứa đựng những nhân tố chính của việc phát triển kinh tế (Porter, 2003, trang 550; Scott và Storper, 2003, trang 580) Ngoài ra, các vùng “tri thức” và “trí tuệ” được xem như nhân tố thúc đẩy cho quá trình phát triển kinh

tế trong việc tận dụng kiến thức, đổi mới để phát triển tính cạnh tranh kinh tế (Morgan, 1997, trang 492, trang 498-500, 1998, trang 235-242; Cooke và Morgan, 2000, trang 17-24) Một phiên bản tương tự gần đây nhấn mạnh vào vào các đô thị hồi sinh, cạnh tranh và sáng tạo như là một chất xúc tác của việc phát triển kinh tế khu vực và quốc gia (Begg, 1999, 2002; Boddy, 2003; Buck et al, 2005; Florida, 2003; Parkinson và Boddy, 2004; Storper và Manville, 2006) hay còn được gọi bằng cụm từ “chủ nghĩa đô thị cạnh tranh” (Ward và Jonas, 2004)

Bài viết này cũng nêu ra những nhân tố chính của phát triển kinh tế là sự liên kết, các cụm công nghiệp, sự đổi mới và sự chuyên nghiệp (Boddy, 2003, trang 90-91; Porter, 2003, trang 562-569; Scott và Storper,

2003, trang 581-585), cộng thêm sự đa dạng kinh tế, sự kết nối và chất lượng cuộc sống (Boddy và Parkinson, 2004a, trang 423-426; Beg, 2002, trang 313-318) Trong vấn đề sau, lý thuyết về tầng lớp sáng tạo của Floria đã có tầm ảnh hưởng đặc biệt ở Mỹ và vương quốc Anh (Florida, 2003) Phát triển kinh tế được định hướng bởi khả năng của đô thị trong việc thu hút những con người sáng tạo thay vì các nhân tố cổ điển và điều này sẽ lần lượt thu hút đầu tư và thúc đẩy kinh tế phát triển Các đô thị cần mở cửa hơn, đa dạng hơn nhằm thu hút các tầng lớp sáng tạo- những con người thông minh, sáng tạo và chuyên nghiệp Để cải thiện sức thu hút đối với những con người tài năng này, các đô thị cần đổi mới về lối sống (xem “tiếp thị

đô thị” ở phần sau) Đáp lại, Nathan (2005) đã đưa ra gợi ý rằng các lý thuyết của Florida chứa đựng những điểm yếu cơ bản và không thể tạo nên sự đổi mới nào trong bộ mặt kinh tế các đô thị Sự chỉ trích tập trung vào vấn đề nhân khẩu và địa lý của nhiều đô thị của Mỹ và Vương quốc Anh không phù hợp với quy mô Điều này sẽ phá hoại tính hệ thống của các khái niệm về các tầng lớp sáng tạo (Nathan, 2005, trang 3-6)

Trang 5

Ngành tư vấn lý luận học thuật phát triển

Trước hết, thông qua sự gia tăng của các chuyên gia tư vấn về lý thuyết (Lagendijk và Cornford, 2000) hay các chuyên gia lý luận thầu khoán (Lovering, 2003) một ngành có sức ảnh hưởng lớn đã xuất hiện (ngành tư vấn lý luận học thuật) Tại đây, các nhóm chuyên gia lý luận và các nhà nghiên cứu đến từ cùng trường đại học, hoặc từ các trường đại học khác nhau mà có chung quan điểm sáng lập ra các cơ quan nghiên cứu, thường là liên ngành và tự hạch toán nhằm thu hút các nguồn tài trợ Những cơ quan này bao gồm: Ủy ban Châu Âu (ví dụ, chương trình khung), Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội (ESRC), các cơ quan của chính phủ như Văn phòng của Phó thủ tướng (ODPM hiện nay là Văn phòng của Cộng đồng và Chính quyền địa phương), các tổ chức địa phương có trách nhiệm ví dụ như Quốc hội xứ Wales/ Chính phủ Wales,

Cơ quan Phát triển khu vực (RDAs), các Văn phòng Chính phủ về Khu vực, chính quyền địa phương và các

tổ chức nhà nước và tư nhân khác Việc sáng lập này được khuyến khích bởi niềm hi vọng rằng các chuyên gia lý luận sẽ đảm bảo được nguồn tài chính cho việc nghiên cứu vốn rất quan trọng cho tiến trình của công việc Thực chất, nguồn tài trợ nghiên cứu thu hút được từ bên ngoài là chỉ số để đo lường sự xuất sắc về mặt học thuật khi mà các trường đại học tự nâng lên thành các tổ chức nghiên cứu mang tầm cỡ thế giới Như bài viết này nêu ra, một số chuyên gia tư vấn về lý luận nhất định đóng vai trò chủ chốt trong việc tiến hành các dự án nghiên cứu và đảm nhận việc tư vấn cho một số tổ chức liên quan đến sự phát triển kinh tế Ảnh hưởng của cộng đồng học thuật này lên chính sách công đòi hỏi phải có lộ trình rõ ràng mà các công trình nghiên cứu được xuất bản trên các tạp chí nổi tiếng thế giới, nhưng quan trọng hơn là nó ngày càng đòi hỏi phải có các dự án nghiên cứu cho các tổ chức có trách nhiệm đối với chính sách phát triển kinh tế

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và áp lực cạnh tranh mạnh mẽ, các cơ quan phát triển kinh tế địa phương và khu vực đang khao khát những “khái niệm và mô hình phát triển có đưa ra những hướng dẫn cho việc tăng cường tính cạnh tranh” (Mackinnon và các tác giả khác, 2002, trang 296; Lagendijk và Cornford, 2000, trang 209-210) Tại đây, các chuyên gia tư vấn về lý luận xuất hiện một cách đồng loạt để đưa ra các nghiên cứu và những tư vấn về tính cạnh tranh, sự dổi mới, các đô thị và khu vực đô thị, kinh tế tri thức, các nhóm

xã hội, các ngành công nghiệp năng động và các bảng thành tích Xét trên phương diện toàn cầu, Michael Porter và Richard Florida là những tiếng nói có tầm ảnh hưởng lớn Trên Website của Porter có thông tin là ông đã tư vấn cho các nhà lãnh đạo cấp quốc gia của nhiều nước trên thế giới về chính sách phát triển kinh

tế bao gồm cả Anh quốc, và đã hỗ trợ rất nhiều chính phủ quốc gia và chính quyền địa phương trong việc tăng cường tính cạnh tranh (Viện nghiên cứu Chiến lược và Cạnh tranh, Đại học Harvard,

về những công tác nghiên cứu và tư vấn của Porter về tính cạnh tranh kinh tế, sự đổi mới và các nhóm công nghiệp đã ghi dấu ấn trong nghiên cứu về chính quyền ở ODPM và Phòng Công nghiệp và Thương mại như thế nào Tương tự như vậy, những quan điểm của Florida đã trở nên phổ biến với những nhà nghiên cứu và những người lập chính sách về sự phát triển kinh tế (www.creativeclass.org; Nathan, 2005, trang 1-3) Cũng giống Porter, Florida gần đây cũng hoạt động rất năng nổ tại Anh – Ví dụ, ông có bài phát biểu chủ đạo trong Hội nghị thượng đỉnh về tính cạnh tranh quốc gia giữa trường Đại học Cambridge và Viện nghiên cứu MIT với chủ đề “Những địa phương năng động và táo bạo” (www.cambridge-mit.org) Đây cũng là một trường hợp khác mà các chuyên gia lý luận và các nhà làm luật tác động lẫn nhau nhằm thảo luận về những vấn đề lien quan đến tính cạnh tranh trong nền kinh tế Anh Thật thú vị là sự kiện này do NWDA đồng tổ chức (www.nwda.co.uk) và diễn ra ở Manchester – đô thị gần đây dược vinh danh là đô thị năng động nhất của Anh quốc theo chỉ số Boho của Anh do Demos cung cấp

Từ góc độ nước Anh, một chuyên gia có tầm ảnh hưởng lớn tên là Michael Parkinson tại Đại học Liverpool John Moores đã hướng dẫn thực hiện các dự án nghiên cứu chính về các đô thị cạnh tranh cho Ủy ban Châu

Âu, ESRC và ODPM (Boddy và Parkinson, 2004b; Parkinson và nhóm tác giả, 2004; ww.ljmu.ac.uk/eiua) Một trường hợp khác là Alan Harding thuộc đại học Salford với công trình nghiên cứu về khu vực đô thị cho ODPM và NWDA (Harding và nhóm tác giả, 2006; www.surf.salford.ac.uk) Những trường hợp khác bao gồm James Simmie (Parkinson và nhóm tác giả, 2004) thuộc đại học Oxford Brookes và Brian Robson (Harding và nhóm tác giả, 2006) thuộc đại học Manchester và một số chuyên gia cố vấn về chính sách nổi trội như Greg Clark và Geoff Mulgan, những người mong muốn có vị trí cao trong chính phủ Anh Đây

Trang 6

không phải là danh sách đầy đủ, đây là danh sách những người đảm nhận các vị trí vững chắc trong lĩnh vực chính sách ở phạm vi toàn cầu và phạm vi quốc gia Sự ảnh hưởng được thể hiện ở chỗ các chuyên gia này

đã giúp tạo ra các bối cảnh cho việc nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế ở địa phương, khu vực và quốc gia tại Anh Một vấn đề cũng có liên quan nữa đó là vị thế của các chuyên gia lý luận được nhìn nhận dưới góc độ “những trí thức của cộng đồng” Vào năm 2002, Porter được công nhận là một trong những “trí thức tài năng về kinh doanh trên thế giới”, trong khi website của Florida tôn vinh ông là “một trong số những nhà

lý luận xã hội và trí thức của cộng đồng bậc nhất trên thế giới” (ww.creativeclass.org) Thật thú vị khi nghe những người được hỏi nói về các chuyên gia lý luận tại Anh theo một cách tương tự, ở đó có thể thấy sự quý trọng dành cho một số tên tuổi nhất định có được là do sự tinh thông về trí tuệ của họ Ngoài những mối quan tâm về việc ai, và dựa trên nền tảng nào được coi là “trí thức cộng đồng”, Ward (2006) đã suy nghĩ về việc trog danh sách gần đây nhất về 100 nhà tư tưởng có tầm ảnh hưởng nhất trên thế giới không bao gồm một nhà địa lý nhân học nào, điều này có hàm ý về việc những người này không tham gia vào các chính sách công Thực tế là chỉ có một người được nêu ở trên đang làm việc tại trường địa lý nhân học (mặc dù những người khác cũng được đạo tạo để trở thành các nhà địa lý)

Khái niệm “diễn ngôn chính sách” trong sự phát triển kinh tế khu vực

Những phần thảo luận trước đã đề cập tới khái niệm diễn ngôn chính sách chính thống ở Anh lưu giữ trong nền kinh tế tri thức và sự cạnh tranh kinh tế (Bristow, 2005, trang 289-29; Jones, 2001, trang 1187) Ở đây, những khái niệm nhất định giải thích ý nghĩa của kiến thức và nghiên cứu được đề cập đến nhiều lần (Lagendijk và Cornford, 2000, trang 210) Ví dụ, báo cáo ban đầu về tính cạnh tranh trong lực lượng lao động mới (Phòng thương mại và công nghiệp DTI, 1998) cho rằng trong nền kinh tế thế giới mới, chỉ những yếu tố truyền thống thôi thì chưa đủ để thu hút đầu tư Thay vào đó, những lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế Anh chỉ có được khi nó phát triển nền kinh tế tri thức, các kỹ năng và sự sáng tạo Vài năm sau đó, phân tích của Porter và Ketels về DTI (2003, trang 7-45) cho rằng dù sự cạnh tranh của nền kinh tế đã có nhiều cải thiện song Anh vẫn cần tiếp tục thực hiện cải cách và phát triển nếu điều đó giúp tăng lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới Gần đây, có hàng loạt những báo cáo về khuynh hướng khu vực đô thị cạnh tranh được phát động bởi Nhóm nghiên cứu thuộc Văn phòng phó Thủ tướng ODPM về những đô thị lớn (ODPM, 2003, 2004, Parkinson và nhóm tác giả, 2004; Harding và nhóm tác giả, 2006) Những tài liệu ban đầu (ODPM, 2003; Parkinson và nhóm tác giả, 2004) khẳng định rằng các đô thị là những công trình quyền lực có động lực và sức hút, và là tài sản kinh tế chính của sự tăng trưởng kinh tế, sự cạnh tranh và thịnh vượng của khu vực và quốc gia Những khu vực thành công bao giờ cũng có những đô thị cạnh tranh bên trong, đó chính là khái niệm khuynh hướng khu vực đô thị cạnh tranh Một báo cáo gần đây của Harding và nhóm tác giả thực hiện năm 2006 đã xây dựng và đưa ra một cơ sở quốc gia đối với khuynh hướng khu vực

đô thị và trình bày những hướng tiếp cận chính sách có thể Đặc biệt, nghiên cứu do Parkinson đứng đầu đã trở nên rất có ảnh hưởng trong lĩnh vực chính trị, giống như là một cuốn sách tham khảo ban đầu cho nhiều tài liệu khác Nó cho rằng những đô thị lớn ở Anh không có tính thương mại và cạnh tranh bằng những đô thị ở châu Âu về chỉ số GDP, môi trường, sản lượng, cải cách và sự thịnh vượng (Parkinson và nhóm tác giả, 2004, trang 31-50) Do vậy, họ nên học hỏi những tập quán hay của các nước bạn để có thể nâng cao sự thể hiện của những yếu tố chính trong sự cạnh tranh kinh tế như da đạng các thành phần kinh tế, các kỹ năng, sự kết nối, cải cách, chất lượng cuộc sống và năng lực của các tổ chức (trang 51-61) Tuy nhiên, nền kinh tế tri thức vẫn giữ tầm quan trọng chiến lược

Tri thức và cải cách có mối quan hệ mật thiết với nhau, là những yếu tố chính quyết định tính cạnh tranh Những ngành công nghiệp dựa trên tri thức là chìa khóa cho sự đổi mới và sự phát triển mức sống của các tầng lớp trên thế giới Đây là hai yếu tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế và sự cạnh tranh của các

đô thị (Parkinson và nhóm tác giả, 2004, trang 59; Cooke, 2004)

Ở quy mô nhỏ hơn tầm quốc gia, mục tiêu chính sách chung của 10 Cơ quan phát triển khu vực Anh (RDA)

là phát triển nền kinh tế tri thức và cải thiện tính cạnh tranh kinh tế trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, “chúng có

Trang 7

thể là bất cứ thứ gì nhưng phải là độc nhất” (Jones, 2001, trang 1199) Ví dụ, nhân tố căn bản trong chiến lược kinh tế khu vực của Cơ quan phát triển Tây Bắc (NWDA) là đảm bảo tính cạnh tranh khu vực trong khi vẫn phát triển nền kinh tế tri thức và cải thiện hình ảnh khu vực (NWDA, 2003) Một người được hỏi thuộc NWDA tiết lộ rằng RAD đã tổ chức những buổi họp với Porter, và ông cho rằng tính cạnh tranh và những lý thuyết thu thập được giúp hình thành thái độ đối với chính sách phát triển kinh tế khu vực Sau này, có các nghiên cứu của Parkinson, Harding và Robson hỗ trợ Nhóm nghiên cứu đô thị lớn thuộc văn phòng Phó thủ tướng ODPM (liên quan tới RDA) và Northern Way đã đưa những khu vực đô thị vào chương trình nghị sự chính sách địa phương, khu vực và quốc gia Theo hướng này, gần đây Cơ quan phát triển Tây Bắc NWDA đã mua lại nghiên cứu của Harding và Robson về khuynh hướng khu vực đô thị, và đặc biệt là các mối liên hệ kinh tế giữa các đô thị và khu vực Những người được hỏi lý giải rằng mục đích

là dùng những người có khả năng tư duy có học vấn hàng đầu làm phương tiện và để hỗ trợ can thiệp chính sách Sau này, trong mối quan hệ với RDA, có một mối liên quan trực tiếp và ảnh hưởng của những nhà tư vấn chuyên nghiệp Ở đây còn một yếu tố nưa là tính thực dụng mà những người được phỏng vấn khác cũng

đã nhắc tới Những người đang thực hành bị hạn chế thời gian để theo kịp với sự phát triển trong lý thuyết học thuật và do đó, có mối liên quan logic nào đó trong việc tìm ra những nhà lý thuyết vĩ đại trong lĩnh vực Vấn đề nằm ở chỗ có những cuộc tranh luận và chỉ trích của các nhà tư vấn chuyên môn cho rằng nó không phù hợp với chính sách công cộng Điều này cũng sẽ được bàn cụ thể trong bài viết này

Một ví dụ khác là ở xứ Wales Cho đến những thay đổi thể chế gần đây, Cơ quan phát triển xứ Wales (WDA) tích cực cải thiện tính cạnh tranh khu vực và thương mại tại xứ Wales (để xem bài phê bình của WDA, xem Boland và Lovering, năm 2000) Một con số chính thức tại WDA cho biết trong thời gian từ cuối những năm 1990 đến đầu những năm 2000, đã có sự ảnh hưởng lớn tới lối tư duy của Cơ quan này Tiêu biểu nhất là nghiên cứu của Cooke và Morgan về khu vực học tập và WDA đóng vai trò như người cổ

vũ đối với sự phát triển kinh tế (xem Morgan, 1997, 1998; Cook và Morgan, 2000, trang 134-161; Lagendijk và Cornford, 2000, trang 215-217) Người được hỏi cũng được thông báo rằng Cơ quan nãy cũng

đã đưa Porter tới để tư vấn cho họ về chính sách phát triển kinh tế khu vực Tại Anh, chúng ta có thể nhận thấy sự ảnh hưởng trực tiếp của lối tư duy học thuật đối với chính sách phát triển kinh tế Tuy nhiên, một đại diện của WDA đã giải thích làm thế nào Tổ chức nghiên cứu kinh tế lại nắm bắt được một số lượng các nhà

tư duy học thuật lớn hơn của WDA (cơ quan chỉ có một mạng lưới nhỏ các nhà học thuật và những người đang thực hành) Cuối cùng, họ tìm kiếm và sử dụng những nhà học thuật và tư vấn cả trong và ngoài xứ

Wales Sau đó, có những văn bản chiến lược về phát triển kinh tế quốc gia – Xứ Wales chiến thắng (WAG, 2002) và Wales: một nền kinh tế phát triển mạnh (hay WAVE) (WAG, 2005) – khẳng định rằng lợi thế cạnh

tranh của Wales đòi hỏi một nền kinh tế có tri thức, cải cách, kinh doanh và kỹ năng Tài liệu WAVE đã chứng minh là không ổn về mặt chính trị Một người được hỏi thuộc WAG đã tiết lộ rằng việc WAG phải phù hợp với khung chính sách thịnh hành của chính phủ Anh là điều quan trọng Tuy nhiên, các quan chức tại Hội đồng hạt Cardiff đã thể hiện những lo ngại rằng tài liệu này sẽ không thừa nhận kích cỡ khu vực đô thị và vai trò của Cardiff trong đó Sự bất ổn này cũng được trình bày chính thức trong một văn bản trả lời cho WAG (Hội đồng hạt Cardiff, 2006a) Hơn nữa, các đối đượng điều tra thấy rằng các tài liệu chính sách Anh hữu ích cho Cardiff hơn là những tài liệu do WAG cung cấp bởi chúng đưa ra bối cảnh chiến lược rõ ràng hơn cho những tham vọng phát triển kinh tế

Nghiên cứu các vấn đề thuộc lý thuyết và diễn ngôn chính sách của sự phát triển kinh tế khu vực

Tuy nhiên, vòng quay vô hướng trong lý thuyết và chính sách phát triển kinh tế đã được nghiên cứu bao gồm các vấn đề: về khuynh hướng khu vực mới, xem Jones (2001), Lovering (1999, 2001, 2003), Lagendijk

và Cornford (2000), MacKinnon và nhóm tác giả (2002) và MacLeod (2001); về đô thị hồi sinh, xem Gordon (2004) và Gordon cùng Buck (2005); về khuynh hướng khu vực đô thị cạnh tranh, xem Ward và Jonas (2004) Khi lý thuyết người địa phương mới đưa ra những đánh giá có vẻ thuyết phục ở phạm vi nhỏ hơn quốc gia dựa trên sự kiểm tra kỹ càng hơn thì những kết luận về mặt lý thuyết và những quy định chính sách vẫn còn nhiều nghi vấn (Jones, 2001, trang 120; Lovering, 1999, trang 380) Điều này đặc biệt rõ ràng

Trang 8

trong những nghiên cứu đơn giản hơn cụ thể hóa khu vực (Lovering, 1999, trang 380-383; MacLead, 2001, trang 819) Bài phê bình sắc sảo của Lovering (1999, trang 380-390, 2001) đã nhấn mạnh những sai lầm nghiêm trọng: sự cường điệu hóa khu vực bằng dịch vụ khu vực; sự diễn giải chưa đầy đủ về khu vực và bằng cách nào nó vận hành như một hệ thống kinh tế xã hội; những câu hỏi trước sự khuếch trương nền kinh

tế tri thức và liệu rằng nó có thể cải thiện sự thịnh vượng của kinh tế; và hơn nữa là phân tích những vấn đề

về mặt chính trị Trong một câu trả lời khá thân mật, MacLeod (2001) cho rằng đôi khi Lovering quá lý trí

và coi nhẹ sự đóng góp tích cực của lối tư duy người địa phương mới nào đó Theo MacKinnon và nhóm tác giả, những bài phê bình về quan điểm khuynh hướng khu vực mới đối với tầm quan trọng khiến nghiên cứu tương lai trở nên nhạy cảm hơn đối với chính trị phát triển khu vực và địa phương

Có sự lo ngại rằng những hướng tiếp cận người địa phương mới cuối cùng có thể sẽ hỗ trợ và hợp pháp hóa những nỗ lực của những nhóm nghiên cứu ưu tú trong xây dựng và thúc đẩy các chương trình nghị sự khu vực che giấu đằng sau đó là những mối quan hệ quyền lực không bình đẳng giữa những quyền lợi đặc biệt (MacKinnon cùng nhóm tác giả, 2002, trang 304)

Những ý kiến phê bình tương tự cũng được dành cho đô thị hồi sinh (Gordon, 2004) hay diễn ngôn khu vực

đô thị cạnh tranh (Ward và Jonas, 2004) Gordon (2004, trang 378) cho rằng nếu luận cương đô thị hồi sinh

có giá trị, nó cũng sẽ khó hiểu ở chỗ về thực tế, nó không đưa ra giải pháp bảo vệ các kiểu đô thị trong khi trong số các đô thị, một số sẽ có khả năng cạnh tranh hơn những nơi khác Ông cũng kêu gọi cần có thêm những phân tích rõ ràng hơn về sự biến đổi tính cạnh tranh ở các cơ quan trong khu vực Ward và Jonas (2004, trang 2120, 2134) khẳng định rằng các tài liệu về khuynh hướng khu vực đô thị thể hiện một sự tranh luận thuyết phục tuy nhiên có những hạn chế về lý thuyết và chính sách khi dành đặc quyền cho đô thị hay khu vực đô thị có quy mô cạnh tranh kinh tế Mối lo ngại lớn là chương trình nghị sự khuynh hướng khu vực đô thị cạnh tranh là về phát triển kinh tế khu vực-toàn cầu hơn là giải quyết những vấn đề tái phân bố,

sự mâu thuẫn, ý kiến phản đối chiến lược và chính trị (trang 2121) Đặc biệt, cũng có những câu hỏi chính sách và lý thuyết quan trọng về tính hợp pháp của đô thị/khu vực đô thị và khu vực với phạm vi cho trước hay ưu việt hơn đối với sự quản lý kinh tế và can thiệp chính sách (Jones, 2001, trang 1202-1203; Lovering,

1999, 390; MacLeod, 2001, trang 819; Ward và Jonas, 2004, trang 2119) Thật không may, những ý kiến giá trị này sẽ không được chuyển thành chính sách một cách thực sự

Toàn cầu hóa, Tính cạnh tranh, văn hóa và Tiếp thị đô thị

Những nhà lập chính sách ở cấp quốc gia, huyện thị và địa phương đã ý thức được những đóng góp tiềm năng của nghệ thuật và văn hóa đối với sự phát triển kinh tế và tạo công việc mới Việc dùng văn hóa như một công cụ để đạt được những mục tiêu xã hội và kinh tế một cách rộng rãi hơn không ở một nơi nào rõ nét hơn ở các đô thị Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, sản xuất giảm sút và tiếp thị lên ngôi, nhiều đô thị

đã dùng văn hóa như một công cụ hữu ích để đạt được lợi thế cạnh tranh (Griffiths, 2006, trang 415)

Như đã trình bày ở trên, có sự cộng hưởng rất rõ ràng giữa những tranh cãi lý thuyết trước đây và sự hấp dẫn của các đô thị Điều này được minh chứng rõ ràng trong bài nghiên cứu của Florida (2003), bài nghiên cứu này đã chỉ ra rõ ràng rằng các đô thị cần thúc đẩy sự hấp dẫn của chúng đối với các tầng lớp sáng tạo để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế Điều này chỉ ra một khía cạnh khác đối với nội dung tiếp thị về đô thị hiện tại Đó là, trong thời đại toàn cầu hóa và cạnh tranh liên lục địa hoặc trong thời kỳ chiến tranh các nhà cầm quyền địa phương và các tổ chức tiếp thị đã quảng cáo tài sản của đô thị đến các nhà đầu tư tiềm năng, khách du lịch và cư dân địa phương (Cochrane, 2003, trang 539; Griffiths, 2006, trang 415-416; Jessop

1997, trang 28; Kearns và Paddison, 2000, trang 845; Malecki, 2002, trang 929; Oatley, 1998a, trang 5) Việc gia tăng tiếp thị địa phương đã được lý thuyết hóa như một phần của việc chuyển đổi từ chủ nghĩa quản lý thành chủ nghĩa thầu khoán và phương thức nâng đỡ sự phát triển quản lý đô thị với mục tiêu tìm kiếm ưu thế cạnh tranh so với các khu vực lân cận (Harvey, 1989; xem Boyle, 1997; Hooper và Punter, 2006; Hubbard và Hall,1998; Jessop, 1997)

Thúc đẩy một hình ảnh đúng đắn là phần cốt lõi trong tiếp thị đô thị (Fretter, 1993, trang 1665; Hall, 2001, trang 124; Kearns và Paddison, 2000, trang 845; MacLeod và nhóm tác giả, 2003, trang 1659; Paddison,

1993, trang 340) Những đô thị được nhận thức như một hàng hóa tư bản có thể được thiết kế lại và tiếp thị

Trang 9

tới người tiêu dùng ở một địa điểm buôn bán (Ashworth và Voogd, 1990; Goodwin, 1993; Griffiths, 1998; Ward, 1998) Quá trình này bắt đầu bằng các dự án tái sinh (“flagship”) và các chiến dịch thiết kế đô thị làm chuyển đổi địa thế đô thị (Hubbard và Hall, 1998; Smyth, 1994) Theo sau đó là các chiến dịch quảng bá và cạnh tranh quyết liệt giữa các đô thị thông qua việc xây dựng hình ảnh mới, cầu kỳ và có sự cân nhắc để thay thế các hình ảnh cũ kỹ và phản cảm (Holcomb, 1993; Paddison, 1993; Sadler, 1993) Mục tiêu là tạo ra một nét riêng độc đáo (Harvey, 1989) để tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh (Badcock, 2002; Holcomb, 1993; Fretter, 1993) Có tranh cãi cho rằng giai đoạn hiện nay là xây dựng thương hiệu và đường lối tiếp thị (Hall, 2001; Hannigan, 2003) hơn là bán các đô thị (Kearns và Philo, 1993) bởi vì các đô thị được tái sinh và phát triển với những đối tượng khán giả cụ thể: điển hình như tầng lớp hạng trung, các chuyên gia và những người thu nhập cao Hơn thế, có người còn cho rằng chúng ta đang tiến đến một thời

kỳ của những đô thị tái sinh và kỳ diệu với hình ảnh “ chuyển động, sành điệu, tự tin, chuyên nghiệp và sáng tạo” (Hannigan, 2003, trang 352-354) Dự định là thu hút đầu tư vốn lưu động, những cư dân mới, văn hóa, thể thao và kinh doanh du lịch (Griffith, 1998)

Với việc ấp ủ những tính toán này, nhiều đô thị đã chuyển đổi thành những địa điểm văn hóa mua sắm (Badcock, 2002; Boyle, 1997; Evans, 2003; Griffiths, 2006; Hall, 2000; Jessop, 1997; MacLeod, 2006 và nhóm tác giả, 2003) Ở đây các đô thị quảng bá hình ảnh của mình tới các khán giả quốc tế như những địa điểm tới của bề dầy văn hóa- như nghệ thuật, giải trí và thể thao hơn là dẫn chứng của một di sản cổ kính mang dáng dấp cộng đồng địa phương (Evans, 2003, trang 417-419; Hannigan, 2003, trang 354) Dẫn chứng cho điều này có thể tìm thấy ở đô thị Liverpool và Cardiff nơi chủ trương đổi mới tái sinh nền văn hóa là một nét nổi bật của chính sách hiện hành Những chiến dịch quảng bá tập trung vào sân vận động Thiên Niên Kỷ ( thể thao, âm nhạc và các sự kiện lớn khác) và trung tâm Thiên Niên Kỷ (những môn nghệ thuật cao, âm nhạc và các sự kiện văn hóa khác) ở Cardiff (Lovering, 2006a) và Liverpool thủ đô văn hóa của Châu Âu (ECOC) đã thể hiện khát vọng ghi dấu trên bản đồ nghệ thuật, văn hóa, giải trí toàn cầu (Trong cuộc thảo luận của Bristol, Cardiff và cuộc đấu giá của Liverpool cho ECOC, xem Griffiths, 2006) Sân vận động Thiên Niên Kỷ đã đặc biệt thành công trong việc tổ chức nhiều sự kiện lớn thu hút nhiều khách du lịch

từ các vùng xứ Wales, Anh quốc và nhiều nơi khác Điều này là trung tâm của chiến dịch quảng bá Cardiff như là “một đô thị điểm đến và sự kiện”, cùng với việc xây dựng vịnh Cardiff trở thành sòng bạc khổng lồ của Vương quốc Anh (Lovering, 206a)

Tuy nhiên, tiếp thị đô thị cũng không tránh khỏi những chỉ trích Griffiths (2006 trang 416-417) đã chỉ ra rằng những điểm cần lưu ý như văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo đã không được đưa vào chính sách công cộng một cách thích hợp và chúng đã phải chịu “sự nhầm lẫn về khái niệm và sự suy giảm

về thuật ngữ” Một sự chỉ trích khá gay gắt khác đó là “ tính khuênh khoang về đô thị” dẫn tới sự méo mó không rõ ràng giữa “ cách nói hoa mỹ và thực tế” của cuộc sống trong đô thị qua việc xây dựng những nơi mang tính chất huyền thoại (Hubbard và Hall, 1998, trang 6-8) Đằng sau những trung tâm đô thị tráng lệ và

sự phát triển của các khu cảng, vẫn còn những bằng chứng của sự phân cực đô thị giữa những căn nhà ổ chuột cùng sự đói nghèo và những căn hộ sang trọng và sự sung túc (MacLeod, 2002; MacLeod và nhóm tác giả, 2003) Khi đô thị nhắm tới các nhóm xã hội nhất định thông qua việc tái tạo văn hóa, chúng vẫn thực sự làm trầm trọng thêm những bất bình đẳng xã hội và không gian (Hall, 2001, trang 141; Hannigan,

2003, trang 355) Liên quan tới vấn đề này là hội chứng sự kiện và việc tạo ra khu vực vui chơi giải trí cho những người thu nhập cao trong khi những người sống bên rìa xã hội thậm chí không thể tham gia một cách

có hiệu quả và tận hưởng những gì được đem cho (Badcock, 2002, trang 91-91) Tại cuộc đấu thầu thi công sòng bạc khu vực Cardiff một mối quan tâm mạnh mẽ dược đưa ra là những công việc từ sòng bạc sẽ không thể đem lại lợi ích cho những cộng đồng cư dân nghèo sống ở gần tới những khu lân cận (xem Lovering, 2006b) Một nỗi sợ nữa là khu sòng bài có thể dễ dẫn tới những vấn đề xã hội nghiêm trọng như nghiện cờ bạc, tội phạm và rửa tiền, chưa kể tới sự thiếu tế nhị đối với số lượng lớn dân Hồi Giáo ở các vùng lân cận của Butetown và Grangetown ( cờ bạc bị cấm trong kinh Koran) Một vấn đề nữa là mặc dù khát vọng tạo ra tính độc đáo duy nhất, tiếp thị địa phương thường dẫn tới sự giống hệt nhau trong cả chính sách và thực tiễn Điều này phản ánh trong chiến lược thiết kế đô thị “copycat” và “kiến trúc karaoke” nơi mà các đô thị tìm kiếm những sự thi công tốt nhất nhưng thường kết thúc bằng việc bắt chước lẫn nhau (Evans, 2003, trang

Trang 10

417; sự phê bình Vịnh Cardiff), xem Lovering, 2005; Punter, 2006a) Cuối cùng, chiến lược tiếp thị địa phương có thể thiếu sự tưởng tượng thực tế và tính ổn định lâu dài

Điều nguy hiểm là hầu hết các đô thị tin rằng họ sẽ thành công trong cuộc đua doanh nghiệp và/ hoặc có thể theo đuổi thành công những chính sách đã thực thi ở một nơi nào đó Tuy nhiên, nếu mọi đô thị là doanh nghiệp theo cách “me-tooist” thì bất kỳ lợi thế cạnh tranh nào được kéo theo có lẽ đều chứng minh được tính phù du và sự tồn tại không lâu (Jessop, 1998, trang 86)

Chủ nghĩa cạnh tranh giữa hai đô thị Cardiff và Liverpool

Những phần trước đã phân tích những vấn đề lý thuyết và chính sách phát triển kinh tế rộng rãi, bài viết này sẽ tiếp tục tiếp cận những chính sách phát triển kinh tế địa phương giữa Cardiff và Liverpool Chúng ta hãy cùng nhìn vào cách các đô thị này tiếp cận các vấn đề Điều quan trọng là phải ghi chú rằng những chính sách địa phương dẫn tới những nghiên cứu sự cạnh tranh đô thị điều nhấn mạnh tới sự tiếp cận địa lý của những đô thị này vượt ra ngoài biên giới quản lý khu vực (ví dụ ODPM, 2003, 2004, Parkinson và nhóm tác giả, 2004) Đô thị vùng Cardiff được diễn đạt theo những ảnh hưởng tới phía Nam thung lũng Wales ( Cardiff County Council, 2001, 2004a, 2005) hoặc cụ thể hơn 10 chính quyền địa phương của Đông Nam Wales đặt ra trong Kế hoạch không gian của Wales (WAG, 2004)

Trong ngữ cảnh này, Cardiff đóng một vai trò quan trọng như là một nhà cung cấp những công việc và chức năng của nó như thủ đô của xứ Wales Ở Liverpool, đô thị được chia theo hai cách Văn phòng chính phủ của phía Tây Bắc (GONW, 1999) chia Merseyside thành năm chính quyền địa phương trong khi các quan

hệ đối tác của Mersey sử dụng một định nghĩa rộng hơn bao gồm thị trấn và đô thị ở Cheshire, Lancashire

và Tây Bắc xứ Wales Cách chia trước có sự chính đáng về mặt kinh tế và địa lý bởi Liverpool là mũi nhọn kinh tế chính của Merseyside, trong khi khái niệm thứ hai vẫn là một nghi vấn lớn Ảnh hưởng của những nghiên cứu về phân chia các vùng của đô thị được khẳng định bởi những người ủng hộ ở cả hai đô thị mà dẫn đầu là Parkinson Công việc của Parkinson được coi có trọng lượng và thẩm quyền bởi ông được xem là một tên tuổi lớn trong các lĩnh vực mang tính học thuật với uy tín trong và ngoài nước Do đó việc đưa ra các chỉ thị đối với vấn đề này và các công việc liên quan bằng việc trích dẫn ra các văn bản pháp quy là rất quan trọng Thậm chí một vài nhà ủng hộ đã đi xa hơn và đưa ra thông tin rằng thật sự cần thiết nghiên cứu tính cạnh tranh của các đô thị để giảm bớt nguồn tài trợ từ Vương Quốc Anh và Châu Âu Đây là một ví dụ

về tầm quan trọng của các nghiên cứu mang tính học thuật và việc dịch các khái niệm vô hướng từ lý thuyết tới chính sách Các nhà ủng hộ cũng cho hay rằng tồn tại những nhà định hướng chính trị giúp bộ máy nhà nước trung ương xác định và tận dụng những nhà nghiên cứu chủ chốt cho những việc nghiên cứu được ủy quyền Ví dụ như tác phẩm của Parkinson và Harding cho ODPM và tác phẩm của Porter cho DTI Điều này

sẽ tạo nên hiệu ứng cao cho RDA trong việc bao quát bộ khung chính trị cho những chính sách phát triển kinh tế Tương tự như thế, những nhà ủng hộ chính quyền địa phương cũng giải thích tại sao các thành viên

và nhân viên chính phủ thường xuyên bộc lộ, thích thú và bị ảnh hưởng bởi những cái tên và ý tưởng giống nhau

Chúng ta hãy cùng xem xét một cách chi tiết hơn những yếu tố chính của những chính sách phát triển kinh

tế địa phương ở Cardiff và Liverpool Điểm đầu tiên đó là cả hai đô thị đều sử dụng các cách tiếp cận mang tính thầu khoán và ủng hộ đối với sự phát triển kinh tế (Cardiff, xem Bristol và Lovering, 2006; Morgan, 2006; Liverpool, xem Jones và Wilks-Heeg, 2004; Meegan, 2003) Cách tiếp cận của Cardiff bắt nguồn từ các bài báo cáo của Philip Cooke cho Hội đồng phía Nam Glamorgan (Cooke, 1992) Theo các quan chức địa phương, nghiên cứu này được đưa vào thực hiện bởi những chuyên gia có tầm ảnh hưởng lớn của doanh nghiệp địa phương và giới truyền thông chính trị và nhanh chóng trở thành câu chuyện của đô thị Theo thuyết khái niệm, các đô thị chính là đầu tàu trong việc phát triển kinh tế, báo cáo của Cooke đã chỉ ra rằng tham vọng của Cardiff đối với tầng lớp dân đô thị Châu Âu cần một chiến lược phát triển chuyên nghiệp và rằng đô thị nên nhấn mạnh tới vai trò của mình trong khu vực ngầm (ví dụ như thung lũng phía Nam xứ Wales) (Cooke, 1992, trang 2-4, trang 11, trang 18-19) So sánh với các đô thị Châu Âu khác, Cardiff cần trở nên cạnh tranh, cải tiến hơn, giỏi hơn trong việc tiếp thị những tài sản của mình Nền kinh tế của nó phụ thuộc vào sự phát triển các kiến thức kinh tế, sáng tạo và tính táo bạo (Cooke, 1992, trang 4-6, trang 20-23, trang 38, trang 48-50) Các văn bản chính sách tiếp theo đã quan tâm tới nhiều sự giới thiệu của các bài báo cáo Ví dụ như trong Chiến lược phát triển kinh tế của Cardiff 2001-1006 đã xem đô thị như “ động cơ của

Ngày đăng: 04/02/2020, 07:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w