1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động từ hiểu biết về cộng đồng kinh tế Asean đến khả năng nhận biết của giới trẻ đối với cơ hội và thách thức trong quá trình tham gia của Việt Nam

12 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 270,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục đích đo lường mức độ hiểu biết của giới trẻ Việt Nam về AEC và ước lượng ảnh hưởng của sự hiểu biết này đến nhận thức về những cơ hội và thách thức mà AEC tạo ra. Kết quả khảo sát 214 lao động trẻ đang làm việc tại các doanh nghiệp cho thấy giới trẻ Việt Nam rất tự tin vào hiểu biết về AEC, nhưng kiến thức thực tế của họ về AEC là khá thấp.

Trang 1

TÁC ĐỘNG TỪ HIỂU BIẾT VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN ĐẾN KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT CỦA GIỚI TRẺ ĐỐI VỚI

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA

CỦA VIỆT NAM

KNOWLEDGE OF THE YOUTH ABOUT THE ASEAN ECONOMIC

COMMUNITY (AEC) AND THEIR AWARENESSS OF APEC-RELATED

OPPORTUNITIES AND THEREATS

Nguyễn Thị Phương Chi1, Trần Thị Phương Thủy2

Tóm tắt – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

được thành lập năm 2015 và trong tương lai gần

sẽ có rất nhiều cam kết Việt Nam phải hoàn

thành theo các thỏa thuận đã kí kết Hiện nay,

các doanh nghiệp nội địa chính là những đối

tượng chịu nhiều áp lực cạnh tranh ngay trên thị

trường trong nước Do đó, để tận dụng những cơ

hội và đối phó với những thách thức đến từ AEC,

hơn lúc nào hết doanh nghiệp Việt Nam cần chú

trọng xây dựng đội ngũ lao động có khả năng

nhận thức nhạy bén với thách thức và cơ hội của

AEC, từ đó giúp doanh nghiệp củng cố và nâng

cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các doanh

nghiệp Việt Nam và người lao động dường như

còn chưa sẵn sàng tham gia khu vực này Việc

thiếu thông tin về AEC cùng các hướng dẫn thực

thi đang trở thành một rào cản lớn cho nền kinh

tế Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục

đích đo lường mức độ hiểu biết của giới trẻ Việt

Nam về AEC và ước lượng ảnh hưởng của sự

hiểu biết này đến nhận thức về những cơ hội và

thách thức mà AEC tạo ra Kết quả khảo sát 214

lao động trẻ đang làm việc tại các doanh nghiệp

cho thấy giới trẻ Việt Nam rất tự tin vào hiểu

biết về AEC, nhưng kiến thức thực tế của họ về

AEC là khá thấp Giới trẻ cũng nhận ra nhiều cơ

hội và thách thức mà AEC mang lại Một số gợi

ý cho các nhà quản lí doanh nghiệp, các cơ sở

1,2

Trường ĐH Ngoại thương, Cơ sở II tại TP Hồ

Chí Minh.

Email: nguyenthiphuongchi.cs2@ftu.edu.vn

Ngày nhận bài: 06/9/2017; Ngày nhận kết quả bình

duyệt: 27/9/2017; Ngày chấp nhận đăng: 24/10/2017

giáo dục và nhà hoạch định chính sách đã được trình bày trong bài.

Từ khóa: Cộng đồng kinh tế ASEAN, giới trẻ, mức độ hiểu biết, nhận thức, Việt Nam.

Abstract – ASEAN Economic Community

(AEC) was established in 2015 and many agree-ments and commitagree-ments must be completed by Vietnam in the future In the context of deeper integration, Vietnamese enterprises are facing competitive pressures in the domestic market Thus, to take advantage of opportunities and respond to challenges, Vietnamese enterprises need to focus on building a workforce that is keenly aware of the challenges and opportunities

of the AEC This will help consolidate and im-prove their competitiveness However, Vietnamese companies and their employees have not been unready for the AEC yet The lack of information about the AEC and the instructions become a major obstacle to the economy The purpose of this research is to measure level of knowledge of the youth about the AEC and estimates its impact

on their awarenesss of opportunities and threats related to the AEC Results from the survey of

214 young employees show that Vietnamese youth are confident of their subjective knowledge of the AEC, but their objective knowledge of the AEC is quite low The youth recognized many opportu-nities and challenges brought by the AEC Some relevant implications for managers, educational institutions and policymakers are also suggested

in this research.

Trang 2

Keywords: ASEAN Economic Community,

youth, lever of knowledge, awareness, Vietnam.

I GIỚI THIỆU Cuối năm 2015, cộng đồng kinh tế ASEAN

(AEC) đã được thành lập gắn kết nền kinh tế của

10 nước thành viên trong khu vực hướng đến

mục tiêu hòa bình, ổn định, phát triển cùng có

lợi Trong Hiệp định Thương mại Tự do (FTA)

mà Việt Nam đã kí kết, các cam kết về cắt giảm

thuế quan trong AEC là cao nhất và nhanh nhất

Theo đó, đến năm 2018 Việt Nam sẽ phải hoàn

tất việc xóa bỏ hàng rào thuế quan với hàng hóa

của các nước ASEAN Trong lĩnh vực thương mại

dịch vụ, một số ngành Việt Nam đã đưa ra các

cam kết cao hơn so với WTO Các cam kết về

đầu tư trong AEC cũng toàn diện hơn so với cam

kết trong WTO Về tự do hóa lao động, sẽ có tám

ngành nghề người lao động có kĩ năng được di

chuyển tự do trong khu vực ASEAN Như vậy,

với việc thành lập AEC, sự gắn kết giữa các nước

thành viên trong khối ngày càng chặt chẽ hơn,

nhưng song song đó là mức độ cạnh tranh giữa

các quốc gia ASEAN cũng trở nên khốc liệt hơn

Các doanh nghiệp và người lao động Việt Nam

đã sẵn sàng cho quá trình thực thi đầy đủ các

cam kết và nghĩa vụ trong AEC chưa? Đây là

một vấn đề đang thu hút sự quan tâm của nhiều

nhà nghiên cứu

Theo một điều tra thực hiện tháng 4/2016 của

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam,

Việt Nam có tới 94% doanh nghiệp biết đến AEC

nhưng chưa tới 17% biết rõ về AEC [1] Số doanh

nghiệp tận dụng được các cơ hội từ AEC thời gian

qua còn thấp hơn nữa Ví dụ, theo thống kê của

Bộ Công thương, tỉ lệ kim ngạch xuất khẩu sang

ASEAN tận dụng ưu đãi thuế quan theo Hiệp

định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA)

của doanh nghiệp trong những năm vừa qua chỉ

chiếm dưới 30% Tương tự, theo Tổng cục Thống

kê, sau một năm triển khai AEC, nhập khẩu của

Việt Nam từ ASEAN giảm 1,9% nhưng xuất khẩu

vào các nước ASEAN lại giảm tới 5,6% Những

số liệu này cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam

chưa tận dụng triệt để các cơ hội mà AEC mang

lại và dường như họ đang gặp nhiều thách thức

khi Việt Nam tham gia vào AEC

Một trong những trở ngại khiến các doanh

nghiệp chưa tận dụng hết cơ hội mà AEC mang

lại có thể là do vấn đề hiểu biết về AEC Việc thiếu chủ động tìm hiểu thông tin về nội dung các cam kết và hướng dẫn thực hiện dẫn đến

sự thiếu hiểu biết về AEC Do đó, việc nâng cao nhận thức về AEC thực sự là một vấn đề cấp bách đối với doanh nghiệp hiện nay Để làm được điều

đó, các doanh nghiệp cần chắc chắn rằng đội ngũ nhân sự của mình phải hiểu biết về các quy định của AEC Và, việc nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp về AEC được bắt đầu từ chính đội ngũ lao động

Việt Nam là một nước có dân số trẻ Theo Tổng cục Thống kê, tỉ lệ dân số dưới 30 tuổi năm 2016 chiếm 51,7% toàn dân số, người lao động dưới

30 tuổi chiếm gần một nửa lực lượng lao động của quốc gia [2] Có thể nói, lao động trẻ giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Về mặt xã hội, giới trẻ là giai đoạn chuyển tiếp giữa “trẻ em” và

“người lớn” Vì vậy, giới trẻ sẽ ảnh hưởng đến hai nhóm đối tượng này Do đó, bất cứ những điều gì thách thức hay cơ hội mà “giới trẻ” có được cũng ít nhiều ảnh hưởng đến các thành viên khác của gia đình, điển hình là “người lớn” Đối với doanh nghiệp, lao động dưới 30 tuổi thường rất năng động và ham học hỏi, sẽ trở thành thế

hệ lãnh đạo trong tương lai gần Việc đo lường hiểu biết của họ là rất quan trọng, giúp doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn về chất lượng đội ngũ lao động của mình

Các nghiên cứu về cộng đồng ASEAN nói chung khá nhiều nhưng hầu như được tiến hành bởi các cơ quan chính phủ hoặc tổ chức quốc tế Cách tiếp cận của các nghiên cứu này chủ yếu dựa vào tình hình thực tiễn thông qua phân tích những cơ hội hay thách thức đối với nền kinh tế

và hầu như không đề cập đến các cơ sở lí thuyết nền tảng Các nghiên cứu hàn lâm về vấn đề hiểu biết của giới trẻ đối với AEC còn khá ít Một số nghiên cứu đã đo lường mức độ hiểu biết của giới trẻ thông qua dữ liệu thống kê mô tả như nghiên cứu của Benny năm 2015 [3], nghiên cứu của Barbin và Nicholls năm 2013 [4] Tuy nhiên, các nghiên cứu này được tiến hành với đối tượng sinh viên chứ không phải là lao động trẻ tuổi Thêm vào đó, các nghiên cứu trước đây đều được thực hiện từ năm 2015 trở về trước, tức là khi AEC còn chưa được thành lập Do đó, nghiên cứu này

hi vọng sẽ đo lường được mối quan hệ giữa biến

Trang 3

hiểu biết của giới trẻ với các biến phụ thuộc gồm

cảm nhận về cơ hội và thách thức mà AEC mang

lại Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp

bằng chứng thực tiễn cập nhật về hiểu biết của

giới trẻ Việt Nam nhằm so sánh với các quốc gia

trong khu vực

Nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi sau: Giới

trẻ Việt Nam tự đánh giá mức độ hiểu biết của

mình về AEC như thế nào? Hiểu biết thực sự của

giới trẻ Việt Nam về AEC ra sao? Họ nhận thức

như thế nào về những cơ hội, thách thức mà AEC

đem lại cho nền kinh tế Việt Nam cũng như bản

thân?

A Tổng quan về AEC

ASEAN được thành lập năm 1967, tính đến

nay có 10 quốc gia thành viên với quy mô dân

số khoảng 622 triệu người, GDP đạt 2.600 tỉ USD

(năm 2014) Việt Nam trở thành thành viên chính

thức của ASEAN năm 1995

Cuối năm 2015, AEC được hình thành Tuy

nhiên, không phải đến thời điểm này các cam

kết kinh tế trong khu vực ASEAN mới chính thức

có hiệu lực, mà rất nhiều hiệp định, cam kết liên

quan đã được thực hiện từ trước đó (xem Hình 1)

Ví dụ: chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực

chung (CEPT) đã được thực hiện từ năm 1992,

Hiệp định thương mại hàng hóa có hiệu lực từ

năm 2010 Do đó, bản chất của AEC là một tiến

trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là

một thỏa thuận hay một hiệp định với các cam kết

ràng buộc Các văn bản mà Việt Nam tham gia

kí kết trong AEC có thể bao gồm những cam kết

có tính ràng buộc thực thi (ví dụ các hiệp định)

nhưng cũng có những văn bản không mang tính

bắt buộc mà nhằm mục đích tuyên bố hoặc đặt

ra mục tiêu hướng tới Do đó, tìm hiểu về AEC

đòi hỏi một hệ thống kiến thức đa dạng, nhiều

chiều và liên tục cập nhật

B Tổng quan về giới trẻ

Theo Henze [5], giới trẻ được định nghĩa là

những người đủ lớn để có thể rời xa bố mẹ, chọn

một nghề nghiệp cho riêng mình và đóng góp vào

sự phát triển của xã hội Theo Chương trình định

cư con người của Liên Hiệp Quốc (UN Habitat)

[6], những người từ 15 đến 32 tuổi sẽ được xếp

vào nhóm “giới trẻ” Như vậy, khái niệm giới trẻ

có nhiều cách tiếp cận khác nhau

Trong nghiên cứu này, thuật ngữ “giới trẻ” được hiểu là những người trong độ tuổi từ

18-30 Vì xét về khía cạnh xã hội, những người từ

đủ 18 tuổi trở lên được xem là đủ lớn để bắt đầu cuộc sống tự lập Về mặt pháp luật, họ là những người đủ năng lực hành vi dân sự, thật sự chịu trách nhiệm về những hành vi của mình Về giáo dục, đây là độ tuổi kết thúc giáo dục phổ thông, chuyển sang cấp bậc giáo dục cao hơn Theo quan điểm truyền thống “tam thập nhi lập”

ở Việt Nam, một người sau tuổi 30 mới được coi là cá nhân độc lập, còn những người dưới

30 tuổi thì vẫn chưa thực sự trưởng thành Theo

số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, số lao động trẻ dưới 30 tuổi chiếm đến 53% tổng dân số toàn khu vực ASEAN [1]

Do đó, những lao động trẻ dưới 30 tuổi là lực lượng lao động rất quan trọng đối với các quốc gia tham gia vào AEC, trong đó có Việt Nam

C Tổng quan về mức độ hiểu biết của con người

Theo Korchia [7], hiểu biết của người tiêu dùng là tất cả các thông tin liên quan đến sản phẩm và thị trường được lưu trữ trong bộ nhớ dài hạn của người tiêu dùng mà cho phép người tiêu dùng đưa ra quyết định trên thị trường Trong khi đó, Brucks [8] cho rằng sự hiểu biết được đặc trưng bởi cấu trúc và nội dung của các thông tin được lưu trữ trong bộ nhớ Theo đó, hiểu biết của người tiêu dùng được phản ánh trên ba khía cạnh: hiểu biết chủ quan, hiểu biết khách quan

và kinh nghiệm tích lũy của người tiêu dùng về sản phẩm Hiểu biết chủ quan là nhận thức của con người rằng họ biết về một đối tượng nào đó Hiểu biết khách quan là lượng thông tin mà con người ghi nhớ Có thể thấy, hiểu biết khách quan

là kiến thức thực sự của con người về một đối tượng nào đó và có thể đo được thông qua các bài kiểm tra, có thể là các câu hỏi mở hay câu hỏi trắc nghiệm

Kết quả nghiên cứu [8] và [3] đã chỉ ra rằng hiểu biết chủ quan và hiểu biết khách quan có tương quan với nhau Nói cách khác, một người

có mức độ am hiểu kiến thức càng cao thì sự

tự tin của họ vào hiểu biết của mình càng lớn Nghiên cứu này sẽ kiểm định lại mối quan hệ

Trang 4

Hình 1: Quá trình hình thành AEC

cùng chiều giữa hai khía cạnh của sự hiểu biết

về AEC Do đó, nhóm nghiên cứu đưa ra giả

thuyết sau:

H1: Kiến thức hiểu biết khách quan về AEC

tác động tích cực đến mức hiểu biết chủ quan

của giới trẻ về AEC

D Tổng quan về nhận thức

Theo Siegel, Germer & Olendzki [9], khái

niệm nhận thức, bao gồm các thành phần nhận

thức, tình cảm và xã hội được định nghĩa là những

kinh nghiệm chủ quan đặc trưng, hướng sự chú ý

đến những sự kiện nhất thời bằng thái độ khách

quan và chấp nhận chúng Nhận thức phát triển

những kĩ năng nhận biết cảm xúc của người khác

và bản thân Chính vì vậy, một người có khả năng

nhận thức cao sẽ phân biệt được các loại cảm xúc

này và sử dụng thông tin ấy để định hướng suy

nghĩ và hành động của bản thân [10]

Theo Jarut Kunanoppadol [11], người Thái Lan

nhận thức được rằng sự hình thành AEC sẽ có

lợi không chỉ cho quốc gia của họ mà còn cho

xã hội và kinh tế Ngược lại, nghiên cứu của

Benny [12] cho thấy, các sinh viên Malaysia đã

sớm nhận thức được những trở ngại mà AEC tạo

ra trong vấn đề làm giảm an ninh khu vực và

làm mất bản sắc văn hóa dân tộc Trong khi đó,

Selnes & Gronhaug [13], bằng những phân tích

của mình, đã kết luận rằng hiểu biết chủ quan tác

động đến hành vi con người mạnh mẽ hơn hiểu

biết khách quan Minh chứng cho kết luận này,

nghiên cứu của Benny [3] cho thấy nhận thức về

vai trò của AEC chịu sự tác động lớn của biến

hiểu biết chủ quan với hệ số 0,2 đến gần 0,5 Do

đó, nghiên cứu này kì vọng sự tự tin của giới trẻ

vào hiểu biết về AEC sẽ giúp họ có thái độ tích cực đối với những cơ hội mà khu vực kinh tế ASEAN mang lại cho họ Vì thế, giả thuyết sau đây được đề xuất:

H2: Hiểu biết chủ quan tác động tích cực đến những cảm nhận về cơ hội mà AEC mang lại Tương tự, một cá nhân có mức độ hiểu biết cao sẽ sớm nhận thức những thách thức mà AEC mang lại cho nền kinh tế Do đó giả thuyết sau được đề xuất:

H3: Hiểu biết chủ quan tác động cùng chiều đến việc nhận thức những thách thức mà AEC tạo ra

E Các yếu tố nhân khẩu học

Nghiên cứu của Benny [3] tiến hành tại ba nước Việt Nam, Indonesia và Malaysia đã phát hiện ra rằng chuyên ngành học tập của sinh viên

có ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết về AEC khác nhau Theo đó, sinh viên khối ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, ngân hàng có mức độ am hiểu về AEC cao hơn các nhóm sinh viên thuộc ngành khoa học tự nhiên, luật hay công nghệ Tuy vậy, nghiên cứu này không tìm thấy sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên theo độ tuổi, giới tính hay trình độ học vấn Có thể do đối tượng khảo sát giới hạn là sinh viên nên sự khác biệt về độ tuổi

và trình độ học vấn là không đáng kể Nghiên cứu này được tiến hành với các đối tượng tham gia đa dạng về trình độ học vấn cũng như lứa tuổi Do đó, kết quả mong đợi sẽ tìm ra sự khác biệt về tác động của mức độ hiểu biết chủ quan đến việc nắm bắt cơ hội và nhận ra thách thức giữa các nhóm đáp viên khác nhau Do đó, các giả thuyết sau được đề xuất:

Trang 5

H4a: Tác động của mức độ hiểu biết chủ quan

đến việc nhận ra thách thức sẽ mạnh hơn ở phái

nam so với phái nữ

H4b: Tác động của mức độ hiểu biết chủ quan

đến việc nhận ra thách thức sẽ mạnh hơn ở những

người có học vấn càng cao

H4c: Tác động của mức độ hiểu biết chủ quan

đến việc nhận ra thách thức sẽ mạnh hơn ở những

người có thu nhập càng cao

H5a: Tác động của mức độ hiểu biết chủ quan

đến việc nhận thức cơ hội sẽ mạnh hơn ở phái

nam so với phái nữ

H5b: Tác động của mức độ hiểu biết chủ quan

đến việc nhận thức cơ hội sẽ mạnh hơn ở những

người có trình độ học vấn càng cao

H5c: Tác động của mức độ hiểu biết chủ quan

đến việc nhận thức cơ hội sẽ mạnh hơn ở những

người có thu nhập càng cao

Từ các giả thuyết đưa ra, mô hình nghiên cứu

đề xuất được mô tả trong Hình 2

Hình 2: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Để kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất,

phương pháp nghiên cứu mô hình cấu trúc tuyến

tính đã được sử dụng nhờ ưu điểm có thể ước

lượng cùng lúc mối quan hệ giữa nhiều biến

nghiên cứu cũng như cho phép đo lường ảnh

hưởng của biến trung gian và phân tích đa nhóm

A Xây dựng thang đo

Để đo lường mức độ hiểu biết thực tế của giới

trẻ về AEC, nghiên cứu này đã sử dụng thang

đo gồm năm hạng mục phản ánh mức độ hiểu

biết khách quan, trong đó ba hạng mục được vận

dụng từ thang đo xây dựng bởi Benny (2013), hai

hạng mục liên quan đến thuế suất nhập khẩu và

đối tượng di chuyển trong AEC được phát triển

bởi nhóm nghiên cứu Do những câu hỏi này cho phép đo lường trực tiếp mức độ hiểu biết của đáp viên về AEC nên khái niệm “hiểu biết khách quan” là biến quan sát trực tiếp Thang đo biến hiểu biết chủ quan gồm năm hạng mục trong đó

ba hạng mục đầu tiên được điều chỉnh từ thang

đo gốc của Benny, hai hạng mục còn lại được đề xuất bởi nhóm tác giả Dựa trên kết quả nghiên cứu của Barbin và Nicholls thực hiện tại Thái Lan để khảo sát về cơ hội mà AEC mang lại cho sinh viên nước này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất thang đo cho biến nhận thức cơ hội mà AEC mang đến cho giới trẻ gồm bốn hạng mục xoay quanh bốn cơ hội: tìm việc làm, tăng thu nhập, đi

du lịch và khả năng mua hàng nhập khẩu Thang

đo nhận thức về thách thức gồm bốn hạng mục, trong đó hai hạng mục đầu liên quan đến yếu tố văn hóa và mức độ cạnh tranh thị trường do nhóm nghiên cứu đề xuất Thang đo liên quan đến an ninh trật tự được vận dụng từ kết quả nghiên cứu của Barbin và Nicholls Thang đo liên quan đến khả năng tìm việc làm được sử dụng từ nghiên cứu của Benny năm 2015

B Bảng hỏi

Bảng khảo sát gồm có ba phần Phần một là các câu hỏi lựa chọn để đo lường biến hiểu biết khách quan Do đây là biến quan sát trực tiếp nên trong mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng duy nhất để từ đó tính ra được số đáp án đúng cho từng đáp viên Phần hai của bảng hỏi gồm các câu hỏi đánh giá mức độ hiểu biết chủ quan của giới trẻ; cảm nhận của họ về những cơ hội, thách thức mà AEC mang lại Toàn bộ các câu hỏi trong phần hai được đo bằng thang đo Likert

5 điểm trong đó mức thấp nhất (1) là hoàn toàn không đồng ý và mức cao nhất (5) thể hiện thái

độ hoàn toàn đồng ý Phần ba là các câu hỏi liên quan đến thông tin cá nhân của đáp viên và biến nhân khẩu học

C Mẫu khảo sát và thu thập dữ liệu

Bảng khảo sát hoàn chỉnh đã được nhóm tác giả gửi đến các đáp viên qua email Lí do chọn kênh thông tin này để khảo sát là vì: Thứ nhất, kênh thông tin email đảm bảo việc tiếp cận đúng đối tượng mục tiêu Khi thu thập danh sách email, nhóm nghiên cứu đã chủ động lựa chọn đáp viên

Trang 6

là giới trẻ, những người đang đi làm Thứ hai,

đặc điểm của giới trẻ là thời gian sử dụng mạng

Internet rất nhiều Do đó, bảng khảo sát online sẽ

giúp nhóm nghiên cứu tiếp cận đúng đối tượng

mục tiêu và giúp đáp viên tiết kiệm thời gian trả

lời Thứ ba, do kiểm soát được lượng email gửi

đi nên nhóm sẽ tính toán được tỉ lệ phản hồi để

chủ động mở rộng quy mô mẫu khảo sát khi cần

Để tiếp cận với những công dân trẻ tuổi, nhóm

nghiên cứu đã liên hệ với ban liên lạc cựu sinh

viên của một số trường đại học, cao đẳng trên địa

bàn TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Tổng cộng

nhóm nghiên cứu đã thu thập được 1.542 email

của cựu sinh viên tốt nghiệp từ năm 2009 cho

đến năm 2016, là những người lao động trong

độ tuổi dưới 30 Thêm vào đó, nhóm đối tượng

này đã hoàn thành chương trình đào tạo và đã

tham gia vào thị trường lao động, có thu nhập ổn

định Vì thế, những người trẻ tuổi đang đi làm

là nhóm đáp viên phù hợp với khái niệm giới trẻ

mà nghiên cứu này đề cập (từ 18-30 tuổi) Bên

cạnh đó, để tạo sự lan tỏa, nhóm nghiên cứu đã

đề nghị các đáp viên cung cấp email của người

thân, bạn bè mà họ muốn giới thiệu tham gia vào

khảo sát này Tổng cộng đã có 21 đáp viên cung

cấp thông tin với số lượng email là 49

Dữ liệu sau khi thu thập đã được đưa vào phần

mềm SPSS 22 để làm sạch và phân tích nhân tố

Sau khi tính toán các chỉ số đo lường mức độ tin

cậy của các biến và loại bỏ các hạng mục không

phù hợp, dữ liệu tiếp tục được xử lí bằng phần

mềm AMOS 23 để ước lượng mối quan hệ giữa

các biến trong mô hình nghiên cứu và kiểm định

giả thuyết

Nhóm nghiên cứu nhận được 227 câu trả lời

qua email, đạt tỉ lệ 14,26% trên tổng số email gửi

đi Đây là một tỉ lệ khá thấp so với các phương

thức khảo sát truyền thống Tuy nhiên kích cỡ

mẫu 227 đảm bảo đủ lớn để áp dụng mô hình

cấu trúc tuyến tính Tuy nhiên, trong số đáp viên

có 13 người thuộc lứa tuổi từ 30 trở lên, do đối

tượng mục tiêu của nghiên cứu là giới trẻ trong

độ tuổi từ 18 - dưới 30 tuổi nên câu trả lời của các

đáp viên ngoài lứa tuổi này đã bị loại ra Tổng

cộng số câu trả lời cuối cùng được sử dụng trong

nghiên cứu này là 214 Bảng 1 mô tả các thống

kê về đối tượng khảo sát Dữ liệu trong Bảng 1 cho thấy hầu hết những người tham gia khảo sát này đều có trình độ đại học trở lên Điều này cũng phản ánh đúng tinh thần hiếu học của giới trẻ Việt Nam 95% số người được hỏi đều biết ít nhất một ngoại ngữ, đáng kể là có hơn 30% người tham gia khảo sát thành thạo từ hai ngoại ngữ trở lên 67% đáp viên có mức thu nhập dao động từ 5-18 triệu/tháng Do đối tượng khảo sát của đề tài là người trẻ tuổi, chủ yếu là sinh viên mới tốt nghiệp và thời gian đi làm chưa nhiều nên thu nhập cũng chỉ ở mức trung bình, số lượng người

có thu nhập cao chiếm tỉ trọng khoảng 13% Số lượng đáp viên nữ tham gia vào nghiên cứu đông gấp đôi so với số lượng đáp viên nam, lí do xuất phát từ dữ liệu cựu sinh viên mà nhóm thu thập chủ yếu được cung cấp bởi khối trường kinh tế -luật, nơi mà sinh viên nữ có thế mạnh Nhóm ít tiếp cận với khối trường thuộc nhóm ngành khoa học cơ bản nên tỉ lệ nam giới tham gia còn khá thấp, chưa phản ánh đúng cơ cấu dân số theo giới tính

Hệ số Cronbach Alpha ban đầu của khái niệm cảm nhận về thách thức là 0,673, sau khi loại đi hạng mục đầu tiên trong thang đo, chỉ số này đã tăng lên đáng kể, đạt mức 0,738 Như vậy, sau khi loại hạng mục không đạt yêu cầu về giá trị hội tụ, thang đo của các khái niệm nghiên cứu đều thỏa mãn yêu cầu về độ tin cậy Cronbach alpha với giá trị từ 0,702 đến 0,823 (xem Bảng 2) Nghiên cứu phân tích khám phá nhân tố cũng

đã tìm ra ba nhân tố tương ứng với ba biến nghiên cứu mà mô hình đề xuất

Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cho thấy mô hình đo lường đạt được độ tương thích với dữ liệu thu thập từ thị trường (χ2[57]= 113,5 (p<0,001); CFI= 0,951; TLI=0,933; RMSEA=0,055) Hiểu biết thực tế có tác động tích cực đến nhận thức chủ quan của giới trẻ về AEC (H1: β=0,079; p<0,1) (xem Bảng 3) Mức độ hiểu biết chủ quan về AEC có tác động mạnh đến nhận thức về cơ hội mà AEC mang lại cho mỗi cá nhân (H2: β=0,948; p<0,001) và ảnh hưởng lớn đến cảm nhận những thách thức mà AEC sẽ gây ra (H3: β=1,041; p<0,001) Các giả thuyết H1, H2, H3 đều được chấp nhận và có ý nghĩa thống kê

Ước lượng mô hình nghiên cứu bằng Bootstrap

Do số mẫu của nghiên cứu khá nhỏ nên để

Trang 7

Bảng 1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát

Không biết ngoại ngữ 9 4,2 Dưới 5tr/tháng 40 18,7 Biết 1 ngoại ngữ 137 64 5-dưới 10tr/tháng 85 39,7

10-dưới Biết 2 ngoại ngữ 63 29,4 18tr/tháng 59 27,6

18-dưới

Bảng 2 Độ tin cậy và kết quả phân tích nhân tố

Khái niệm

Số hạng mục (items)

Giá trị trung bình

Độ tin cậy (Cronbach Alpha)

Ma trận xoay Hiểu biết chủ quan

Cảm nhận cơ hội

Cảm nhận thách thức

Bảng 3 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Giả thuyết nghiên cứu m (chưa

chuẩn hóa)

m (chuẩn

Kiểm định giả thuyết

H1: Hiểu biết khách quan → Hiểu biết chủ quan 0,079 0,146 0,039 2,0 0,045 Chấp nhận H2: Hiểu biết chủ quan → Cảm nhận cơ hội 0,948 0,799 0,104 9,139 *** Chấp nhận H3: Hiểu biết chủ quan → Cảm nhận thách thức 1,041 1,000 0,095 10,92 *** Chấp nhận

m: ước lượng; S.E: sai lệch chuẩn; C.R: giá trị tới hạn; P: mức ý nghĩa

Trang 8

Hình 3: Mô hình nghiên cứu đề xuất

ước lượng các tham số của mô hình với quy mô

mẫu lớn hơn, nghiên cứu này sử dụng phương

pháp bootstrap với số lượng mẫu lặp lại N=1000

Bootstrap là phương pháp lấy mẫu lại có thay

thế, trong đó mẫu ban đầu đóng vai trò là đám

đông [14] Bảng 4 trình bày kết quả ước lượng

bằng phương pháp bootstrap với các tham số và

độ chệch được so sánh với các chỉ số tương ứng

khi áp dụng phương pháp ước lượng xu hướng

cực đại ML (Maximum Likelihood)

So sánh tham số ước lượng cũng như sai lệch

chuẩn giữa hai phương pháp ước lượng cho thấy

độ chênh lệch tuy xuất hiện nhưng không đáng

kể Do đó, có thể kết luận là các ước lượng trong

mô hình là có thể tin cậy được

Phân tích đa nhóm

Dữ liệu về phân tích đa nhóm được trình bày

trong Phụ lục 2 Trước tiên, để so sánh tác động

của hiểu biết khách quan đến việc cảm nhận cơ

hội và thách thức giữa nam giới và nữ giới, dữ

liệu được tách ra theo hai nhóm đáp viên nam và

nữ để kiểm định giả thuyết H4a và H5a Phương

pháp khả biến (tất cả các thông số trong hai mô

hình không bị ràng buộc) và phương pháp bất

biến từng phần (các trọng số hồi quy được ràng

buộc bằng nhau giữa hai nhóm) Kết quả phân

tích SEM cho thấy sự khác biệt giữa hai mô hình

không có ý nghĩa (χ2[16]= 17,745; p = 0,339, xem

Phụ lục 2) Do đó, mô hình bất biến từng phần

được lựa chọn, nói cách khác, mối quan hệ giữa

hiểu biết chủ quan của giới trẻ với nhận thức về

cơ hội/thách thức mà AEC mang lại không lệ

thuộc vào giới tính Giả thuyết H4a và H5a vì

thế bị bác bỏ

Để so sánh các nhóm đáp viên về độ tuổi, nghiên cứu này đã chia ra ba nhóm tuổi: nhóm

1 gồm những người từ 18-21 tuổi, nhóm 2 gồm những người từ 22-25 tuổi và nhóm 3 gồm những người từ 25-30 tuổi Kết quả kiểm định mô hình khả biến và bất biến cho thấy có sự khác biệt trong tác động của nhận thức chủ quan đến việc nhận biết cơ hội và thách thức mà AEC mang lại giữa các nhóm tuổi khác nhau (χ2[32]= 43,022;

p = 0,092) Cụ thể, ở nhóm đáp viên từ 22 tuổi trở lên tác động của hiểu biết chủ quan đến nhận thức cơ hội và thách thức đều rõ rệt và có ý nghĩa thống kê với β22 − 25t=1,111 và 1,186;

β25 − 30t= 0,901 và 1,011; p<0,001 Ngược lại, các bạn trẻ dưới 22 tuổi thì ảnh hưởng của hiểu biết chủ quan đến việc nhận ra cơ hội và thách thức chỉ ở mức tương đối (β18 − 22t= 0,463 và 0,805; p<0,005) Như vậy, giả thuyết H4b và H5b được chấp nhận

Tương tự, việc so sánh nhóm theo thu nhập cũng được chia thành ba nhóm theo mức thu nhập thấp (dưới 5 triệu/tháng), trung bình (trên 5 triệu-18 triệu/tháng) và cao (trên 18triệu/tháng) Kết quả phân tích SEM cho thấy sự khác biệt giữa ba mô hình có ý nghĩa thống kê (χ2[32]= 49,301; p = 0,026) Như vậy, mối quan hệ giữa hiểu biết chủ quan với việc nhận thức cơ hội và thách thức của AEC phụ thuộc vào thu nhập của đáp viên Với những người thu nhập thấp hơn thì hiểu biết chủ quan có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến việc nhận ra cơ hội từ AEC (βthấp=1,033;

βtrung bình=0,992; βcao=0,505; p<0,05) Giả thuyết 5c được chấp nhận Tương tự, ở nhóm người này, việc nắm bắt những thách thức từ AEC cũng

Trang 9

Bảng 3 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Ước lượng Bootstrap Chênh lệch

Hiểu biết khách quan → Hiểu biết chủ quan 0,079 0,039 0,078 0,036 -0,001 0,001

Hiểu biết chủ quan → Cảm nhận cơ hội 0,948 0,104 0,969 0,111 0,021 0,003

Hiểu biết chủ quan → Cảm nhận thách thức 1,041 0,095 1,054 0,105 0,013 0,003

(m: ước lượng; se: sai lệch chuẩn)

chịu tác động mạnh mẽ từ nhận thức thực tế,

trong khi ở các nhóm thu nhập cao hơn, ảnh

hưởng này bị yếu đi do có thể họ nhìn thấy

những thách thức trong thực tiễn (βthấp=1,072;

βtrung bình=0,746; βcao=1,013; p<0,05) Giả thuyết

4c được chấp nhận

Giới trẻ Việt Nam tự đánh giá mình am hiểu về

cộng đồng kinh tế ASEAN (giá trị trung bình của

các hạng mục đều cao hơn 3,5 trên thang điểm 5)

Kết quả này cho thấy, họ đã nắm bắt được mục

tiêu của AEC là xây dựng một thị trường thống

nhất; một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao

và hướng đến phát triển kinh tế cân bằng Do đó,

có thể nói AEC ít nhiều đã đi vào tiềm thức của

giới trẻ, AEC không phải là một khái niệm xa lạ

với phần lớn người trẻ ở Việt Nam

Ngược lại, mức độ hiểu biết thực sự về cộng

đồng kinh tế ASEAN của giới trẻ còn thấp Giá

trị trung bình chỉ đạt 2,4 trên thang điểm 5 Chỉ

có 7 đáp viên trong tổng số 214 người trả lời

đúng toàn bộ các câu hỏi kiến thức liên quan

đến AEC Có đến 1

4 đáp viên chỉ trả lời đúng không quá một câu hỏi so với đáp án Những

con số này cho thấy Hiểu biết khách quan (hiểu

biết thực) có sự chênh lệch đáng kể so với Hiểu

biết chủ quan (tự đánh giá) Như vậy, có thể nói

giới trẻ Việt Nam rất tự tin vào hiểu biết chủ

quan của mình nhưng lại chưa hiểu biết thực sự

về AEC

Nghiên cứu này cũng khẳng định mối quan hệ

tích cực giữa biến Hiểu biết khách quan và Hiểu

biết chủ quan của con người Nói cách khác, một

cá nhân có kiến thức thực tiễn càng cao thì sự

tự tin của họ về hiểu biết của mình là càng lớn

Điều này đã được chứng minh trong nhiều nghiên

cứu trước đây, theo đó, hiểu biết chủ quan và

hiểu biết khách quan có tương quan mạnh với nhau (hệ số tương quan từ 0,30 đến 0,60) [8], [15], [16]

Có thể nói giới trẻ Việt Nam khá lạc quan về triển vọng tham gia vào AEC Họ đã nhận ra rất nhiều cơ hội mà khu vực kinh tế này tạo ra, chẳng hạn việc du học và du lịch sẽ trở nên dễ dàng hơn; thu nhập sẽ tăng lên nhờ chính sách thúc đẩy cạnh tranh giữa các nền kinh tế của AEC; hàng hóa nhập khẩu từ các nước thành viên sẽ

có giá rẻ hơn Nhận thức về cơ hội phụ thuộc lớn vào hiểu biết chủ quan của giới trẻ Theo kết quả nghiên cứu, một cá nhân càng tự tin vào hiểu biết của mình thì sẽ sớm nhận ra những thách thức mà mình phải đối mặt để có sự chuẩn bị tốt hơn trong tương lai Tuy nhiên, có vẻ như giới trẻ Việt Nam không coi các trở ngại mà AEC tạo ra là quá lớn Đối với họ dường như chỉ có những thách thức liên quan trực tiếp đến cuộc sống cá nhân như tìm việc làm, an ninh, an toàn

là quan trọng Việc hội nhập ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề duy trì bản sắc văn hóa dân tộc không được giới trẻ bận tâm nhiều lắm Kết luận này tương tự như một nghiên cứu từng được thực hiện tại Thái Lan để khảo sát ý kiến của sinh viên

về khó khăn do AEC mang lại [4] Điều này có thể được lí giải bởi đặc điểm của thế hệ trẻ hiện nay: họ là những người cởi mở, sống thiên về chủ nghĩa cá nhân hơn so với thế hệ cha ông

họ - những người sinh ra và lớn lên trong thời kì đóng cửa kinh tế nên chịu ảnh hưởng lớn của chủ nghĩa tập thể và các quan điểm Nho giáo [17] Tuy vậy, chúng ta vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu nhận thức về khó khăn mà AEC mang lại vì trong một khảo sát gần đây tại Malaysia, có đến 85% đáp viên cho rằng vấn đề chủ nghĩa dân tộc cần phải được coi trọng hơn các vấn đề của khu vực [10] Liên quan đến mối quan hệ giữa biến

Trang 10

Cảm nhận thách thức và biến Hiểu biết chủ quan

của giới trẻ, nghiên cứu này đã khẳng định mối

quan hệ đồng thuận giữa hai biến Nói cách khác,

một cá nhân nghĩ rằng mình hiểu biết về AEC

thì sẽ nhìn thấy nhiều hơn những thách thức mà

AEC mang lại Kết luận này cũng phù hợp với

kết quả mà Benny đã khẳng định trong nghiên

cứu năm 2015

Giới trẻ là lực lượng lao động trẻ năng động

và sáng tạo, là nguồn lực quan trọng của quốc

gia Tuy nhiên, những hiểu biết và nhận thức của

giới trẻ Việt Nam về các vấn đề của đất nước,

cụ thể là hội nhập vào AEC chưa cao Điều đó

ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của đất

nước Để nâng cao hiểu biết của giới trẻ về vấn

đề này, Nhà nước cần tích cực tuyên truyền thông

qua các phương tiện truyền thông đại chúng như

ti vi, báo đài, mạng xã hội Theo kết quả khảo

sát, có 125 người biết đến AEC thông qua ti vi,

báo đài chiếm tỉ trọng 58,4%; kế đến là mạng xã

hội với 71 người, chiếm tỉ lệ 33,1% Ngoài ra,

Chính phủ cần phối hợp với các cơ quan trong

nước và nước ngoài có liên quan để tổ chức các

hội thảo phổ biến kiến thức về AEC hoặc tổ chức

các cuộc thi tìm hiểu về hội nhập kinh tế quốc

tế nói chung

Đối với các cơ sở giáo dục, cần đưa nội dung

kiến thức về AEC vào nội dung chương trình đào

tạo Tùy vào cấp bậc, thời gian và hình thức đào

tạo mà việc lồng ghép nội dung này được tiến

hành cho phù hợp Hiện nay, hầu như các kiến

thức về AEC mới chỉ được đưa vào giảng dạy

tại các trường đại học khối kinh tế, trong khi các

khối ngành khác hầu như chưa được tiếp cận

Khi các cam kết của Việt Nam trong AEC có

hiệu lực, doanh nghiệp chính là đối tượng đầu

tiên nhận biết rõ nhất những thay đổi diễn ra

trong nền kinh tế Vì thế, các nhà sử dụng lao

động cần nhanh chóng đưa nội dung AEC vào

các chương trình huấn luyện – đào tạo nội bộ

Đáp viên tham gia vào nghiên cứu này hầu hết

đều đang làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan

Kết quả của nghiên cứu cho thấy giới trẻ có hiểu

biết rất thấp về AEC Những nhận thức của họ

về các cơ hội, thách thức đều chưa đầy đủ và

vì thế thành công của họ cũng bị giới hạn Khi

các hiệp định trong AEC chính thức có hiệu lực,

nó sẽ tạo ra nhiều thay đổi về mặt thủ tục, thuế

suất cũng như tiêu chuẩn đối với hàng hóa, dịch

vụ hay quy định về quy tắc xuất xứ Nếu nguồn nhân lực không nắm rõ những quy định này sẽ cản trở doanh nghiệp trong việc nắm bắt các cơ hội cũng như đối phó với thách thức để tối đa hóa lợi nhuận và các lợi ích khác của doanh nghiệp

Vì vậy, việc trang bị kiến thức về AEC và những thay đổi về chính sách, thủ tục hay quy định khi Việt Nam hội nhập cho đội ngũ nhân viên trong

đó có bộ phận giới trẻ là vô cùng cần thiết Doanh nghiệp cần tổ chức các khóa huấn luyện, đào tạo định kì và đưa vào nội dung về AEC có liên quan đến doanh nghiệp hoặc bản thân người lao động Bên cạnh đó, cần có những hoạt động khuyến khích nhân viên tự học hỏi, tìm hiểu kiến thức

về AEC hoặc tham gia các cuộc thi về AEC Khi các cam kết trong AEC được thực hiện, không những hàng hóa, dịch vụ mà cả đầu tư, lao động có kĩ năng đều có thể bị ảnh hưởng nên

dù doanh nghiệp không hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, dịch vụ liên quan đến nước ngoài thì những tác động của AEC đến doanh nghiệp, điển hình là sự gia tăng mức độ cạnh tranh không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc gia, mà còn mở rộng

ra cả khu vực ASEAN Vì vậy, những tác động của AEC không loại trừ bất cứ doanh nghiệp nào

Để tận dụng cơ hội và đương đầu với những thách thức, việc tuyển dụng lao động chất lượng cao là một trong những sự chuẩn bị cần thiết nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam Do đó, doanh nghiệp cần đưa việc kiểm tra kiến thức về AEC vào trong chương trình tuyển dụng như là một yêu cầu bắt buộc đối với ứng viên Nhờ đó, nhà tuyển dụng có thể sàng lọc được những ứng viên tốt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trung tâm WTO và hội nhập (Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam – VCCI) Bản tin Doanh

nghiệp và Tự do hóa thương mại; 2016 4+5 [2] Tổng cục Thống kê Báo cáo điều tra lao động việc

làm năm 2016 Nhà Xuất bản Thống kê; 2017 12-13 [3] Benny G Is the ASEAN Economic Community Relevant To Gen Y Professionals? A Comparative Study on Attitudes and Participation of Young Pro-fessionals in Malaysia, Indonesia, and Vietnam on ASEAN Economic Integration. Asian Journal for Public Opinion Research 2015;3(1):40–62.

[4] Barbin R, Nicholls P Embracing an ASEAN eco-nomic community: Are Thai students ready for the

transition? AU-GSB e-JOURNAL 2013 6;.

Ngày đăng: 04/02/2020, 01:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w